Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh
Phap Gioi Cua Thanh Van
Phap Gioi Cua Thanh Van
Phap Gioi Cua Thanh Van Phap Gioi Cua Thanh Van
Trở về
Phap Gioi Cua Thanh Van
Pháp giới của Thanh Văn
 
Phap Gioi Cua Thanh Van
Phap Gioi Cua Thanh Van
 


Pháp giới của Thanh Văn

Thanh Văn chúng
Tăng
B
ất luận nữ nam
Tứ đế quán hành
Ẩn thật thị quyền.

Tạm dịch :

Thanh văn chúng
Tăng
nam hay nữ
Tu pháp bốn Ðế
Ẩn thật hiển quyền.

Bây giờ giảng về pháp giới của bậc Thanh Văn. Thanh Văn gồm có sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả Thanh Văn. Trong đó lại phân ra sơ quả hướng nghĩa là chưa thật sự chứng được sơ quả, cho nên gọi là sơ quả hướng, sơ quả ; nhị quả hướng, nhị quả ; tam quả hướng, tam quả; tứ quả hướng, tứ quả.

Bậc Thanh Văn còn gọi là A La Hán cũng gọi là La Hán. Bậc La Hán có thần thông phi hành biến hóa. Người chứng quả thì không tùy tiện nói : "Tôi đã chứng quả, tôi là A La Hán !" Không được như thế ! Vì Thánh nhân chứng quả thì đi chân chẳng đụng đất, bạn thấy có vẻ họ đi trên đất, nhưng họ đi ở trong hư không, chân không dính đất cũng không dính bụi, thậm chí đi trong bùn, chân cũng sạch sẽ. Ví như Hòa Thượng Pháp Thuận (sơ Tổ của tông Hoa Nghiêm), đi trong bùn mà giày không dính bùn, đó là một sự biểu hiện của bậc Thánh nhân đã chứng quả. Chẳng phải nói :"Tôi đã chứng quả", thì chứng được quả.

Sơ quả Thanh Văn thì đã đoạn được kiến hoặc, nhị quả thì đã đoạn được tư hoặc, tam quả thì đã đoạn được trần sa hoặc, tứ quả cũng đã đoạn được trần sa hoặc, phá được chút vô minh, chứ chưa hoàn toàn phá sạch. Vô minh phá sạch thì thành Phật. Bậc Ðẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa phá, cho nên không thể thành Phật. Bậc Tứ Quả Thánh nhân tu pháp gì ? Các Ngài tu pháp này ai ai cũng đều biết, chúng ta ai ai cũng đã nghe qua, đó là khổ, tập, diệt, đạo Tứ Diệu Ðế.

Ðức Phật sau khi thành đạo, đến vườn Lộc Uyển độ năm vị Tỳ Kheo Kiều Trần Như. Năm vị Tỳ Kheo này vốn là bà con của Phật, song le theo Phật xuất gia tu đạo. Khi Ðức Phật tu khổ hạnh tại núi Tuyết mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, thân hình chỉ còn da bọc xương. Lúc đó năm vị Tỳ Kheo bỏ đi hết ba vị vì chịu khổ hết nổi, còn hai vị. Sau đó, một ngày nọ có vị tín nữ dâng cúng bát sữa cho Ðức Phật, Ðức Phật thọ nhận, hai vị kia cũng bỏ đi. Hai vị này không phải vì chịu khổ không được mà họ nói Phật không còn khả năng tu hành, họ nói :"Tu hành phải tu khổ hạnh, phải hành khổ hạnh, bây giờ Ngài đã uống sữa, không chịu khổ được nữa !" Năm vị này đều bỏ đi đến vườn Lộc Uyển.

Sau khi Ðức Phật thành đạo, trước hết Ngài nói "Kinh Hoa Nghiêm", chẳng có người nghe hiểu đặng, sau đó "vì thật thí quyền", Ðức Phật nói "Kinh A Hàm". Phải nói cho ai nghe ? Phật quán sát thì biết được cơ duyên :"A ! Năm vị cùng tu với ta trước kia, trước hết nên đi đến độ họ. Tại sao trước hết phải đi đến độ họ ? Vì trong quá khứ ta đã phát nguyện : Nếu ta thành Phật thì trước hết đi độ người đã hủy báng ta, giết ta, người đối xử với ta tệ nhất, ta phải đi độ họ trước". Ai đối với Phật thậm tệ nhất ? Không biết các bạn đã đọc Kinh Kim Cang chưa ? Trong Kinh Kim Cang có nói về vua Ca Lợi. Khi Ðức Phật tại nhân địa thì làm tiên ông nhẫn nhục, bị vua Ca Lợi chặt chân tay. Tại sao vua Ca Lợi chặt chân tay ? Vì trong quá khứ tiền thân của Ðức Phật làm tiên ông tu đạo, tu khổ hạnh ở trong rừng. Một ngày nọ vua Ca Lợi mang theo cung nga, thể nữ, phi tần đi vào rừng săn bắn. Song le những người nữ này thích đi chơi, còn vua thì đi săn. Những người nữ này bèn thấy một vị hình thù quái dị không biết là gì ? Vì lông mày thì dài ba tấc, tóc thì dài hai thước, chưa khi nào tắm rửa, bụi bặm bám dày đầy người, quần áo bụi bặm dính đầy khoảng một tấc. Những người nữ thấy như vậy không nhận ra bèn nói :"Ðây là yêu quái ! Ðây là yêu quái ! Chúng ta hãy đi mau lên !"

Lão tu hành bèn nói :"Các vị không cần đi, ta chẳng phải là yêu quái". Những người nữ nghe nói thì biết vị này biết nói, do đó có người gan dạ hỏi :"Ông ở đây làm gì ?" Ông ta đáp :"Tôi ở đây tu hành", họ hỏi :"Thế nào gọi là tu hành ?" Ông ta đáp :"Tôi tu hành vì muốn thành Phật", rồi ông ta thuyết pháp cho họ nghe. Nói xong rồi, những người này rất có hảo cảm với ông ta, nói :"Ông tu ở đây quá khổ, vậy ông ăn gì để sống ?" Ông ta đáp :"Tôi ăn rễ cây, lá cây, trái cây, có gì ăn nấy, tôi cũng chẳng đi vào xóm khất thực".

Những người nữ này quây quần vị tiên nhân lâu cũng chẳng còn sợ gì nữa, càng muốn gần gũi ông ta để hỏi đạo. Lúc đó vua Ca Lợi đi săn về, bèn đi khắp nơi tìm thê thiếp phi tần thì thấy họ quây quần chung quanh tiên ông, bèn sinh tâm đố kỵ, nóng giận nói :"Ông ở đây làm gì ?" 

- Ông ta đáp :"Tôi ở đây tu đạo".
- Vua hỏi :"Ông tu đạo gì ?"
- Ông ta đáp :"Tôi tu hạnh nhẫn nhục"
- Vua hỏi :"Nhẫn nhục là gì ?"
- Ông ta đáp :"Tức là ai mắng tôi, đánh tôi, tôi cũng không sinh tâm sân hận".
- Vua nói :"Ðược rồi để ta thử xem thật hay giả". Bèn lấy bảo kiếm trên mình ra chặt cánh tay tiên ông, hỏi :"Tôi đã chặt đứt cánh tay nhà ngươi, nhà ngươi có sân hận chăng ?"
- Ông ta đáp :"Tôi không sân hận"
- Vua nói :"Ðược rồi để ta chặt tiếp một tay nữa thử nhà ngươi có sân hận chăng ?" Nói xong bèn chặt tiếp tay thứ hai, bèn hỏi :"Nhà ngươi có sân hận chăng ?"
- Ông ta đáp :"Cũng chẳng sân hận".
- Vua nói :"Nhà ngươi có bản lãnh lắm, song le ta sẽ chặt nốt hai chân, xem thử nhà ngươi có sân hận chăng ?" Do đó vua chặt đứt hai chân của tiên ông, lại hỏi :"Nhà ngươi có sân hận chăng ?"

- Tiên ông đáp :"Ta cũng không sân hận".

- Vua nói :"Nhà ngươi nói láo, lấy gì để chứng minh là sự thật ?"

- Tiên ông nói :"Nếu thật sự ta không sân hận thì tứ chi của ta sẽ hoàn phục lại như cũ, còn nếu ta sân hận thì sẽ không hoàn phục lại". Vừa nói xong thì tứ chi của tiên ông hoàn phục lại như cũ. Lúc đó Thiên Long Bát Bộ Hộ Pháp thiện thần thấy vua độc ác quá đỗi, nóng giận bèn mưa đá xuống chỗ nhà vua. Tiên ông thấy vậy bèn nói :"Xin các vị Hộ Pháp thiện thần đừng mưa đá hại nhà vua". Do đó vua thoát nạn bèn sinh tâm sám hối, đến trước vị tiên ông cầu sám hối. Tiên ông bèn phát nguyện rằng :"Nếu tương lai ta thành Phật thì trước hết ta sẽ độ nhà vua". Do đó, sau khi Phật thành đạo thì đi đến vườn Lộc Uyển để độ Kiều Trần Như. Vị tiên ông đó là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca, còn vua Ca Lợi là tiền thân của Kiều Trần Như. Vì nguyện lực của Phật trong quá khứ cho nên phải độ họ, dù họ đối xử với Ngài thậm tệ nhất.

Chúng ta nghe chuyện này rồi thì bất cứ ai đối với chúng ta không tốt, chúng ta phải phát nguyện khi thành Phật thì độ họ, chứ đừng nói : "Ngươi đối với ta không tốt, đợi khi ta thành Phật thì nhất định sẽ làm cho ngươi rơi vào địa ngục!" Ðừng phát nguyện như thế.

Phật đến vườn Lộc Uyển vì năm vị Tỳ Kheo mà chuyển bánh xe pháp Tứ Diệu Ðế. Lần thứ nhất nói :"Ðây là khổ, tính bức bách ; đây là tập, tính chiêu cảm ; đây là đạo, tính có thể tu ; đây là diệt, tính có thể chứng".

Lần thứ hai nói :"Ðây là khổ, ta đã biết ; đây là tập, ta đã đoạn ; đây là đạo, ta đã tu ; đây là diệt, ta đã chứng.

Lần thứ ba Phật nói :"Ðây là khổ, ông nên biết; đây là tập, ông nên đoạn ; đây là đạo, ông nên tu ; đây là diệt, ông nên chứng".

Sau khi Ðức Phật nói ba lần, pháp Tứ Diệu Ðế, bèn nói với Kiều Trần Như :"Hiện tại các ông bị khách trần quấy nhiễu nên không đắc được giải thoát". Kiều Trần Như khi nghe hai chữ "khách trần" thì lập tức khai ngộ. Khách là gì ? Khách tức chẳng phải là chủ nhân. Trần là gì ? Tức là bụi bặm, không thanh tịnh. Tự tính của chúng ta tức là chủ nhân, tự tính vốn thanh tịnh. Cho nên lúc đó ông ta khai ngộ. Khai ngộ thì gọi "giải bốn tế", tức là minh bạch nguồn gốc đạo lý, trở thành "giải không đệ nhất".

Pháp Tứ Diệu Ðế vô cùng vô tận. Hôm nay chúng ta giảng "Thanh Văn chúng Tăng", "Dù nam hay nữ". Nói về chứng quả thì bất cứ nam hay nữ đều có thể chứng quả, chứng quả tức là Thanh Văn, tức là A La Hán. Vínhư mẹ của Pháp Sư Cưu Ma La Thập chứng được tam quả A
La Hán.

"Tu
pháp Tứ Ðế". Tức là tu pháp Tứ Diệu Ðế : Khổ, tập, diệt, đạo ; biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Phải tu pháp môn Tứ Diệu Ðế này.

"Ẩn thật hiển quyền". Bạn thấy những vị này là Thanh Văn, nhưng kỳ thật là đại Bồ Tát phương tiện thị hiện làm Thanh Văn, cho nên đây gọi là "ẩn thật". Ẩn tức là ẩn náu công đức thật sự của các Ngài. Hiển quyền : Hiển tức là hiển hiện, quyền tức là quyền xảo phương tiện. Bạn đừng cho rằng các Ngài là Thanh Văn, là tiểu thừa mà xem thường, đừng như thế. Các Ngài đều là Bồ Tát thị hiện ; không phải hoàn toàn đều là Bồ Tát, nhưng ở trong đó nhất định có các đại Bồ Tát đó hiện thân tiểu thừa để tiếp dẫn người tiểu thừa hướng về đại thừa, cho nên gọi là "ẩn thật hiển quyền". Ðó là pháp giới của bậc Thanh Văn.

 

 

Trở về
Phap Gioi Cua Thanh Van