|
|
|
|
|
|
|
Đông y cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh hoạn như: lục dâm (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa) thất tình (hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh)... nghĩa là do quá lao, quá phóng dật, ẩm thực thất thường, đủ loại đủ kiểu...Nếu như chính khí của bệnh nhân đủ, tà khí chưa xâm, chỉ cần nghỉ ngơi hoặc trị bằng thuốc men cũng sẽ nhanh chóng hồi phục, còn nếu tà khí đã chiếm thế thượng phong, chính khí không đủ, ắt phải nhờ nhiều cách để trợ chính khử tà. Trong đó đối với chứng bệnh thuộc nghiệp báo chiêu cảm, thì có thể phối hợp trị liệu y học cùng với sám hối.
Đức vua Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh năm Mậu Ngọ - 1258 vào ngày 11 tháng 11 âm lịch. Ngài là con trưởng của Đức Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Sử sách ghi lại rằng khi Ngài mới sinh ra đã có dung mạo của bậc thánh nhân, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, sắc thái như vàng ròng, nên được vua cha đặt cho tên hiệu là Phật Kim. Lớn lên, năm 16 tuổi, Ngài được lập làm Hoàng Thái tử vào năm Giáp Tuất - 1274. Trong cùng năm đó, Ngài đã kết duyên cùng công chúa Quyên Thanh, là trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương.
Hiểu Mỹ là một nữ doanh nghiệp xinh đẹp, giàu sang, thành đạt. Nàng cùng chồng là An Vĩ sống hạnh phúc với hai con: một trai một gái, chúng thông minh, ngoan ngoãn. Ai cũng khen đây là đôi uyên ương lý tưởng. Nhưng chính nhan sắc, thành công và sự duyên dáng của Hiểu Mỹ đã khiến nàng phạm phải sai lầm, tự phá tan mái ấm của mình. Trong một lần công tác, Hiểu Mỹ gặp và quen anh chàng họ Điền, hai bên “nhất kiến chung tình” (vừa nhìn đã yêu), cảm thấy vô cùng ý hợp tâm đầu, luyến ái ngày càng sâu đậm. Họ đắm chìm trong lưới tình, thương nhau mê mệt, yêu đến chết đi sống lại.
Đức Phật dạy, trong cuộc đời này có hai ơn nghĩa cao quý mà không gì có thể đền đáp cho trọn vẹn, đó chính là công ơn của cha mẹ. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, có hai hạng người mà các thầy không thể trả ơn cho đầy đủ, đó là cha và mẹ. Dù cho có người vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi như vậy suốt trăm năm. Dù cho có hầu hạ, cung phụng đầy đủ thức ăn, y phục, giường nệm, thuốc men, thậm chí cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện trên vai, cũng vẫn chưa gọi là trả xong ơn nghĩa của cha mẹ.”
Buổi sáng trong sân chùa, sương còn vương trên lá bồ đề. Chú tiểu An Lạc quét sân, gương mặt trầm tư. Nhà sư Giác Minh chậm rãi bước đến. Giác Minh: An Lạc, con quét sân mà tâm đang ở đâu vậy? An Lạc: Bạch sư phụ, tay con quét sân nhưng tâm lại nghĩ đến chuyện khác. Con thấy mình hay rối trí, phân biệt đúng sai, hơn thua, mà càng nghĩ lại càng mệt. Có phải đó là si mê không ạ? Giác Minh: Con đã biết tự hỏi như vậy, tức là đã có ánh sáng tỉnh thức rồi. Si mê không chỉ là không biết, mà là không biết mình đang không biết.
Tại một ngôi làng nhỏ gần kinh thành Vương Xá, không khí thật vui tươi, rộn rã. Mọi người đang nhộn nhịp chuẩn bị một lễ hội rực rỡ sắc màu. Đèn lồng giăng khắp lối xen cùng những dải hoa tươi. Hương lúa từ các cánh đồng quyện với hương thơm của ngũ cốc cùng những loại bánh truyền thống tỏa ra thơm nức. Trẻ con nô đùa, ríu rít khoe nhau những chiếc vòng hoa tươi thắm được đan kết khéo léo, cầu kỳ. Sáng hôm đó, Tôn giả Pilindavaccha khất thực đến ngôi làng. Ngài bước đến từng nhà, những người gia chủ ân cần sớt thức ăn vào bát trong niềm quý kính. Bỗng có tiếng khóc nấc của một bé gái từ xa vọng lại.
Ngài Bạc Câu La được Đức Phật ấn chứng là vị đệ nhất vô bệnh trong hàng Thánh tăng. Cha của Ngài là một vị quan tế tự, nên ngay từ khi còn thơ ấu đã được cha mẹ làm lễ cầu phúc, cầu trường thọ cho Ngài bằng nghi thức tắm dưới dòng sông. Trong một lần tắm sông, do sơ suất của người vú nuôi, Ngài bị tuột tay rơi xuống nước và bị một con cá lớn nuốt trọn vào bụng. Theo lẽ thường, đây là cái chết chắc chắn. Nhưng đối với một bậc có đại phước, có duyên chứng quả A-la-hán trong đời này, thì không thể nhập Niết Bàn trước khi chứng Thánh quả.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Người chân chính tham thiền thì cũng là chân chính niệm Phật. Người chân chính niệm Phật, cũng là người chân chính tham thiền.
- Người có tánh nóng, dễ giận dữ, thì từ sáng tới tối đầu như bốc khói, nộ khí xung thiên. Ðó cũng là biểu hiện của sự thiếu đức hạnh.
- Thiện và ác hai con đường: Tu thì cứ tu, mà tạo tội thì vẫn tạo tội. Nếu là đạo thì hãy tiến bước, nếu không phải là đạo thì hãy lùi lại. Hãy chọn nẻo lành mà theo. Trong nồi lửa bỏng mà rèn luyện thành thân kim cang bất hoại.
- Nếu bạn muốn lập công, lập đức, lập ngôn thì bạn phải dựa vào lục độ. Lục độ tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ bát nhã.
- Thế giới này là thế giới của tiền giấy: Chỉ vì tham tờ giấy lộn này mà người ta quên lãng mất nhân nghĩa đạo đức rồi. Cho rằng đồng tiền là thật: bạn nghĩ như vậy có ngu si chăng?
- Tọa thiền tức là thu hồi cái tâm hướng ngoại, tán loạn. Tức là tâm này chạy đi đâu mất, bây giờ mình tìm nó về lại.
- Người tu nào chú trọng đến thần thông, người ấy là kẻ không có tri thức.
- Nếu người ta không sinh phiền não thì họ sẽ thu hoạch được bảo bối.
- Bạn phải canh chừng lửa vô minh trong lòng. Lửa vô minh này cũng như con cọp khi nổi giận, cũng chính là gốc tội nghiệp của đời trước.
- Ðề phòng lửa vô minh bên trong: trong không có lửa thì ngoài không lửa gì đốt được bạn.
- Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gọi là sáu tên giặc. Không biết xử dụng sáu căn thì chúng biến thành sáu tên giặc. Biết xử dụng chúng thì chúng biến thành hộ pháp.
- Có người nuôi gà nuôi chó. Khi gà, chó chạy ra ngoài, họ liền chạy đuổi theo bắt về. Song khi tâm chạy ra ngoài, chẳng ai chạy theo bắt về lại! Ðó là xả gốc theo ngọn: quên mất gốc (là tâm), thu nhặt ngọn (là phiền não).
- Tôi truyền thọ một yếu quyết cho các bạn. Yếu quyết gì? Khi gặp chuyện cấp bách nguy nan, bạn hãy bình tỉnh, không nên khẩn trương cấp bách, phải gác chuyện sống chết ra ngoài, nhất tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát. Nhất định chuyện nguy hiểm sẽ biến thành bình an, thoát khỏi nguy nan.
- Người chân tu thì chuyên tâm niệm đức Quan Âm cũng sẽ đắc tam muội. Trong cảnh tam muội, lạnh tới đâu cũng chẳng thấy lạnh, nóng cách mấy cũng không thấy nóng, đói khát cở nào cũng không cảm thấy đói khát. Nó kỳ diệu không thể diễn tả được.
- Ðừng sinh phiền não, chớ nghi ngờ,
Kiểm soát chính mình, đừng đụng người.
Nhận mình sai nhiều, bớt cải lý,
An nhiên, thanh tịnh, trí huệ sinh.
Minh tâm: chẳng ngại việc gì khó,
Thấy tánh: đâu còn có lo buồn,
Phật quang nào phải không chiếu sáng,
Lo, nghĩ, hận, oán khiến nhiễu nhương.
Nếu bạn y theo lý bài thơ trên tu hành, thì hẳn sẽ có cảm ứng đặc biệt.
- Niệm danh hiệu đức Quan Âm, bạn nên học lòng đại từ đại bi, đại hỷ đại xả, đại nguyện đại lực của ngài Quan Âm.
- Nếu muốn tự tại thì bạn phải quét sạch ba tâm và bốn tướng. Ba tâm là tâm suy nghĩ về hiện tại, quá khứ và vị lai. Ba tâm thái này đều không có thực tại, nên gọi là bất khả đắc, không thể nắm giữ.
- Vì sao ở địa vị thánh nhân thì mới có tự tại? Vì thánh nhân không có bốn tướng: không có quan niệm về cái tôi, quan niệm về người, quan niệm về chúng sinh, quan niệm về thọ mạng. Do đó họ đạt tới sự tự tại.
- Vì sao mình mê muội, chẳng giác ngộ? Vì bị trúng độc tham sân si quá sức sâu đậm. Do vậy chẳng thể giác ngộ.
- Thời đại chánh pháp: Ai cũng tu. Thời đại mạt Pháp: Không ai tu. Nếu bây giờ ai cũng tu thì thời mạt Pháp sẽ biến thành thời chánh pháp.
- Ðịnh luật nhân quả là: khởi hoặc (tâm khởi vọng tưởng, si mê), đưa đến tạo nghiệp (thân ngữ ý phát ra hành động, lời nói, suy tư), kết cuộc là thọ báo (thân ngữ ý nhận chịu hậu quả của việc đã làm).
- Từ sống tới chết: một đời người. Thân này như cái bọt trôi nổi đó đây trên mặt nước. Thật là hư vọng, không chân thật. Biến mất trong tích tắc. Vậy thì cần gì phải lưu luyến? Cần gì phải chấp trước.
- Không cầu đạo, không sao thoát đường mê. Muốn thoát lối mê, phải tu đạo.
- Ðời người vô thường, sự nghiệp vô thường, phú quý cũng vô thường. Rằng: Vui là nhân của khổ. Tất cả sự vui sướng khoái lạc trên đời đều ẩn chứa trong nó sự đau khổ.
- Vì sao mình không thể chuyên tâm niệm đức Quan Âm? Vì mình không thể thâu nhiếp sáu căn: tai mắt mũi lưỡi thân ý; không kềm chế sáu tên giặc này. Vì vậy chúng mặc tình gây sóng gió, khiến vọng tưởng nổi dậy. Lúc ấy tâm chẳng thể yên lặng mà cứ hướng ngoại, tự tìm chuyện rắc rối.
- Muốn giác ngộ thì phải ngồi thiền. Ngồi thiền là không mê muội: đó là con đường thoát khỏi tam giới.
- Vì người xuất gia xem nhẹ tánh trọng yếu của việc tụng kinh, (không nhấn mạnh vào việc tu trì chứng ngộ, chỉ chú trọng vào việc cúng tế, lễ lạc) nên thế hệ sau không bằng thế hệ trước. Họ nuôi dưỡng thói quen ham ăn, lười biếng. Thật là điều bất hạnh cho đạo Phật. Nếu không kịp thời sửa đổi quan niệm sai lầm thì tiền đồ của Phật giáo khó có thể tưởng tượng sẽ ra sao.
- Bạn nên vì lợi ích toàn thế giới mà niệm danh hiệu đức Quan Âm. Hãy khiến thế giới tiêu trừ tai nạn. Do vậy làm mọi chuyện, chớ riêng nghĩ cá nhân mình.
- Trong trời đất, mọi sự sinh sinh bất tức, hóa hóa vô cùng (sinh hóa, biến đổi không ngừng) là bởi do có Phật tánh. Chẳng có Phật tánh thì cái gì cũng phải hủy diệt. (Mọi sự tương đối đều chỉ tồn tại trong phạm vi của tánh tuyệt đối).
- Người ta từ đâu tới? Có người nói từ khỉ tiến hóa thành. Song khỉ từ đâu ra? Nếu khỉ có thể biến thành người, sao giờ bây giờ chúng chẳng tiếp tục biến thành người? Lạ thật!
- Có người một ngày không nói thị phi thì giống như một ngày chẳng thể sống. Một ngày không nói dối thì một ngày bức rứt, như không ăn cơm vậy. Sáng tối chỉ sống nhờ nói thị phi, nói dối trá. Bạn thấy có kỳ lạ chăng? Thật khiến mình khó hiểu.
- Hiện tại có người tu thích ở đơn độc nơi một ngôi nhà (tịnh xá). Vì sao? Vì họ không giữ giới luật. Khi chẳng có ai nhìn ngó, thì có phạm giới cũng chẳng ai hay biết. Họ tha hồ muốn gì làm nấy, không ai quản thúc, tự do tự tại, không ràng không buộc. Thế rồi họ chiêu tập người tại gia tới làm lễ này, hội nọ: kỳ thật đó chính là nhờ Phật (đội lốt tu hành) để kiếm cơm ăn, áo mặc.
- Công đức trì tụng chú Ðại Bi không những đẩy lùi nạn trộm cướp, còn làm tiêu trừ trăm bịnh, dẹp tan ma nạn. Do đó mình nên thành tâm tụng trì.
- Kinh Hoa Nghiêm ở đâu thì Phật ở đó. Nó như vầng mây sáng lạn tỏa chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.
- Người quân tử có cái học cải tạo vận mạng. Mạng do mình tạo, phước cầu nơi mình. Khi không làm việc ác thì tự nhiên mạng xấu sẽ biến thành tốt. Không làm lành, chỉ làm ác thì mạng tốt cũng thành xấu. Vận mạng thì biến động, không phải cột trói người ta cứng nhắc, chẳng còn tự do. Ðừng nên mê tín (về vận mạng đã an bài, sắp sẵn).
- Sư phụ chỉ dắt dẫn người đệ tử tới cửa đạo. Tu hay không là ở mỗi người.
- Pháp môn Tịnh độ thích hợp với căn cơ của mọi người. Dùng ít sức mà thành công lớn. Ðúng là pháp môn khế hợp với chân lý, hợp mọi căn cơ.
- Buddha nghe như là chữ Bất đại, không to lớn! Phật thì không lớn hơn ai cũng không nhỏ hơn ai. Nên gọi bất đại chính là Phật!
- Người tu đạo không được tranh chấp. Vì như người lên điện Phật sau thì đứng sau, người tới trước thì đứng trước. Người tới trễ không nên nói: Tôi có đắp y nên tôi phải đứng trước người chẳng đắp y. Tôi phải đẩy y đứng xuống dưới. Ðó gọi là tranh.
- Làm cha mẹ là trả nợ. Làm con cái là đòi nợ. Chúng sinh không hiểu điều đó nên cho rằng (quan hệ cha mẹ con cái) là vui lắm.
- Ðẻ ra thì hai tay trắng. Chết đi thì cũng trắng hai tay. Ðem gì theo cũng không được. Ở lại cũng không xong.
- Do Thái giáo cũng là Phật giáo, Thiên Chúa Giáo cũng là Phật giáo. Tên đổi nhưng ý không đổi. Tôi không xem tôn giáo là tôn giáo. Tôi nhận định rằng tôn giáo chỉ là do nhân tính biến hóa. Do vậy tôi gặp tôn giáo nào thì tôi thuộc về tôn giáo ấy. Không có tôn giáo gì của riêng tôi.
- Chữ bận rộn trong tiếng Hoa thì gồm có chữ Tâm và chữ Vong (mất) ghép lại. Nó cũng giống như chữ quên mất, cũng gồm có chữ Tâm và chữ Vong ghép lại. Do vậy bận rộn đến độ mất tiêu luôn cái tâm, bận rộn tới mức quên bẵng cả chân tâm!
- Phải làm sao tu? Trước hết, phải đoạn trừ dục vọng, cắt đứt tình ái. Không nên cách xa người ta quá, cũng không nên quá gần gũi. Quá xa cách thì sẽ mất đi duyên lành với người. Quá gần gũi thì bị cảm tình chi phối lý trí, chẳng thể tu hành đặng.
- Tu thì không được đeo mặt nạ, giả đò, đóng kịch để người ta xem. Tu thì dựa hoàn toàn vào công phu chính mình. Có thế mới có kết quả. Hễ có một phần thành tâm thì được một phần cảm ứng. Mọi thứ đều nhờ vào lòng thành khẩn, chân thật không hư dối. Ðừng nên tự lừa mình và lừa người.
- Muốn cứu đời, bạn chẳng thể dùng bom nguyên tử, bom khinh khí hay tia laser, vì chúng vốn là thứ hủy diệt thế giới. Chỉ có dùng bát đức: hiếu, để, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sĩ. Tám thứ đạo đức này là linh đan cứu vớt linh hồn chúng sinh, cũng là thuốc mầu cứu sống sinh mạng người ta hữu hiệu nhất.
- Bịnh tuyệt chứng nan y của thế giới là: Sự phá sản của giáo dục.
- Có người nói: Tôi là Phật thiệt! A! Phật thiệt là bạn, vậy Phật giả là ai? Cũng như tổng thống, chẳng bao giờ ngài nói: Tôi là tổng thống thiệt! Nói vậy thì ai là tổng thống giả? Từ đây mà suy ra: hễ nói cái gì thiệt, thì hẳn việc đó có vấn đề.
- Hãy làm mọi việc thiện: tức là bạn hãy tu hạnh thanh tịnh. Không thanh tịnh thì không phải là thiện. Thanh tịnh tức là thiện.
- Bạn cho rằng ăn chay thì ăn trứng cũng được? Cũng được! Chờ tới khi bạn đầu thai làm gà rồi khi đó bạn sẽ hiểu (phận làm gà) chính do ăn trứng gà mà ra.
- Nếu bạn chẳng thể đoạn trừ ái dục thì dù bạn xuất gia tám vạn đại kiếp, bạn cũng chỉ phí thời giờ, tạo tội nghiệp ở trong đạo Phật.
- Cây không gốc thì sẽ khô héo. Người không gốc thì phải chết.
- Bất luận bịnh thống gì cũng do oan nghiệp, chủ nợ tới đòi nợ. Bịnh là sao? Bịnh cũng là cách thuyết pháp, giúp người ta biết thân thể này là khổ, sinh lão bịnh tử là khổ. Lúc nào nó cũng có thể tìm đến bạn. Nó sẽ đánh điện tín, điện thoại hay gởi thư tới nhắn nhủ bạn (dưới hình thức là bịnh khổ). Chẳng những bạn có thể bị bịnh, mai này sẽ phải chết.
- Có sinh ra thì phải già đi, sinh bịnh rồi phải chết. Quá trình ấy dạy mình phải biết cái khổ của chuỗi sinh lão bịnh tử, để mình chuẩn bị làm sao giải thoát, không bị khí số ràng buộc. Do đó vô luận là có bịnh gì, bạn cũng phải phát tâm bồ đề, sinh lòng giác ngộ, xem mọi thứ là vô thường, đau khổ, chân không và vô ngã. Làm được vậy thì bịnh cũng là chuyện tốt.
- Người biết Phật pháp thì không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Những thứ như ngũ nhãn, lục thông, v.v... đều là thứ thừa thải, tu mà cầu những thứ đó thì cũng tựa như leo cây để tìm cá.
- Các bạn nếu học thuộc lòng nhuần nhuyễn Kinh Lăng Nghiêm, thì nhất định sẽ khai phát đại trí huệ, hoạch được biện tài vô ngại.
- Trong thời Mạt Pháp, người bạch y công nhiên nhận đồ cúng dường, hoằng dương Phật pháp. Bạch y tức là người tại gia. Họ công nhiên tụng đám cho người, làm lễ siêu độ, giảng quẻ xăm. Họ lợi dụng Phật giáo để kiếm cơm ăn, áo mặc.
- Quỷ thì chỉ ăn cái tánh của đồ cúng; chúng chẳng cần tiền bạc, thực phẩm. Nếu có tiền, bạn nên làm chút chuyện công đức rồi hồi hướng cho các vong hồn. Nếu bạn mua những thứ xe hơi giấy, tiền giấy, tàu bay giấy, nhà giấy.... để đốt cúng thì thật là mê muội tới cực điểm.
- Ðốt tiền giấy thành tro rồi thì bạn làm sao biết nó có hiệu quả gì chớ? Nếu nói đốt rồi vẫn có hiệu quả (tức là người chết có thể dùng được tiền do bạn đốt), thế thì người tây phương chẳng được bà con đốt tiền giấy cho họ, phải chăng họ đều trở thành những con quỷ nghèo mạt? Phải chăng: Tây phương không quỷ nghèo, đông phương không thần giàu!
- Trọn đời, tôi không muốn đi tụng đám, phóng diệm khẩu, làm pháp hội Thủy Lục, là bởi vì tôi chẳng có đức hạnh. Ðạo không đủ để cảm hóa người, đức không đủ để dạy dỗ ai. Tự mình chưa siêu độ được mình thì làm sao siêu độ được vong hồn. Ðó là lý do tôi không có gan làm những chuyện ấy.
- Pháp môn niệm Phật: người già vì năm tháng chẳng là bao, nên tốt nhất là niệm Phật. Người trẻ, vì đời còn dài nên cũng thích hợp để tu niệm Phật. Người trung niên, sau khi đã kinh nghiệm rõ ràng mọi chuyện trên đời rồi, cũng nên niệm Phật. Kẻ bịnh, không biết bao giờ sẽ chết, cần gấp niệm Phật. Lúc không bịnh, lợi dụng khi thân thể còn khỏe, tốt nhất là niệm Phật.
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|