Thông tin
Các bài mới
Vào thời tại thế, Phật đã dạy rất kỹ về phép quán vô ngã và vô ngã sở, tức là “không có gì là ta, không có gì của ta”. Đạo lý này tưởng như đơn giản nhưng mấy nghìn năm qua rất hiếm người có thể áp dụng vào nội tâm mình. Mà nếu ai thực hành được, người đó đã bắt đầu đặt chân vào dòng thánh, tuy không phải bậc thánh cao tột nhưng đã mang phẩm chất thánh giữa thế gian này. Điều lạ lùng là khi ta sống bình thản giữa đời, không thấy gì là ta, là của ta thì cả vũ trụ này lại là của mình.
Một buổi chiều, Đức Thế Tôn đang hội họp cùng chư Tăng trong một khu rừng gần kinh thành Xá Vệ (Savatthi) thì có hai vị Tỳ kheo đi tới. Các vị bước đi vô cùng đĩnh đạc và oai nghi. Dưới bóng của những tàng cây, ánh nắng in xuống con đường đất những vệt dài lấp lánh. Từ xa, Đức Thế Tôn trông thấy hình ảnh tuyệt đẹp của hai vị, Người liền bảo với chư Tăng: - Này các Tỳ kheo, các thầy có trông thấy hai vị đang đi tới không? Thưa có, bạch Thế Tôn. - Này các Tỳ kheo, hai vị Tỳ kheo ấy có đại thần thông, có đại uy lực. Ngay trong hiện tại, hai vị ấy đã sống một cuộc đời phạm hạnh và chứng đắc quả vị giải thoát tối thượng.
Ông Cấp Cô Độc - một cư sĩ thuần thành đã chứng Thánh quả Tu đà hoàn, trong gia đình ông cũng có một số người chứng được Thánh quả, trong đó có người con gái tên là Culla Subhadda. Theo lời hứa hôn từ nhỏ, khi đến tuổi trưởng thành cô được gả cho một trưởng giả là tín đồ của phái Ni Kiền Tử, cách nhà họ ở 120 dặm. Từ khi về làm dâu, Culla Subhadda luôn chu toàn mọi bổn phận đối với gia đình chồng. Một hôm, cha chồng của cô mời các đạo sĩ Ni Kiền Tử đến nhà để cúng dường. 
Năm Tôn giả đi đến một thị trấn nhỏ, trông thấy một người đồ tể, cầm dao dắt một con dê đi đến lò mổ. - Này thí chủ kia, ta muốn anh tha mạng cho con dê này, thì đổi lại ta cho anh cái gì được? - Thưa Sa môn, nếu Ngài trả tôi hai đồng tiền bạc đúng như tiền lãi của việc giết thịt con dê này thì tôi sẽ đồng ý tha mạng con dê này. - Này thí chủ, nếu ta đem cho anh cái lợi gấp trăm nghìn lần thì sao? - Thưa Ngài, nếu Ngài cho tôi cái lợi hơn cả trăm ngàn lần thì tôi sẽ bỏ nghề đồ tể để chuyển sang nghề khác không có sát sinh.
Nơi tinh xá Nigrodha vừa xây, hương sen đầu thu quyện vào từng làn gió lan ra trong không khí. Hàng ngày, chư Tăng sẽ ghé qua hồ lấy nước tưới cây sau khi đã quét tước sạch sẽ các lối đi. Những ngày gần đây, dưới một tán cây đại thụ ven hồ thường xuyên xuất hiện dáng hình một vị Tỳ kheo đi lại bên gốc cây mỗi lúc xế chiều. Đó chính là Tôn giả Nan Đà mới xuất gia không lâu. Tôn giả Nan Đà trầm ngâm suy tư với cuộc sống hiện tại.Vì trước đó không lâu, Ngài là một vị vua với trăm nghìn công việc phải lo cho đất nước, nay Ngài xuất gia trở thành Tỳ kheo thì không biết việc triều chính sẽ ra sao.
Khi Thế Tôn đến đất nước Kiều Tát La để giáo hóa, cha mẹ Ngài là một trong những tín chủ thuần thành. Một ngày vào năm hai người đã mãn tuổi, quán sát thấy nhân duyên đã đến, Thế Tôn một mình qua tư gia ông bà trưởng giả để hóa độ. Hôm đó, gia trang dường như ấm áp hơn mọi ngày. Khóm hoa đầu hè đã hé nở đưa hương thơm ngát. Gia nhân xếp hàng dọc hai lối vào, cung kính đón Thế Tôn. Hai ông bà trưởng giả Assalayana chống gậy đón Thế Tôn vào đại sảnh, tòa ngồi bằng gỗ được chuẩn bị sẵn sàng. Thế Tôn ngự trên tòa uy nghiêm mà đầy từ ái. 
Tôi từng gặp một vị toàn thân nổi đầy ghẻ lở ung mủ, ruồi nhặng bu quanh, khắp người xông hơi thối nồng nặc… khiến ai cũng lánh xa không dám tới gần, ngay cả bệnh viện cũng không nhận chữa trị. Tôi hỏi: Có phải anh từng làm thầy lang châm cứu? Anh gật đầu đáp: – Phải. Tôi hỏi: – Anh đã trị lành cho bao nhiêu người? – Không biết! Tôi chữa mấy đợt, thấy họ không đến nữa thì chắc… lành rồi.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Bà mẹ đẻ ra bom nguyên tử, bom khinh khí, tia laser là ai? Chính là tham sân si. Do vậy nếu mình diệt trừ tham sân si thì bom nguyên tử sẽ không nổ, bom khinh khí cũng chẳng bạo phát, mà tia laser cũng chẳng còn dùng được.
- Tu hành thì hàng ngày phải giữ trạng thái quân bằng như cái cân vậy. Làm thế nào để quân bằng? Tức là lúc nào cũng giữ thái độ điềm đạm, yên tĩnh, chẳng một chút gợn sóng xao động trong tự tánh. Ðây chính là phiền não tức bồ đề, sinh tử là Niết bàn.
- Người tu đạo thì càng tu càng giảm thiểu, giảm tới chỗ chẳng còn gì cả. Chớ nên theo thói người đời, cái gì cũng muốn cho nhiều.
- Muốn dứt sinh tử thì phải đem hai chữ sinh tử mà treo nơi lông mày. Mở mắt nhìn thì thấy vấn đề sinh tử, mà nhắm mắt nhìn cũng thấy vấn đề sinh tử. Lúc nào nơi nào cũng dụng công tu hành thì mới cắt đứt được sinh tử.
- Việc đầu tiên người học Phật phải làm là trừ bỏ tánh nóng giận. Tánh nóng giận không ngừng thì học bao nhiêu Phật pháp cũng chỉ là trồng nhân A Tu La, sau này quả báo là làm A Tu La.
- Kẻ tu hành chẳng nên khi thấy kẻ khác thì làm ra vẻ trơ trơ chẳng thèm chú ý tới họ. Làm vậy là thiếu lễ độ. Người xuất gia và tại gia đều phải lịch sự trong cách đối xử. Thiếu lễ mạo tức là chẳng có văn hoá. Mình phải văn chất bân bân (khí chất nho nhã, ôn hòa, lịch sự), chẳng nên thô lỗ, man dã.
- Nếu bạn chẳng khởi vọng tưởng dù chỉ trong một thoáng chốc, khiến tâm thanh tịnh thì trãi qua một thời gian lâu, tâm của bạn sẽ trở nên trạm nhiên, thường yên lặng.
- Ðạo đức thì cũng như mặt trời mặt trăng, hay trời đất vậy. Nó cũng là tánh mạng của một người. Không đức thì người ấy cũng giống như chẳng có tánh mạng, chẳng có nhật nguyệt thiên địa vậy.
- Tham thiền hay niệm Phật đều tốt cả. Chỉ cần mình chân thật tu hành thì có thể vượt qua được cửa sinh tử. Ðến khi lâm chung sẽ chẳng có thống khổ, lòng không tham luyến, như nhập thiền định, tươi cười mà vãng sinh.
- Người tu đạo cần phải làm việc vô sự: Nghĩa là tích công lũy đức nhưng chẳng được chấp trước vào nó.
- Lúc các bạn quy y Tam Bảo, tức là quy y Phật, Pháp và Tăng, nhưng phải quy y thêm giới. Sau khi quy y rồi, bạn phải tin sâu vào Tam Bảo. Trong phạm vi giáo lý của Phật bạn phải làm những việc cho có ý nghĩa. Không nên vì lòng tham lam mà tin tưởng vào Phật pháp.
- Khi học Phật pháp, việc chủ yếu là phải có con mắt thấy được chân lý (trạch pháp nhãn). Nếu bạn cứ tin chuyện này, tin chuyện kia, (mà không quan sát để thấy chân tướng việc ấy) thì kết quả là bạn sẽ không làm thành chuyện gì cả.
- Thanh tịnh tức là không tham tiền, cũng chẳng cần sắc.
- Khi có ai dạy thứ pháp làm phát tài thì bạn hãy quan sát xem y đã phát tài chưa? Nếu y có tiền, hẳn là do bạn cho y vì bạn muốn học pháp phát tài. Cũng như mua stock, bạn phải mua bao nhiêu cổ phần thì mới hy vọng có lời. Bạn phải trả tiền, cúng dường cho anh kia trước, có thể là một ngàn, mười ngàn, trăm ngàn, khiến anh ta do vậy mà có đầy tiền. Rồi y nói nào là phóng hào quang màu đỏ, màu vàng, màu đen, màu tím...? Ðó toàn là chuyện lừa bịp. Chính bởi vì tôi không biết làm sao truyền pháp phát tài nên tôi phải nói toạc ra cái bí mật của pháp này.
- Thiên tai không có nghĩa là tai ương của trời vì trời không có tai ương mà chính là loài người chúng ta chịu tai ương. Nhân họa là việc mình tự làm tự thọ.
- Khi tu hành không nên đi tìm đạo ở Nam Sơn, Bắc Hải hoặc ở Tây Thiên, ở Ðông Ðộ. Ðạo thì ở ngay nơi thân mình, do vậy chẳng nên hướng ngoại tìm cầu. Song le con người thì lúc nào cũng thích tìm kiếm nơi chốn xa xăm, cao siêu.
- Tánh tình người ta thì ích kỷ lắm. Biết rằng chuyện này không đúng, nhưng có lợi cho mình thì cứ cắm đầu mà làm. Do đó:
- Khuyến quân vi thiện, viết vô tiền: hữu dã vô.
Họa đáo lâm đầu, dụng vạn thiên: vô dã hữu.
Nhược yếu dữ quân đàm thiện sự: khứ dã mang.
Nhất triều mệnh tận, tán hoàng tuyền: mang dã khứ.
Nghĩa là:
- Khuyên ngài làm lành, (ngài nói rằng:) chẳng có tiền: có tiền cũng nói không.
Họa rớt xuống đầu, dùng trăm ngàn: không tiền cũng phải có.
Nếu muốn cùng ngài bàn việc lành: đi cũng mắc bận.
Ngày kia mạng hết xuống hoàng tuyền: bận rộn cũng phải đi.
- Người học Phật nên trước tiên học chịu bị thua thiệt, không tham chiếm tiện nghi. Chuyện gì cũng phải biết buông xả. Có buông bỏ mới có chứng đắc.
- Mọi pháp đều là Phật pháp, đều không thể nắm bắt. Nhưng ta cũng có thể nói rằng mọi pháp đều chẳng phải là Phật pháp. Nói tóm: Khi học Phật, ta cần buông xả tất cả mọi chấp trước. Quét sạch hết mọi pháp, rời bỏ mọi hình tướng. Cái gì có hình tướng, đều là hư vọng, chẳng thể nắm bắt. Nếu thấy mọi sắc tướng là không có tướng, thì tức là thấy đặng Như Lai.
- Ðiều tối kỵ của người học Phật là có chấp trước. Khi chưa học Phật thì chẳng có mấy chấp trước; sau khi học Phật rồi lại có nhiều chấp trước hơn! Thật ra vạn sự vạn vật lúc nào cũng diễn bày chân lý. Nếu bạn giác ngộ thì tự nhiên quán thông mọi sự. Nếu bạn chẳng giác ngộ thì càng chấp trước thì càng lún sâu, càng mê muội.
- Mỗi người tín đồ Phật giáo đều phải gánh trách nhiệm làm Phật giáo hưng thạnh.
- Nghiệp lực mạnh nhất trong thế giới là nghiệp sát sinh. Quả báo của nghiệp sát sinh thì nặng hơn các nghiệp khác. Chúng sinh cứ hỗ tương tàn sát lẫn nhau, hỗ tương báo thù nhau, thật là việc tối bi thảm trong thế giới này vậy.
- Người tu phải luyện công phu nhẫn nhục. Nhẫn lạnh, nhẫn nóng, nhẫn gió, nhẫn mưa, nhịn đói, nhịn khát, chịu chửi, chịu đánh. Mình nên học tinh thần của Bồ Tát Thường Bất Khinh: Bất luận ai đối với tôi không tốt, tôi cũng chẳng sinh lòng giận dữ, tôi chỉ đem tâm thành đối xử với họ, khiến họ tự nhiên cảm hóa, biến vũ khí thành lụa là.
- Vì sao cần tu hành? Vì ta ngu si, chỉ làm toàn chuyện điên đảo, chịu khổ trong luân hồi, không được tự tại.
- Mệnh vận của nhân sinh là do nghiệp lực chiêu cảm mà ra. Chúng ta không nên để bẩm chất, thói quen dắt dẫn mình, cũng đừng để dục vọng, vật chất làm mê mờ. Mình cần phải sáng tạo vận mệnh, lèo lái vận mạng. Muốn sửa đổi vận mạng thì phải làm cho nhiều việc công đức. Lúc ấy, khi bạn gặp nạn tự nhiên điều lành sẽ tới. Ðiều dữ sẽ biến thành điều kiết tường. Rằng: Hãy làm việc tốt, chớ hỏi sẽ được kết quả gì trong tương lai.
- Ai ai cũng biết nhẫn nhục thì đưa mình tới bờ giải thoát. Nhưng khi gặp phải cảnh giới (chuyện nghịch với lòng mình) thì không thể nhẫn nhịn nổi. Lửa vô minh cao ba thước chỉ trong thoáng chốc đốt sạch hết mọi công đức tích lũy trong bao năm tháng.
- Hễ quán sát mà được tự tại thì thành Bồ Tát. Quán sát mà không được tự tại thì là phàm phu.
- Phải đối xử tốt với mọi người: Dùng lòng từ bi hỉ xả mà đối đãi họ. Với ai mình cũng phải có lòng từ bi. Dù cho y là kẻ xấu xa nhất đi nữa, mình cũng phải tỏ lòng từ bi, để cảm hóa họ. Nếu lần này cảm hóa chẳng đặng thì chờ lần sau sẽ cảm hóa nữa. Ðời này chẳng thể cảm hóa thì mình phát nguyện đời sau nhất định mình sẽ cảm hóa được y, khiến y sửa ác, làm lành. trong Kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát vì muốn độ một chúng sinh mà đi theo kẻ ấy không biết mấy đại kiếp. Bất kể là gian nan khốn khổ, nghịch cảnh gì ngài cũng chẳng thối tâm, một lòng mong muốn cảm hóa kẻ kia mà thôi.
- Muốn thành Phật mình nhất định phải đoạn trừ dục vọng , cắt đứt ái tình, thanh tâm, ít dục thì mới khai đại trí huệ được.
- Tu hành là tu cái gì? Chính là tu cái tâm. Tâm phải ra sao? Phải chuyên nhất. Rằng: Ðược M"T, vạn sự đều xong. Phải chuyên nhất ý chí tu hành. Ý niệm chuyên nhất rồi thì trí huệ mới khai mở. Ý niệm không chuyên nhất thì tâm sẽ hướng ngoại truy đuổi.
- Người tu đạo cần phải đừng nổi nóng. Ai chẳng có tánh nóng nảy thì hợp nhất với đạo, hợp nhất với pháp. Khi bạn không nóng nảy thì lòng sân hận sẽ chẳng có; khi lòng sân hận chẳng có thì bạn chẳng còn ngu si nữa. Vì sao mình ngu si? Bởi vì lòng sân hận của mình quá lớn. Một khi nổi nóng thì chuyện gì cũng không sợ cả: chẳng sợ trời, chẳng sợ đất. Lúc ấy mình bài bác lý nhân quả, điên đảo chuyện trắng đen, làm việc gì cũng không hợp với giới luật, không hợp với pháp luật, không hợp với nhân tình đạo lý.
- Người học Phật chúng ta trước hết siêng năng tu giới định huệ, trừ diệt tham sân si. Ðây là việc mỗi người cá nhân mình phải thực hành, áp dụng nơi thể xác này, thật sự dụng công. Không phải rằng mình kêu kẻ khác siêng năng tu giới định huệ, trừ diệt tham sân si, mà là phải tự mình chân thật tu hành.
- Không nên có tâm cuồng vọng, dã tâm, ngu si vọng tưởng nhiều như vậy. Cứ suy nghĩ loạn xạ là việc chẳng giúp ích gì trong chuyện tu hành.
- Muốn hiểu thấu cái mê muội của chính mình thì phải biết phản văn, văn tự tánh - xoay cái nghe lại để lắng nghe tự tánh.
- Tu thì phải biết từ tâm hạ khí. Từ tâm nghĩa là đối với ai mình cũng hiền từ, từ bi. Hạ khí nghĩa là không có cống cao ngã mạn, không có chấp trước vào bốn tướng. Phá trừ hết tất cả chấp trước đó thì mới tu Bồ Tát đạo được.
- Bạn hãy đọc kinh Không Nổi Nóng, đọc kinh Không Chửi Bới, đọc kinh Không Sân Giận. Ðọc được ba bộ kinh này rồi thì rất mau sẽ thành Phật.
- Người chân chính tu đạo thì: Cử động hành vi tự kiểm thúc, đi đứng nằm ngồi chẳng rời nhà. Ðừng nên làm cái gương, chỉ chuyên môn phản chiếu ảnh người ta (hiện lên trên gương) nhưng không tự phản chiếu chính mình.
- Người tu tập thiền định thì nơi nào lúc nào cũng phải tu tập thiền định. Nghĩa là cần phải thu nhiếp thân tâm, không buông lung, không tán loạn.
- Người xuất gia là gương tốt cho kẻ tại gia. Nếu bạn không làm gương tốt thì người tại gia sẽ không tin tưởng. Lúc ấy sức ảnh hưởng của bạn sẽ chẳng còn. Do đó người xuất gia cần phải làm gương tốt cho người tại gia.
- Người tu chúng ta nên ăn đồ đạm bạc, chẳng có mùi vị gì cả. Vậy thì mới phá được chấp trước, trừ được tật xấu của mình.
- Nếu mình không hao tán tinh khí thần thì có hay không có ăn uống không thành vấn đề nữa. Chính bởi vì mình ngày ngày cứ xoay chuyển trong cảnh giới hữu lậu nên mới cần phải ăn uống.
- Bạn nên thâm nhập tu trì một pháp môn: Người tọa thiền thì phải chuyên tâm trì chí học thiền tông. Người học giáo thì phải chuyên tâm trì chí học Giáo tông. Người học luật thì phải chuyên môn học Luật tông. Người tu trì chú thì phải chuyên tâm học Mật tông. Người tu niệm phật thì cũng phải chuyên tâm niệm Phật. Khi niệm tới chỗ nhất tâm không tạp loạn thì tuyệt đối bạn sẽ vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bạn chớ nên vừa học thiền, lại muốn học giáo, lại muốn học luật, lại muốn học mật, lại muốn học tịnh. Khi bạn tham nhiều món thì khó mà nhai cho kỹ. Mình phải chuyên nhất tâm chí, dụng công tu hành thì mới thành tựu. Giống như bạn chỉ có một cái miệng, ngậm đầy mồm thức ăn, thì không làm sao nhai cho nát được. Miệng quá đầy, muốn ăn cơm cũng nuốt không vô. Học Phật cũng vậy: Bạn phải từ từ từng bước từng bước tuần tự, chầm chậm tiến lên. Ðừng ham mau ham lẹ. Rằng: Dục tốc, bất đạt - Muốn mau thì chẳng tới nơi.
- Chân chính nhẫn nại là sao? Ðối với những người không như bạn, địa vị của họ thấp hơn bạn, trí huệ của họ cũng kém bạn, học vấn cũng chẳng bằng: Thứ gì họ cũng thua bạn. Khi họ chẳng lịch sự, nhã nhặn tử tế đối xử với bạn, bạn có thể nhẫn nại thì đó chính là sự nhẫn nhục chân chính. Sự nhẫn nhục này không phải là sự nhẫn nhục đối với kẻ địa vị cao hơn bạn. Ðối với kẻ địa vị cao hơn: Bạn gọi là bị khuất phục, không phải nhẫn nại.
- Nổi nóng là ác. Không nổi nóng là thiện.
- Người học Phật không nên hướng ngoại: Ðông tây nam bắc, chỗ nào cũng đi đây đi đó, lãng phí hết thời gian.
- Vì sao người ta có bịnh? Vì lúc bình thường không chú trọng đến sức khỏe. Người tại gia nên bớt làm việc dâm dục, tăng cường việc thể dục, vận động. Ðó là căn bản của sức khỏe. Nếu bạn cứ suốt ngày hành dâm, không giữ phép tắc quy củ thì thân thể vĩnh viễn không thể khỏe khoắn được.
- Vật cực tất phản, bỉ cực thái lai - việc phát triển tới cực điểm thì sẽ quay ngược hướng, bế tắc đến cực điểm thì sẽ hanh thông. Phản giả: Ðạo chi động, nhược giả đạo chi dụng - Có việc tương phản thì (đạo) mới có chuyển động, cái hữu dụng (của đạo) nằm trong sự mềm yếu. Nếu bạn có thể nhìn bề trái của mọi chuyện để tìm điều hay điều tốt thì mọi sự sẽ OK, không có gì rắc rối.
- Lúc ăn uống, bất luận là đồ chín đồ sượng, đồ ngon đồ dở, không nên chấp trước vào mùi vị của nó.
- Người tu đạo ở nơi nào cũng phải biết tiết kiệm giữ phước, không nên lãng phí tiền bạc của cải. Làm như vậy lâu ngày chày tháng thì sẽ tích lũy đức hạnh cho chính mình. Do hạt giống tiết kiệm như vậy, sẽ sinh ra cây lá sum sê, quả trái cũng tràn đầy. Nếu không phân bón, tưới nước chăm sóc thì cây lá rất dễ khô héo rồi chết mất. Do đó người tu đạo phải chú trọng đến đức hạnh, là giới điều căn bản đệ nhất.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.