|
|
|
|
|
|
|
Các tỳ kheo ôm bát lần lượt đi khỏi tinh xá để khất thực. Các tỳ kheo đi trên đường phố, chợt có tiếng la thất thanh ở góc phố. Các tỳ kheo đứng lại nhìn, người dân thì chạy lại xem. Một người cư sĩ đến quỳ chắp tay thưa: - Thưa các Tôn giả, ở góc phố kia có ông chủ lò giết heo vừa qua đời ạ. Tôn giả Sariputta hỏi: - Nhưng này gia chủ, qua đời là việc ai cũng phải đến, nhưng lý do gì mà mọi người kêu la thất thanh vậy?
Thời gian trôi qua, Tôn giả La Hầu La đã trở thành một vị Tỳ kheo đĩnh đạc và đầy uy đức. Một buổi sáng, bầu trời xanh trong vời vợi, Ngài ôm bình bát đi khất thực bên cạnh Thế Tôn. Đức Bổn Sư quán sát nhân duyên của người đệ tử. Người thấy trong đôi mắt sâu thẳm dưới vầng trán sáng ngời trí tuệ kia, sự giác ngộ đang đợi chờ phút giây bừng tỏ. Vì vậy, Đức Thế Tôn liền hướng về Tôn giả, thuyết lên một bài kệ: Này La Hầu La, con hãy lắng lòng nghe lời ta dạy. Thân này là vô thường, tâm này là vô thường.
Ở vùng lân cận thành Ba La Nại (Benares), có một thanh niên tên là Nandiya, con trai của một gia chủ cực kỳ giàu có. Nandiya sớm mộ đạo, chứng ngộ Sơ quả, tâm rất tốt và thân tướng cũng sang đẹp. Khi Nandiya đến tuổi trưởng thành, cha mẹ muốn anh phải cưới vợ nhưng anh thì chỉ muốn tu hành. Mẹ Nandiya đã cất công tìm kiếm và cuối cùng tìm được một người con gái tên là Revati mà bà cho là phù hợp với Nandiya. Bà đã mách nước cho cô: Này Revati, đứa con Nandiya của ta rất kính mộ Tam Bảo, vì vậy từ đây con cũng hãy cúng dường chư Tăng, siêng làm công đức. Nếu làm được như thế, nó sẽ đồng ý cưới con.
“Khu vườn này sẽ đẹp một đêm trăng”. Chàng ngẫu hứng đọc 4 câu thơ mà tôi chỉ nhớ một câu cuối cùng này. Chàng cầm ly rượu đang uống dở, bước đi chậm trong vườn ngang qua tôi còn thấy mùi nước hoa đàn ông hay mùi đàn ông lạ lẫm mà tôi chưa từng gặp. Đêm ấy, một đêm đầu mùa hè không trăng sao nhưng là một đêm dịu mát với không khí muà Xuân còn lưu luyến ở lại, khí hậu càng về khuya càng có chút hơi lạnh lẫn với mùi hoa Ngọc Lan, cây hoa cuối vườn. Chàng đâu biết rằng đối với tôi dù đêm không trăng hay đêm có trăng đều đẹp và nên thơ khi có chàng hiện diện.
Vị vua duy nhất của triều Nguyễn chỉ lấy một vợ, không lập thứ phi. Tuy lấy một người vợ Pháp, ông vẫn mặc áo dài, khăn đóng như khi ở quê nhà và vẫn dạy con nhớ về quê hương bản xứ. Ông đã từng nói với các con mình: “Các con chưa thể là một người Việt tốt, thì hãy là một người Pháp tốt”. Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch (sinh năm 1872). Ông là con thứ 5 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Thanh Nhàn. Ông là em ruột của vua Kiến Phúc và vua Đồng Khánh. Gia đình Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai có lẽ là một trong những gia đình vương gia đặc biệt nhất trong lịch sử khi có tới 3 người con đã từng lên ngôi vua.
Thế là Công chúa Sundari Nanda đã từ bỏ thân phận vương giả giàu sang để cạo tóc xuất gia, khoác lên mình tấm y nâu sòng, sống một cuộc đời khất thực đầy vất vả, rong ruổi trên mọi nẻo đường. Nhưng một thời gian sau, Ngài nhận ra rằng mình không thể thích nghi với đời sống đầy giới luật, đạm bạc giản đơn trong Ni chúng. Ngài thường hoài niệm về cuộc sống xa hoa, có kẻ hầu người hạ, được thỏa thích làm theo ý mình như trước kia. Thế Tôn rất quan tâm đến vị Tỳ kheo Ni trẻ tuổi, đã từng là em gái trước kia của Người. Người thường giảng về lý vô thường, về sự giả tạm của thân xác cho đại chúng nhưng mục đích chính là để nhắc nhở Tôn giả Sundari.
Hai nhân vật chính trong tích truyện Pháp Cú này là bạn thân nhưng theo hai đạo khác nhau. Một lần, những người của phái Ni Kiền Tử đã nói với Garahadinna: - Này Garahadinna, chú có người bạn thân cũng khá giả, sao không bảo qua đây quy y mà lại theo Sa môn Gotama làm gì? Bên đó rất tầm thường, không cao siêu bằng chúng ta. Những Sa môn của họ đâu dám lõa thể, chỉ chúng ta mới dám lõa thể. Khi nào gặp người bạn kia, chú phải bảo hắn theo đạo của chúng ta.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Ở đời, nếu bạn không vất bỏ được cái giả thì không thể thành tựu được cái chân thật. Không xả bỏ đặng cái chết (vọng tưởng, chấp trước), thì không đổi được cái sống (trí huệ, tự tại). Nếu muốn mình không chết, thì phải làm người chết giả. Nghĩa là nếu bạn tuy sống nhưng xem mình hệt như người chết (không còn tranh giành, tham lam...) thì bạn sẽ chân chính hiểu rõ:
- Tất cả pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng;
như sương, như điện chớp,
phải quan sát như vậy.
- Tham sân si của mình rất khó dập tắt, khó diệt trừ, do đó mình càng phải dập tắt và diệt trừ. Nếu trừ nó quá dễ thì mình đâu có phải mất sức phí lực.
- Bố thí thì phải bố thí Tam Bảo. Không phải là để Tam bảo bố thí cho mình.
- Vọng tưởng là cục đá buộc chân người tu hành, chướng ngại sự thành tựu đạo nghiệp.
- Tiền bạc, bất quá chỉ là một tờ giấy, trên đó in hình ảnh màu mè. Thế mà tờ giấy màu ấy làm mê hoặc người ta khiến họ quên mất nhân nghĩa đạo đức. Ðó cũng chỉ vì tham mấy tấm giấy này cho rằng nó là chân thật. Bạn ngu si hay không?
- Sân là nóng giận, cũng là phiền não. Khi có lòng sân giận thì bạn thấy ai cũng không tốt. Nếu có một người làm lỗi với tôi thì tôi nổi giận đối với tất cả mọi người. Thật là giống như xem phiền não là cơm. Ăn một chén rồi lại ăn tiếp một chén. Ăn xong lại ăn tiếp chén nữa. Vĩnh viễn không bao giờ ăn thấy no.
- Si là tâm ngu dốt, vọng tưởng, ngu si. Không được lấy mà cứ lấy, đó là ngu si. Không được ăn mà cứ ăn, đó là ngu si. Không được có mà cứ muốn có, đó là ngu si. Không được làm mà cứ làm, đó là ngu si.
- Người có đẹp lộng lẫy đến đâu, cũng chỉ là bọc da thối. Người xấu xí tới đâu cũng chỉ là bọc da thối. Bên ngoài tuy không giống nhau nhưng bên trong thì một thứ, chẳng gì đẹp đẽ hay xấu xí. Nếu càng tìm bên trong càng thấy toàn là máu, mủ, đờm, dãi, nhớp nhúa. Xét đến năm tạng, thì toàn là phân và nước tiểu. Bên ngoài đẹp đẽ, bên trong thối không thể chịu được, có gì khác đâu? Cần gì mình phải chấp trước vào cái thân này chớ! Người ngu si thì chú ý vẻ đẹp bên ngoài, chấp trước vào cái tướng đẹp đẽ mỹ miều, rồi ghét bỏ cái tướng xấu xí. Ðây chẳng phải là ngu si sao?
- Người tu phải nhớ đừng ham ăn uống đồ ngon, ham hưởng thụ. Lúc nào mình cũng phải lấy đạo hạnh của đức Thích Ca Mâu Ni làm gương để tự khuyến khích, tự cảnh giác. Bất kỳ lúc nào cũng không được buông lung.
- Nam hay nữ, khi tu thì phải dứt sạch thất tình. Thất tình là gì? Là vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, dục vọng. Bị bảy thứ này khống chế thì định lực của bạn sẽ tiêu tan mất. Khi bị gió của cảnh thổi đến, tâm bạn dao động, không thể tự chủ, như nhà không chủ, lúc ấy thì là điên đảo.
- Ở trên đời nếu mình làm gì không đúng thì cũng giống như sống trong địa ngục vậy. Làm chuyện gì không đúng đạo lý, có lòng ích kỷ tự lợi thì là ở tại địa ngục rồi. Cứ vui việc này việc kia, giận chuyện này chuyện nọ, cứ dùng tình cảm giải quyết vấn đề, thì cũng như là ở trong địa ngục vậy.
- Thế nào là điên đảo? Tức là cho khổ là sướng, cho đúng là sai, trắng đen chẳng phân, chân giả không rõ, cho vô thường là hằng thường.
- Người tu phải thành thật với nhau, khuyến khích lẫn nhau, dạy nhau tiến tới chỗ quang minh. Không thể đồng lõa làm xấu, che chở chuyện xấu, hoặc giả nịnh hót người, vuốt ve người, làm tôi tớ cho người.
- Biển khổ mênh mông, quay đầu là bến. Chớ nên tại trong biển khổ chìm xuống nổi lên trôi dạt mãi mãi. Thế thì chẳng có ngày giải thoát xuất ly.
- Thân của mình ô uế vô cùng. Nhưng người ta cứ xem nó như bảo bối, đeo vào nó nào là hột xoàn, châu báu lại xức dầu thơm, đánh son phấn. Chẳng phải đó là đem bảo vật, hương hoa tới trang điểm cái cầu tiêu sao?
- Người tu đạo nhất định phải trừ sạch những vọng tưởng về thất tình, lục dục. Quét cho thật sạch sẽ.
- Tại sao nói không thể nắm bắt được ba tâm? Không thể nắm bắt được tâm quá khứ; không thể nắm bắt được tâm hiện tại; không thể nắm bắt được tâm vị lai. Quá khứ thì đã qua rồi, qua rồi thì còn gì nữa đâu. Không có quá khứ thì ta nghĩ về nó cũng không thể có. Hiện tại thì không dừng trụ, niệm niệm trôi qua, niệm niệm di động, niệm niệm chẳng hề ngừng nghỉ đi qua, do đó tâm hiện tại cũng chẳng thể nắm bắt. Vị lai thì chưa tới, thì mình làm được gì nó? Do đó tâm vị lai cũng không thể nắm bắt. Nếu bạn có thể không nắm bắt ba tâm, chẳng sinh bốn tướng chấp trước (vào cái ngã, vào người, vào chúng sinh, vào thọ mạng), thì có thể hợp nhất với tự tánh, viên mãn bồ đề, về chỗ không sở đắc.
- Khi tu hành, bạn có tư tưởng ý niệm gì thì sẽ có thứ quỷ tương ứng. Quỷ là một thứ âm khí. Khi bạn có tư tưởng tốt lành thì âm khí tiêu mất. Nếu bạn sửa đổi nề nếp suy nghĩ, để cho ánh sáng chiếu rọi thì sẽ có trí huệ.
- Tuy rằng chúng sinh ai cũng miệng nói là tìm cầu an lạc, nhưng bất hạnh thay, càng tìm càng đau khổ.
- Con người sửa ác làm lành thì thế giới không còn tam tai bát nạn. Người hiền lành thân mến đối xử với nhau, không tranh không tham thì thế giới sẽ biến thành thế giới đại đồng.
- Người học Phật tu đạo không nên tính toán nhiều quá. Ai đó chửi tôi, nhưng tôi là ai? Ai đó đánh tôi, nhưng tôi là ai? Tự hỏi xem, bạn sẽ chẳng tìm thấy một cái tôi nào đâu. Như vậy thì tại sao không buông bỏ nó chớ.
- Tu thì phải xoay trí huệ tự chiếu lòng mình, tự hỏi mình có lòng tham chăng? Có thì chẳng phải là tu. Không có thì tức là tu. Tự hỏi mình có lòng sân hận không? Có thì chẳng phải là tu. Không có thì chứng minh rằng cái ngã đã bớt một chút. Bị đánh thì bạn coi như không thấy biết; bị chửi thì bạn dùng đạo lý để thấu triệt. Nếu trong lòng sinh phiền não, nổi sân giận thì sẽ chẳng thể tu hành được. Tự hỏi mình có ngu si không? Phải chăng mình thông đạt một thứ thì thông đạt mọi thứ, chẳng hề chướng ngại? Rằng: chân không thì chẳng có nhân ngã; đại đạo thì chẳng hình tướng.
- Kẻ thiện căn sâu dày thì nghe lời thiện. Kẻ tội nghiệp nặng nề thì nghe lời phỉ báng.
- Nếu không vất bỏ thứ hư vọng, thì thứ chân thật vĩnh viễn không thể đạt được. Vì sao? Bởi vì mình cứ chạy theo sau đuôi cái hư vọng thì làm sao nhận thức được diện mục của cái chân thật.
- Có phiền não thì có nóng bức. Không phiền não thì sẽ mát dịu. Ai bảo bạn sinh phiền não?
- Buông bỏ thân tâm thì Phật tự thành.
- Phải phát tâm bồ đề, phải lợi ích chúng sinh. Không nên học tác phong nhỏ hẹp của hàng nhị thừa, chỉ tự lo thân mình một cách ích kỷ, không chịu độ kẻ khác.
- Nhẫn là vật vô giá, nhưng người dùng không tốt. Nếu biết dùng lòng nhẫn, chuyện gì cũng tốt đẹp.
- Nếu bạn không chấp trước, việc tới thì ứng phó, việc đi rồi thì an tĩnh. Giống như mặt gương: Vật để trước gương thì hiện bóng, vật đi thì bóng lặng, ánh sáng vẫn phản chiếu. Nếu được như vậy thì bạn sẽ vô tư vô lự, không hay không biết, cũng không phiền não, cũng không rắc rối.
- Năm mới tới, mình hãy tiếp đón thần tài, thần hỉ, thần quý. Sao gọi là thần tài? Nếu bạn đừng đem tinh khí vất đi thì đó là thần tài. Sao gọi là thần quý? Nếu một năm bạn không nổi nóng, đó là thần quý. Nếu bạn phát tâm, rằng: Sang năm mới tôi không nổi giận nữa, tôi phải sửa đổi tính tình của tôi, thì đó là thần quý. Nếu bạn lúc nào cũng vui vẻ, thì đó là bạn tiếp đón thần hỉ rồi. Ba vị thần này đều tại nơi ta. Bất quá bạn không biết nó, nên phải chạy đi cầu thần ở bên ngoài.
- Nếu bạn làm một con giòi lười biếng không chịu tu hành thì tôi sẽ không chờ bạn đâu.
- Trên đời đầy dẫy chuyện hư vọng không thật. Mỗi người đều có tri kiến nhân ngã bất đồng. Do vậy hoặc là họ tranh ngoài mặt hoặc dấu sau lưng; mỗi người mỗi dạng ích kỷ. Mây đen tham sân si của họ trùm phủ bầu trời khiến người ta không còn thấy ánh sáng, không còn được tưới mát nữa. Chỉ có Bồ Tát là vất bỏ sạch hết hư danh, giả lợi, vất bỏ vòng sinh tử hư ngụy, buông xả ngũ dục cột trói. Vì thế nên trí huệ chân thật của ngài mới hiện ra.
- Có người nói: Bây giờ lò sát sinh khác hơn khi xưa lắm. Họ dùng súng bắn hoặc điện giựt cho chết. Do đó, bò dê chết nhưng không có cảm giác gì. Bạn cho rằng như vậy là đúng sao? Vậy thì sao bạn không chết như thế đi? Sự thật thì phương pháp này còn tàn nhẫn hơn trước kia, lòng oán hận của con thú vẫn nghiễm nhiên tồn tại. Có lẽ hận thù còn sâu hơn xưa. Hễ sát sinh là tội nghiệp rồi.
- Cái lưỡi có công đức thuyết pháp, mà cũng có tội nghiệp nói thị phi. Nếu nó không thuyết pháp thì nó sẽ nói thị phi, hoặc lời tà vạy, vô nghĩa. Tức là một vạn hai ngàn thứ tội.
- Giới là thước đo cho người xuất gia.
- Không nên tìm chuyện rắc rối vào thân, cũng đừng sợ việc rắc rối.
- Muốn thành Phật thì người học Phật phải tham thiền tỉnh tọa. Mỗi ngày đều phải ngồi thiền, đừng sợ chân đau, gối mỏi, lưng nhức thì mới thành tựu được. Người xưa nói: Không qua một lần lạnh thấu xương, làm sao hoa nở thơm ngát hương?
- Trên đời chẳng có thứ gì đáng gọi là báu quý, chẳng có thứ gì là khó tìm khó gặp. Chỉ có kẻ biết thuyết giảng chánh pháp là khó tìm khó gặp.
- Mình có chuyện đau khổ là vì chấp trước chưa phá trừ. Chấp trước một khi xả bỏ thì không còn gì khổ đau nữa. Cũng chẳng còn gì gọi là khoái lạc.
- Trong đời Mạt Pháp, tất cả thiên ma ngoại đạo, ly mỵ vọng lượng, sơn yêu thủy quái đều sợ nhất là chú Lăng Nghiêm. Bởi vì chú Lăng Nghiêm là chú phá tà, hiển chánh.
- Tu là hàng phục thân tâm, rèn luyện thân thể cho thành chất kim cang. Lúc bạn mệt mỏi cũng phải hướng về phía trước tiếp tục tu trì, đoạn trừ tất cả vọng tưởng.
- Tâm tánh của chúng sinh vốn là quang minh lỗi lạc. Chẳng qua nó bị vô số tội chướng, vọng niệm che phủ mà thôi.
- Niệm danh hiệu đức Bồ Tát có thể làm ta minh tâm kiến tánh.
- Bạn hãy xem ngày bạn quy y như là ngày sinh nhật của mình. Xem quãng đời tu hành của mình bắt đầu từ ngày này.
- Kinh Lăng Nghiêm là cốt tủy của đạo Phật. Người không có xương cốt thì hẳn phải chết. Ðạo Phật mà thiếu Kinh Lăng Nghiêm thì có thể nói rằng không có Phật pháp.
- Bạn ăn chúng sinh nào nhiều thì bạn có nhiều chủng tử của chúng sinh đó trong người mình. Tức là bạn thành bà con với chúng. Khi nhân duyên với chúng quá sâu thì sự gắn bó sẽ không thể nào tách rời được.
- Ăn thịt heo nhiều thì bạn có cơ hội rất lớn sẽ làm heo. Ăn thịt bò nhiều thì bạn cũng sẽ có nhiều cơ hội làm bò. Ăn nhiều cơm, phải chăng biến thành gạo? Gạo là loài vô tình, còn chúng sinh là loài hữu tình. Nếu ăn chúng sinh hữu tình thì mình sẽ sinh làm loài chúng sinh hữu tình ấy. Ăn thứ vô tình, chẳng những mình không biến thành gạo, thành rau, thành cỏ, mà thật sự nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng đúng đắn nhất.
- Kinh Lăng Nghiêm là bảo giám của người tham thiền. Ai tu đạo cũng nên nghiên cứu sâu xa kinh này.
- Không nên xía vào chuyện người khác. Cứ nói: Cô ta không tốt, anh ta ác lắm! Ðừng tìm lỗi lầm của người khác, mà nên trừ vọng tưởng thành kiến trong đầu mình. Dù là chuyện xứng tâm duyệt ý đi nữa, nó cũng chỉ là một vọng tưởng vui sướng trong đầu. Do đó phải nhìn cho thủng, buông xả nó, để chứng đắc trung đạo liễu nghĩa.
- Ðời mạt Pháp, căn tánh của chúng sinh rất thấp kém, không thích hợp với nhiều pháp môn. Chỉ có pháp Niệm Phật là thích hợp với hết thảy căn cơ. Ba hạng căn cơ (cao, vừa, thấp) đều hợp, kẻ ngu người trí đều được.
- Ðôi khi chúng ta cho mình là làm việc tốt, nhưng kỳ thật thì không phải như vậy. Ðó là vì sao? Vì chủng tử (của việc mình làm) là bất tịnh.
- Vì sao có sinh tử? Vì có vọng tưởng.
- Khi bạn lạy đức Quan Âm, Niệm danh đức Quan Âm, bạn hãy phản tỉnh xem mình có tánh nóng giận không? Phải chăng thói hư tật xấu của mình chưa trừ? Nếu như vậy thì dù mình lạy tới kiếp vị lai, niệm danh hiệu đến hết kiếp thì cũng không sao gặp đức Quan Âm đâu.
- Nếu bạn hiểu giới luật thì sẽ thâm nhập vào mọi pháp Phật. Nếu bạn không hiểu giới luật thì bạn cũng giống như mây phiêu dạt trên trời, chẳng chút nền tảng cơ bản gì hết.
- Vì sao bây giờ thế giới vấn đề của em trẻ rắc rối tràn lan như vậy? Vì cha mẹ sinh con mà không biết dạy con.
- Nếu bạn có đầy lòng nhân, nghĩa, lễ, trí thì mặt bạn sẽ hiện ra một thứ đức tướng, một thứ công đức.
- Trí huệ bát nhã của người ngu và kẻ trí thì chẳng khác nhau. Cái khác là một người thì biết dùng, một người thì chẳng biết dùng (trí bát nhã).
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|