Thông tin
Các bài mới
Tôi muốn viết từ lâu, kể chuyện một ông lão kỳ lạ, ông ta sống giữa đời như tất cả chúng ta, song lại hành động rất khác! Lần đầu tiên tôi nghe về lão là mùa Giáng Sinh 1990. Chiều 24 tháng 12 năm ấy, tôi lên thăm bạn ở thành phố Lausanne. Chúng tôi rủ nhau đi phố sắm sửa vài món quà cho bữa tiệc thân hữu gặp nhau. Phố xá lạnh lẽo và vắng lặng lắm vì đa số mọi người đã đều đi về đoàn tụ với gia đình... Trời lất phất đổ tuyết, gợi cho lữ khách, tùy tâm trạng, mà cảm thấy lãng mạn hay cô đơn kinh khiếp... 
Một người con trai ở bang Texas, Mỹ, đưa cha đi tiệm ăn bữa cơm. Người cha là 1 cựu quân nhân nhưng đã già, lại có bệnh nên tay chân run rẩy, trong lúc ăn cứ làm rơi vãi thức ăn vào người, và rơi đầy xuống đất. Một vài người trong tiệm thấy cảnh đó thì nhăn mặt tỏ ý khó chịu. Người con vẫn thản nhiên, ngồi ăn và trò chuyện với cha. Đợi ông ăn uống xong , anh đứng lên đến bên cha và nhẹ nhàng trìu mến nhặt các vụn thức ăn trên áo ông, cầm tay dẫn cha vào nhà vệ sinh rửa và lau sạch cho cha, chải tóc và đội mũ, đeo kính lại cho ông đàng hoàng.
Cuốn sách này được chia làm ba phần, phần một của cư sĩ Quả Khanh, phần hai là câu chuyện của nhiều tác giả trên nhiều nước(đích thân mục kích hoặc nghe kể) đã viết ra và gởi đến Hội Đạo Đức Trung Hoa. Phần ba là chuyện do ký giả trực tiếp phỏng vấn hay nghe kể lại mà viết ra. Tôi đã cất công săn lùng trong rừng hồi ký nguyên tác Hán tự mênh mông để tìm những câu chuyện hay và hữu ích; sau đó chắt lọc; tuyển lựa, rồi dịch ra để chia sẻ cùng bạn đọc. Quý vị có quyền tin hoặc không.
“Báo ứng hiện đời” sau khi xuất bản từ năm 2003 đến nay, được độc giả trong nước ngoài nước nhiệt liệt hưởng ứng, đến tháng giêng năm nay (2009), đã tái bàn lần thứ 9, tổng cộng 21 vạn sách. Độc giả bao gồm các chùa bên Mỹ, Anh, Úc, Nhật, Đông Nam Á, Hương Cảng, Đài Loan… và các tỉnh trong Đại Lục. Đông đảo độc giả gọi điện gởi thư đòi sách và gởi bài tới, nhiệt liệt cổ vũ bảy tỏ mong ước được xem tập kế tiếp nữa.
Khi bà Macefield mới mua ngôi nhà này, vào khoảng năm 1950, thì con đường đó chỉ là con đường quê hẻo lánh. Nhưng nửa thế kỷ sau thì nó đã trở thành khu trung tâm phố thị đông đúc và 1 công ty thầu đã mua lại nguyên 1 khúc đường để xây khu đô thị và thương xá cao 5 tầng. Tất cả những hàng xóm của bà Macefield đều vui lòng bán nhà và dọn đi, nhưng bà thì nhất định không chịu đi. Thậm chí khi chủ đầu tư ra giá 1 triệu đô (căn nhà chỉ đáng giá khoảng $300 000) thì bà vẫn nhất định không chịu bán. Bà nói bà già rồi, sống ở đó cả đời rồi, bà lại không có con cháu nên bà không muốn đi đâu hết.
Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm y tá của một bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở tiểu bang Arizona. Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau bữa tiệc. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn.
Bài viết của một Tác giả không biết tên, thể hiện quan điểm cá nhân, nhưng có nhiều điều đáng suy gẫm về văn hóa, niềm tin …..  Đúng hay sai, chung toi không bình luận. Xin chuyển để mọi người tự luận. Mê Tín là tin vào những gì không có ích cho sự phát triển cho khối óc. Mê tín sẽ làm ta yếu hèn, nhờ đỡ, thần kinh yếu dần rồi gây ra đủ loại bịnh tật. Việt Nam đã và đang lan tràn những hiện tượng đồng bóng, lên cốt, ‘ngoai cảm’, bói toán, bùa chú, tử vi tướng số, cầu cơ, gọi hồn, đốt vàng mã, coi phong thủy… Những việc này là mê tín và chúng ta nên tránh xa.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Phật pháp là tôn giáo đề xướng lý vô ngã, không tán thành việc xem tướng, coi tử vi, bói toán, càng không tin vào phong thủy. Bởi vì những thứ ấy đi ngược lại với Phật pháp, ngược với đạo. Do đó mới cấm chỉ không phổ biến trong đạo. Khi mình tin vào những thứ ấy thì sẽ tồn tại cái ngã. Từ đó tất mọi chuyện đều từ cái ngã này có, đều vì cái ngã này mà tính toán. Có ngã, không có người, là lý chẳng phù hợp với Phật pháp.
- Pháp mà tôi thuyết thì giản dị nông cạn lắm. Pháp gì? Là pháp ăn uống, mặc áo quần, ngủ nghỉ. Do đó có người tới cầu pháp, tôi liền dạy họ nên ăn ít một chút, mặc ít một chút, ngủ ít một chút. Bởi vì: Bớt mặc thì tăng phước, bớt ăn thì tăng thọ, bớt ngủ thì tăng lộc. Nếu ba ngôi sao này (phước lộc thọ) cùng chiếu vào, chẳng phải đó cũng là Phật pháp sao?
- Trong gan nếu không lửa, (không nổi giận)
Bịnh gì cũng tránh thoát.
Ðây là thuốc nhiệm mầu,
Lại bị cất một xó. (không chịu dùng)
Ta bà ha!
- Chấp trước nghĩa là gì? Khi không tin vào nhân quả bạn sẽ sinh lòng chấp trước sâu dày. Thứ chấp trước này đưa tới việc hủy báng, cho rằng chẳng có lý nhân quả. Do vậy người Phật tử phải nhận diện rõ lý nhân quả. Vì sao cần tin sâu nhân quả? Không tin nhân quả, bạn khó làm người Phật tử. Không đọc tụng đại thừa kinh điển, thì sẽ không khai trí huệ.
- Thế nào là vọng tưởng? Tức là dục vọng tràn ngập.
- Siêng năng trì giới cần thực hành ở chỗ người ta không thể thấy. Không phải là siêng năng trước mặt kẻ khác, giữ giới trước mặt người ta. Phải tại nơi một mình bạn đơn độc, mà siêng năng trì giới.
- Hôm nay tu, nghĩ rằng mai thành Phật! Vừa cuốc đất đã tưởng đào xong giếng! Không có việc đó đâu! Tu hành thì như mài sắt thành kim, công phu đầy đủ thì tự nhiên thành tựu.
- Tôi sửa chữ Phật giáo thành Tâm giáo vì rằng ai ai cũng có tâm. Tu hành là bỏ vọng tâm, tồn chân tâm. Còn vọng tâm thì còn là phàm phu, có chân tâm thì là Phật.
- Khi tham thiền tới chỗ chín mùi thì chẳng những không còn vọng tượng mà tánh nóng cũng tiêu tan, phiền não giảm bớt, nhân phẩm sẽ cao vút, khí độ cũng thêm vĩ đại.
- Tông chỉ của Phật giáo là ai cũng có thể thành Phật. Những chúng sinh trong hiện tại là cha mẹ của mình trong quá khứ, đồng thời cũng là chư Phật trong tương lai. Nếu mình sinh lòng sân hận với chúng sinh thì cũng chính là sinh lòng sân hận cha mẹ và chư Phật vậy. Mình sẽ trở thành kẻ đại bất hiếu.
- Khi mình đang ở trong thời tai nạn bịnh hoạn nhiễu nhương, mình nên chân thật, thành khẩn dụng công tu hành thì mới biến khí xấu xa thành kiết tường, tai kiếp hóa ra bình an.
- Khi ở trong vòng sinh tử, mình muốn thoát sinh tử thì phải bỏ ra chút sức lực. Chẳng dễ dàng thoát sinh tử đâu. Dùng sức lực nghĩa là sao? Tức là làm bất kỳ chuyện gì mình phải chân thật làm nó. Gặp phải nghịch cảnh, càng khó khăn trắc trở, càng phải không động tâm, không nổi giận nóng nảy. Ðó tức là chăm sóc miếng đất trong tâm mình, hàm dưỡng bầu trời của tự tánh. Làm như vậy thì mình thêm vào chính khí giữa trời đất. Mình mới đúng là người chân chính tu đạo, thật sự tin Phật.
- Nhìn thủng tức là hiểu suốt; buông xả tức là giải thoát. Có giải thoát thì bạn mới tự tại. Không thể giải thoát thì bạn không thể tự tại. Tự chẳng tại là vậy.
- Tu hành chẳng phải chuyện gì khác đâu: Ngay nơi thân tâm tính mạng này mà dụng công phu.
- Pháp này là trừ tham sân si, tu giới định huệ. Bạn muốn đi tìm thứ huyền diệu, thì chỉ đi ngược lại với đạo. Ðạo này là: Tâm bình thường là đạo, tâm chính trực là đạo tràng.
- Người tu phải nhớ: Chẳng nên có nhân duyên quan hệ ô nhiễm với kẻ khác. Vì như vậy sẽ sinh triền nhiễm, trói buộc, rối bù, rốt cuộc sẽ làm bạn đọa lạc.
- Tôi chỉ hóa duyên lớn, không hóa duyên nhỏ (hóa duyên tức là đi xin). Thế nào là hóa duyên lớn? Tức là tôi muốn xin vô minh, sân giận, phiền não của các bạn. Khi các bạn không có ba thứ vô minh, sân giận, phiền não thì sẽ hưởng kiết tường như ý. Nếu có ba thứ ấy thì có hung thần, việc xấu. Do vậy các bạn à! Hãy buông xả chuyện bạn chẳng thể buông xả, việc bạn vất bỏ được càng nên vất bỏ gấp! Vất bỏ vô minh, nóng giận, phiền não thì bạn sẽ tốt thôi.
- Mục đích chủ yếu của tu hành là để liễu thoát sinh tử, không phải vì cầu cảm ứng.
- Người tham thiền cần nhận thức vấn đề căn bản. Ðó là gì? Tức là thói quen tật xấu. Khi mình đả thất, tức là đả (nghĩa là đánh) bẹp thói hư tật xấu.
Bất kỳ việc gì nếu bạn xem nó thật bình thường, chẳng có gì quan trọng lắm thì bạn sẽ chẳng có gì rắc rối. Khi bạn cho chuyện này việc - nọ là trọng yếu, là quan trọng lắm thì nó sẽ rắc rối.
- Tu đạo thì phải tu đạo đức chân chính, không trở ngại kẻ khác, cũng chẳng lo sợ kẻ khác trở ngại mình.
- Việc khó khăn nhất trong lúc tu là chặt đứt phiền não. Chặt đứt có nghĩa là biến, biến phiền não thành bồ đề.
- Xem nhẹ tài sắc danh thực thùy, coi nó chẳng có gì, quên nó đi, đó mới chính thật là người tu hành.
- Thế giới Cực Lạc là do tâm hiện ra. Tự tánh của ta là Tịnh Ðộ, tự tánh của ta là đức A Di Ðà. Khi không có vọng tưởng, thì tâm đó chính là Tịnh Ðộ. Khi không có phiền não, thì tâm ấy chính là A Di Ðà.
- Ðạo quý tại tâm chuyên nhất. Cũng như dụng binh quý ở tinh luyện, không phải ở số đông. Mỗi cử chỉ hành vi của mình không được rời xa tự tánh. Khi ở trong đại chúng thì phải giữ gìn lời lẽ, đề phòng sáu tên giặc (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý). Ðừng để sáu tên giặc lôi đi.
- Tin Phật thì mình chớ chia rẽ, coi (tôn giáo mình) là hơn hết, cho rằng mình đúng (kẻ khác sai), mình thì hay ghê lắm, đặc biệt lắm. Khi có một ý niệm như vậy thì mình chẳng kham việc tạo dựng. Mỗi người con Phật, mình cần nên có lòng rộng rãi bao dung mọi sự, đùm bọc mọi loài. Trong phạm vi của đạo Phật, mình không có kẻ thù.
- Khi niệm danh hiệu đức Quan Thế Âm Bồ Tát, mình (chỉ mấy người tu ngụ trong chùa) không nên ngày đêm cứ khởi vọng tưởng, rằng: Sáng ra chưa ăn gì cả, tối lại cũng chẳng có trà uống, khổ quá, chịu hết được rồi. Phải chạy đi thôi!
- Thiếu nhẫn nại thì pháp gì tu cũng không thành. Không có lòng nhẫn nại thì thường cảm thấy việc này không đúng, chuyện kia không tốt. Việc gì cũng trái ý mình. vậy thì bạn có thể tu gì được? Ðạo thì chẳng có ngã kiến, cũng chẳng có ngã chấp.
- Người tu hành phải tu vô ngã tướng. Nếu không có ngã tướng, thì có thể chịu đựng mọi chuyện; mọi cảnh giới tới, mình không động tâm, vì mình xem mình như là hư không. Cảnh giới tới cũng phải tu hành, nghịch cảnh tới, cũng phải tu hành. Thuận cảnh tới, không sinh vui mừng, nghịch cảnh lại, chẳng sinh lo buồn. Cảnh nghịch hay thuận mình phải biết rõ ràng. Nếu có thể như như bất động thì mình không bị cảnh giới nào lay chuyển. Nếu mình liễu liễu thường minh thì mới chuyển xoay cảnh giới.
- Người tu không đắp y thì cũng như đã hoàn tục, chẳng khác gì người phàm tục. Cũng không phải mặc áo tràng, đeo ... thì chứng minh rằng mình là kẻ xuất gia. Ngay như dù có đắp y, mà ngày ngày cứ phạm giới, hoàn toàn chẳng chân thật tu hành, thì cũng không đáng gọi là xuất gia. Hà huống nếu bạn không đắp y, thì đã không có tướng Tỳ kheo rồi.
- Ma là thứ giúp đỡ mình tu đạo. Ma giúp mình ở mặt trái, xem mình có chí nguyện kiên cố hay chăng. Nếu bạn thật kiên cố thì dù có ngàn con ma hại, bạn cũng không thay đổi, vạn con ma phá, bạn cũng không thối sụt. Cái gì bạn cũng không sợ, vì bạn không có gì mong cầu.
- Muốn dưỡng khí, bạn không nên nói chuyện nhiều quá. Người tu nếu không biết ít lời thì sẽ chẳng thể tu đặng. Không nuôi dưỡng cái khí lực thì chẳng có pháp. Cứ nói chuyện hoài thì pháp sẽ mất hết. Bấy giờ xem bạn còn tu đạo gì nữa?
Kỳ thật vạn sự vạn vật đều thuyết pháp. Cái bàn nói cái pháp của cái bàn. Cái ghế nói pháp của cái ghế. Việc gì chuyện gì cũng chuyển - pháp luân. Người chuyển pháp luân của người. Con mèo chuyển pháp luân của con mèo. Nếu bạn hiểu rõ, thì bạn sẽ nghe được cái pháp hiểu rõ. Nếu bạn không hiểu rõ thì bạn chỉ nghe cái pháp ngu si.
- Ðừng để danh lợi làm đầu óc mê muội. Tới chết thì vẫn hai tay trắng. Rằng: Ðừng để tới già mới học đạo, mộ phần đầy dẫy đám thiếu niên.
- Tật xấu của tín đồ Phật giáo là ai cũng cho mình đúng, chẳng quan tâm đến ai khác; không có người nào tự nhận mình là sai lầm, ngược lại, bài xích lẫn nhau, dèm pha nói xấu lẫn nhau.
- Trong quá trình tu hành không có lúc nào mình được lười biếng. Tu đạo thì phải kiên trì hoài hoài, không để gián đoạn. Nếu không thì tu hà sa số kiếp mà cũng như nấu cát mà đòi có cơm. Chẳng thể có chuyện đó.
- Có chân chính biện tài vô ngại thì không cần nói lời chải chuốt. Bởi vì lời lẽ phát xuất từ tự tánh quang minh, trong kho tàng trí huệ của Như Lai. Dùng lời chọn lọc, chải chuốt, lại có phản tác dụng, biến tốt thành xấu. Người xưa nói:
- Thông minh là do làm âm đức. (Âm đức là việc tốt mình làm trong im lặng, không cho ai biết)
Âm đức dẫn vào đường thông minh.
Không làm âm đức để thông minh.
Thông minh sẽ bị thông minh lừa.
Thương thân: đừng để thân mình phạm pháp.
Thương nhà: đừng để gia đình bị tan nát.
Thương nước: hãy hy sinh cho đất nước.
- Không phải rằng ăn chay là giữ giới sát đâu. Cũng chớ nói rằng: Tôi không có chính tay giết chúng sinh nào, rồi cho rằng không phạm giới sát. Giới sát cần phải trong tâm mình không khởi lòng sân hận đối với chúng sinh.
- Khi bạn có lòng lo sợ thì dù bạn không muốn ma lại, ma cũng sẽ tới. Bạn không có tâm lo sợ, thì dù ma muốn tới cũng không thể nào tới. Ðây là bí quyết quan trọng nhất: đừng có sợ hãi. Khi bạn không sợ hãi thì tâm sẽ chính. Chính thì có thể hàng phục mọi thứ, bởi vì tà bất thắng chính. Vì thế ma sợ nhất chính là bốn chữ: Chính đại quang minh.
- Người minh tâm thì không ngu si. Kẻ kiến tánh thì không âu sầu. Tâm như gương sáng, lại cũng như nước lặng.
- Các bạn nên: Tùy duyên để tiêu nghiệp cũ, chớ tạo thêm tội mới.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng....
Mỗi ngày bạn tụng 108 biến, mà tụng một ngàn ngày, tức cũng khoảng thời gian ba năm, thì mười ông vua Diêm Vương đều vui mừng, bệnh gì cũng đều có thể trị được. Lúc đó bạn lập được rất nhiều công; vì trong thời gian ba năm, hằng ngày bạn đều tụng Chú, chẳng tạo nghiệp. Dưới địa ngục có một tấm gương gọi là "Nghiệt kính đài", bất cứ bạn tạo tội nghiệp gì, thì đều hiển hiện ra ở trong tấm gương đó, giống như màn ảnh truyền hình. Một đời bạn làm gì, như bạn giết người, thì trong tấm gương đó sẽ hiện ra tình hình bạn giết người...
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi....
Thiện nam tử! Nên giữ gìn tâm thành, tức là không tham tất cả cảnh giới sinh tử. Nên trang nghiêm tâm thành, tức là chuyên tâm hướng về cầu mười lực của Như Lai. Nên tịnh trị tâm thành, tức là rốt ráo đoạn trừ tham sẻn, đố kị, xiểm nịnh, gian dối. Nên mát mẻ tâm thành, tức là suy gẫm thật tánh tất cả các pháp...
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy...
"Diệu", đối với chữ diệu nầy, chúng ta phải cần một phen, hạ khổ công phu để nghiên cứu. "Diệu" tức là huyền diệu, vi diệu, thâm áo không thể dò. Ngài Trí Giả Ðại Sư, chỉ nói về một chữ diệu, mà phải mất thời gian chín mươi ngày, tập thành một bộ Pháp Hoa Huyền, là một bộ Kinh quan trọng trong ba bộ Kinh lớn của tông Thiên Thai. Ðó là, chỉ nói một chữ diệu, mà phải mất ba tháng mới nói xong, bạn nói có diệu chăng !
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời.