Thông tin
Các bài mới
Cô Lạc báo tin cho cha mẹ là sẽ về thăm Việt Nam thì cả tháng nay anh chị Siêu mừng vui đến mất ăn mất ngủ. Phen này thì cả làng An Bình sẽ lên cơn sốt như cách đây 3 năm họ đã lên cơn khi biết cô Lạc nhà quê nhà mùa, trình độ văn hóa lớp 6 kết hôn với một ông kỹ sư người Mỹ. Nhà anh Siêu nghèo, mấy sào ruộng nhà nước chia theo tiêu chuẩn đầu người không đủ cho hai vợ chồng cầy cấy nuôi 3 đứa con, anh đi bộ đội về cảnh nhà eo hẹp nên lấy vợ trễ, con còn nhỏ. Cô Lạc lớn nhất nhà đã được bố mẹ gởi gấm theo vài người anh em họ vào thành phố Sài Gòn làm ăn.
Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn. Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ Cộng Sản.
Một lần, Đề Bà Đạt Đa cố ý chờ đến lúc Phật đi qua khe núi và lăn đá xuống để giết Phật, nhưng tảng đá chỉ làm trầy chân Phật. Các tỳ kheo đưa Phật về khu vườn xoài của ông Kỳ Bà (Jivaka) – một ngự y của vua A Xà Thế để nhờ ông chữa trị cho Phật. Y sĩ Kỳ Bà đắp cho Phật loại thuốc do chính tay ông bào chế và hẹn đến chiều sẽ trở lại thay băng vì ông phải vào thành chữa cho những người bệnh quá nặng. Đến khi ông chữa trị xong cho những người bệnh ở trong thành thì trời đã sụp tối và cửa thành đã đóng, không ai được phép ra vào. 
Một người thợ săn dắt bầy chó săn vào rừng, vừa mới ra khỏi làng thì gặp vị tỳ kheo đang cầm bình bát thong thả đi vào làng khất thực. Anh ta không để tâm, tiếp tục tiến vào rừng. Hôm đó anh ta không bắt được một con thú nào nên rất tức giận liền tìm người để đổ thừa. Người đầu tiên anh ta nghĩ đến là vị tỳ kheo kia: 'Đúng là ra ngõ gặp thầy chùa nên mới xui xẻo không bắt được thú rừng'. Vị tỳ kheo sau khi khất thực và thọ thực xong đang trên đường trở về tinh xá thì gặp lại người thợ săn. Hắn tức giận lùa bầy chó xông tới cắn vị tỳ kheo khiến vị này phải vội vã trèo lên cây cao để tránh bầy chó.
Khi chúng tôi rời California tìm một nơi có đời sống thong thả, yên ổn để nuôi các con, chúng tôi rơi ngay vào một vũng nước mưa. Thành phố Seattle của bang Washington Hoa Kỳ. Lúc nào ông trời Seattle cũng mưa được. Không mưa sáng, thì mưa chiều, không mưa chiều thì mưa tối. Vào mùa Hạ thì thỉnh thoảng mới có một hôm nắng nguyên ngày. Tối hôm trước đi ngủ, bầu trời đêm cao thăm thẳm, trong veo, không một gợn mây, thế mà nửa đêm thức dậy nghe như có tiếng ai gõ nhẹ trên mái gỗ, lắng nghe một lúc biết là trời bắt đầu mưa.
Câu chuyện sau đây là một đoạn lịch sử kéo dài đến mấy mươi năm, gắn với một sự kiện quan trọng trong cuộc đời Đức Phật, đó là cái chết của cả dòng họ Sakya. Ngày xưa ở Ấn Độ, vương quốc Sakya với kinh đô Ca Tỳ La Vệ là nơi dòng tộc Sakya (Thích Ca) cư trú và lãnh đạo. Dòng dõi này có màu da trắng, rất đặc biệt. Nếu ai có cơ hội sang thăm Ấn Độ, ta sẽ bắt gặp những người Ấn có nước da ngăm đen, thậm chí là rất đen. Đi dần về phía Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia... người dân có trắng hơn một chút, nhưng nhìn chung người dân tại Thái Lan, Miến Điện vẫn có làn da hơi ngăm ngăm đen, đến Ấn Độ thì đen hơn, còn qua đến châu Phi thì đen tuyền luôn. 
Thời đó có một ông vua tên là Ca Lợi. Một hôm, ông cùng các cung nữ vào rừng dạo chơi. Khi mọi người tản ra dạo chơi, ngắm cảnh, các cung nữ đến bệ đá thấy một Đạo nhân đang ngồi bất động, gương mặt an tĩnh, hiền lành. Các cô liền đặt cây trái lên cúng dường, đảnh lễ và hỏi pháp. Vị Đạo sĩ thuyết pháp cho các cô nghe. Lần lượt, các cung nữ khác đến rất đông, ngồi quanh vị Đạo sĩ để nghe thuyết pháp. Lúc đó, nhà vua đang dạo chơi bỗng nhận ra xung quanh mình không còn một ai.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Hiện tại chúng ta may mắn có được thân người. Nếu khôngà biết dùng thân người để tu hành thì đợi đến khi nào mới chịu tu ? Chỉ e đến lúc mất thân nầy rồi, dù có muốn tu hành thì đã quá muộn màng ! 
- Dùng lưỡi để thuyết pháp thì tích luỹ công đức. Ngược lại nếu dùng lưỡi để nói chuyện thị phi thì thì tạo nghiệp xấu. Thay vì thuyết pháp mà lại nói chuyện thị phi vô nghĩa, chính là tạo 1.200 tội lỗi. 
- Sống trên thế gian nầy, chúng ta phải luôn luôn làm việc lành. Còn hơi thở và sức lực thì chúng ta nên làm việc lành để tích luỹ công đức.Trong đời nầy chúng ta đừng dựa vào căn lành đã trồng trong những kiếp trước mà hưởng hết phước báo.
- Nếu tâm tham lam tràn trề không biết đủ thì tương lai sẽ bị đoạ vào địa ngục. Nếu từ sáng đến tối với tâm giận dữ nặng nề thì sẽ trở thành ngạ quỷ. Nếu tâm ngu si quá nặng, chỉ làm những việc ngu xuẩn thì sẽ trở thành súc sinh.
- Người chân chánh khai ngộ thì không bao giờ nói mình đã khai ngộ. Các bậc Thánh nhân xuất hiện nơi thế gian tuyệt đối không tiết lộ chân tướng. Phàm là những kẻ tự xưng là Phật hay Bồ Tát đều là hạng tà ma.
- Mỗi người đều có ba tên giặc phiền não ở trongà tâm, đó là tham lam, sân hận và si mê. Chúng ta không cần tiêu diệt chúng mà chỉ cần chuyển hoá chúng thành những hạt giống bồ đề.
- Việc thành Phật vốn không phải dễ dàng ! Chưa chặt đứt tâm tham dục mà mong thành Phật, thì không bao giờ có. Người thời nay đều thích cầu may, thích đi đường tắt, nên dễ dàng bị những việc huyền ảo lạ kỳ lôi cuống và bị mê hoặc rồi lạc vào lưới ma.
- Khoái lạc chân chính là chẳng mong cầu gì nữa, đến chỗ chẳng mong cầu gì nữa thì sẽ hết lo. Bạn chẳng có mong cầu bất cứ thứ gì thì đó mới là khoái lạc thật sự, an ổn tự tánh thật sự.
- Tại sao hiện nay trên thế giới đầy dẫy những tội lỗi do thanh thiếu niên gây ra ? Vì những bậc cha mẹ chỉ lo sinh con chứ không chăm sóc, dạy dỗ.
- Trẻ con không phải sinh ra là hư xấu đâu. Chỉ bởi vì chúng không được dạy dỗ mà ra. Vì thế làm cha mẹ phải coi việc giáo dục con cái là cấp thiết quan trọng nhất. Cho dù kiếm được bao nhiêu tiền cũng không có giá trị bằng dạy dỗ con cái cho tốt.
- Tâm tham của chúng ta là cái hố không đáy; nó cao hơn trời, dày hơn đất và sâu hơn biển, nên mãi mãi không bao giờ lấp đầy nó được.
- Người không có đạo đức mới là kẻ nghèo cùng.
- Nếu có người đến cầu pháp, tôi sẽ bảo họ nên ăn ít, mặc ít và ngủ ít một chút. Vì mặc ít thì tăng phước, ngủ ít thì tăng lộc và ăn ít thì tăng thọ.
- Con ngườià sống không phải vì miếng ăn, mà sống để làm lợi ích cho xã hội, ban phước đức cho nhân dân và hỗ trợ cho thế giới.
- Nếu Còn chấp trước thì đó là tâmà người thế tục, nếu chẳng chấp trước thì đó là tâm đạo.
- "Phiền não tức bồ đề", nếu biết cách tu hành thì phiền não tức là bồ đề, bằng ngược lại thì bồ đề biến thành phiền não.
- Người tu hành phải tu tướng vô ngã, tu đếnà cảnh giới chẳng còn cái ta thì nhẫn chịu được hết tất cả, bất cứ cảnh giới gì đến tâm đều an nhiên bất động và tâm thanh tịnh giống như hư không.
- Tại sao nói dối ? Vì sợ mình mất quyền lợi và bị thua thiệt.
- Giữ năm giớià và làm mười điều lành thì sẽ sinh về cõi trời cõi người. Nếu còn tham lam, sân hận, và si mê thì sẽ sinh về ba đường ác.
- Tu học Phật pháp chính là tuà học việc không làm đau khổ phiền não cho kẻ khác.
- Bất cứ tu pháp môn gì, phải có tâm nhẫn nại thì sự tu hành mới mong thành tựu. Bằng ngược lại thì không thể thành tựu bất cứ pháp môn gì.
- Tại sao chúng ta không nhận ra cội gốc và bộ mặt thật của chính mình ? Vì chúng ta chưa xả bỏ tâm chấp cái ta, và tâm ích kỷ của chính mình.
- Người chân chánh tham thiền là người chânà chánh niệm Phật. Ngược lại người chân chánh niệm Phật cũng là người tham thiền. Người chân chánh trì giới cũng là người chân chánh tham thiền.
- Cờ bạc thì tạo nghiệp nặng. Bố thí thì tích luỹ công đức. Ngồi thiền thì trừ ngu si, phát sinh trí huệ.
- Thọ khổ thì hết khổ, hưởng phước thì hết phước.
- Chủ yếu chúng ta nghiên cứu Phật Pháp là gì ? Cần nhất là không khởi vọng tưởng, thu nhiếp thân tâm. Thu nhiếp thân tâm lại với nhau, không tưởng đông, không nghĩ tây, không nghĩ về quá khứ, cũng không nghĩ hiện tại, cũng không nghĩ về vị lai. Một lòng một dạ nghiên cứu Phật pháp. Như thế thì bạn chẳng có phiền não gì cả, chẳng có lo âu gì cả. Tại sao bạn có phiền não ? Vì việc gì bạn cũng nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng, thấy việc nầy cũng quan trọng, thấy việc kia càng quan trọng hơn. Sự quan trọng đó sẽ sinh ra tâm chấp trước. Có tâm chấp trước thì có phiền não sinh ra. Do đó chúng ta là người nghiên cứu Phật pháp thì đừng có tâm chấp trước, đừng có tâm chấp trước nào cả.
- Người tu hành mà không thể nhẫn nại, chẳng có công phu nhẫn nại thì tất cả các pháp môn, bất cứ tu hành đến trình độ nào cũng sẽ không thành tựu, đồng thời sẽ càng biến thành ngu si.
- Trẻ con không phải sinh ra là hư hỏng đâu. Chỉ bởi vì chúng không được dạy dỗ mà ra. Vì thế, bậc làm cha mẹ phải coi việc giáo dục con cái là cấp thiết quan trọng nhất. Cho dù kiếm được bao nhiêu tiền cũng không có giá trị bằng dạy dỗ con cái cho tốt.
- Phá thai là việc rất nghiêm trọng. Phá thai là một trong những nguyên nhân tạo ra nhiều chứng bệnh khó trị và những tai nạn khủng khiếp thời nay. Bạn nghĩ xem : Một sinh mạng chưa ra đời mà đã biến thành oan hồn. Con quỷ nhỏ ấy tới đâu cũng đòi mạng thì xã hội làm sao an ninh đặng ? Những con quỷ nhỏ ấy chỉ có các vị đạo hạnh không tham tiến tài mới có thể siêu độ được chúng.
- Bạn dụng công tu hành, bất cứ tu đến trình độ nào cũng đừng sinh tâm hoan hỉ, cũng đừng sinh tâm sợ hãi. Ðây là biện pháp cơ bản quan trọng nhất của người tu đạo để giải quyết ma chướng.
- Nếu hết thảy mọi người trên thế gian không ăn thịt chúng sinh ; đều ăn chay, không giết hại mà phóng sinh. Ðược như vậy thì tai nạn của thế giới sẽ tiêu diệt ư vô hình, sẽ vãn hồi được kiếp vận.
- Khi giết hại súc sinh thì trong tâm súc sinh sẽ tồn tại một thứ oán độc. Lúc chúng chết thì trong tâm sinh ra tâm sợ hãi, cừu hận, báo thù. Trong tính tình đó sẽ vọt ra sự oán hận, phẫn uất, và sẽ sinh ra một thứ độc.
- Rau cải là thực vật thiên nhiên, vốn có một sức lực giải độc, cho nên bất cứ yêu ma quỷ quái vẩy độc gì, thì chẳng bao lâu sẽ tự nhiên giải độc. Cho nên ăn rau cải nhiều là bảo đảm cho sức khoẻ sống lâu trường thọ tốt nhất.
- Nếu muốn cho thế giới nầy chân chánh tiêu độc thì mọi người nên ăn chay đừng ăn thịt. Vì thịt chúng sinh đều có độc. Thứ độc nầy rất vi tế vi tế. Khi bạn ăn thì chẳng cảm giác và xét nghiệm được, nhưng dần dần thì sẽ trúng thứ chất độc nầy.
- Có người muốn xuất gia, nếu khuyên họ đừng xuất gia, thì đây là khiến cho họ mất đi tâm bồ đề, dứt căn lành của họ, đây là sai nhân quả, tương lai phải đoạ vào địa ngục vô gián, thọ tội nghiệp không kỳ hạn. Có người chẳng phát tâm bồ đề (chẳng xuất gia), thì nên tìm cách khuyên họ pháp tâm bồ đề, đây là trực tiếp trợ giúp họ thành Phật đạo, tức cũng là gián tiếp trợ giúp mình thành Phật đạo.
- Người tu hành, nếu hay tu, thì tu thiện trong thiện. Không hay tu, thì tu ác trong thiện. Hay tu thì ở trong ác cũng có thiện. Chẳng hay tu, thì ở trong thiện cũng có ác. Cho nên có thiện trong thiện, ác trong thiện ; thiện trong ác, ác trong ác -- có bốn thứ phân biệt nầy. Người tu hành, trước hết phải hiểu rõ pháp thiện. Làm việc thiện trồng nhân thiện, đây là thiện trong thiện. Làm việc thiện trồng nhân ác, đây là ác trong thiện. Làm việc ác trồng nhân thiện, đây là thiện trong ác. Làm việc ác trồng nhân ác, đây là ác trong ác.
- Chúng ta người tu đạo, phải giữ bổn phận. Hãy buông xả tâm ích kỷ, hãy đề khởi tâm đạo đức, tất cả đều nghĩ về đại chúng (mọi người). Phàm là có việc lợi ích cho đại chúng thì tận lực mà làm, đừng có so sánh lợi hại, được mất. Có một phần sức lực, thì tận một phần sức lực, có mười phần sức lực thì tận mười phần sức lực. Lấy việc công làm việc tư, ai ai cũng làm được như thế, thì gia đình đều hoà khí, xã hội được an ninh, quốc gia được giàu mạnh, thế giới được hoà bình. Do đó có thể thấy, ích kỷ là đứng đầu của vạn điều ác. Nhất định phải tiêu diệt nó, đừng để nó làm sóng làm gió, làm cho thiên hạ đại loạn.
- Người tu đạo, đừng có tư tưởng "hoạch thiện kỳ thân" (pháp tiểu thừa), phải có hành vi "kiêm thiện thiên hạ" (pháp đại thừa). Kiêm thiện thiên hạ, tức là vì lợi ích chúng minh mà làm Phật sự. Tóm lại, đừng vì mình mà làm việc, phải vì đại chúng mà làm việc. Do đó "Tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha". Ðây là tinh thần đại công vô tư, ai ai làm được, thì ai ai cũng có thể tự tại. Ðộc thiện kỳ thân, tức là vì mình chẳng vì người. Vì mình làm việc, mà chẳng chịu vị đại chúng mà làm việc. Do đó "Tự lợi chẳng lợi tha, tự giác chẳng giác tha, tự độ chẳng độ tha". Ðây là tà kiến ích kỷ.
- Chúng ta người tu đạo, phải giữ bổn phận. Hãy buông xả tâm ích kỷ, hãy đề khởi tâm đạo đức, tất cả đều nghĩ về đại chúng. Phàm là có việc lợi ích cho đại chúng thì tận lực mà làm, đừng có so sánh lợi hại được mất. Có một phần sức lực, thì tận một phần sức lực, có mười phần sức lực thì tận mười phần sức lực. Lấy việc công làm việc tư, ai ai cũng làm được như thế, thì gia đình đều hoà khí, xã hội được an ninh, quốc gia được giàu mạnh, thế giới được hoà bình. Do đó có thể thấy, ích kỷ là đứng đầu của vạn điều ác. Nhất định phải tiêu diệt nó, đừng để nó làm sóng làm gió, làm cho thiên hạ đại loạn.
- Người tu đạo, nếu chẳng có tâm ích kỷ tư lợi, thì sẽ hàng phục được thiên ma, chế phục được các ngoại đạo.
- Người tu đạo thì giống như nước, lúc nào cũng có lòng khiêm tốn hạ mình, chẳng tranh công, chẳng tham đức. Chuyện gì tốt thì nhường người khác, việc gì xấu thì mình nhận hết.
- Vì sao thế giới sẽ có ngày bị hủy diệt? Vì người ta có tâm niệm thiện thì ít, mà tâm niệm ác thì nhiều. Sinh một Ỷ niệm tốt thì trời đất sinh thêm chính khí. Khởi một niệm ác thì trời đất tăng thêm độc khí. Mình phải biến khí xấu thành khí tốt lành.
- Nếu như bạn chẳng tu hành thì dù đức Thích Ca Mâu Ni Phật có làm Sư phụ của bạn thì cũng chẳng có ích lợi gì.
- Khi mình niệm danh hiệu đức Quán Âm Bồ Tát, chớ nên thấy ai mình cũng nhìn lỗi lầm của họ. Nếu mình cứ chuyên môn tìm chuyện xấu của người thì cái khổ của mình chưa trừ hết. Gốc khổ chưa dứt tận.
- Vì sao con người có âu lo, buồn bã hay sợ hãi ? Là vì người ta còn có ái dục. Khi ái dục đoạn dứt thì chẳng còn âu lo buồn bã, sợ hãi nữa.
- Vì sao thế giới sẽ có ngày bị hủy diệt? Vì người ta có tâm niệm thiện thì ít, mà tâm niệm ác thì nhiều. Sinh một Ỷ niệm tốt thì trời đất sinh thêm chính khí. Khởi một niệm ác thì trời đất tăng thêm độc khí. Mình phải biến khí xấu thành khí tốt lành.
- Thân thể của mỗi người chúng ta là một địa ngục, chẳng qua mình không biết đó thôi.
- Tham thiền hay niệm Phật đều tốt cả. Chỉ cần mình chân thật tu hành thì có thể vượt qua được cửa sinh tử. Ưến khi lâm chung sẽ chẳng có thống khổ, lòng không tham luyến, như nhập thiền định, tươi cười mà vãng sinh.
- Tu Ðạo là cần phải "quay trở lại." Nghĩa là gì? Tức là phải nhường cho người việc tốt lành, còn mình thì nhận phần hư xấu--xả tiểu ngã để thành tựu đại ngã.
- Ðối với ma đừng khởi tâm thù nghịch. Hãy xem chúng như các bậc Thiện-tri-thức trợ đạo cho mình.
- Từ vô lượng kiếp đến nay, hết đời này sang đời khác, mỗi người tạo bao nghiệp không đồng, nên vọng tưởng cũng không đồng. Nghiệp nặng thì vọng tưởng nhiều, nghiệp nhẹ thì vọng tưởng ít.
- Người tu hành phải vì cắt đứt dòng sanh tử luân hồi, vì độ chúng sanh, chứ không vì cầu cảm ứng mà tu Ðạo.
- Người tu Ðạo phải luôn luôn hồi quang phản chiếu, không nên hướng ngoại truy cầu. Tìm cầu bên ngoài không thể có được, quay về tự tánh thì đầy đủ cả.
- Ðối với kẻ mới phát tâm tu, điều chướng ngại nhất khi dụng công là lòng tham đắm sắc dục giữa nam và nữ. Ðây là vấn đề căn bản nhất.
- Người tu Ðạo nên chú ý! Chớ gieo duyên nhiễm ô với người khác. Sợi dây trói buộc bất tịnh này sẽ làm chúng ta đọa lạc.
- Hiện tại chúng ta may mắn có được thân người. Nếu không biết dùng thân người để tu hành, thì đợi đến khi nào mới tu? Chỉ e đến lúc mất thân này rồi, dẫu có muốn tu hành thì đã quá trễ!
- Học Phật Pháp, điều thiết yếu là phải chân thật. Mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều phải chân thật.
- Ở chùa, chúng ta phải biết tiết kiệm mọi vật dụng. Rằng:
- "Thương tiếc vật của chùa
Như bảo vệ tròng con mắt."
- Không thương, không ghét là Trung Ðạo.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.