Thông tin
Các bài mới
Khi Thế Tôn đến đất nước Kiều Tát La để giáo hóa, cha mẹ Ngài là một trong những tín chủ thuần thành. Một ngày vào năm hai người đã mãn tuổi, quán sát thấy nhân duyên đã đến, Thế Tôn một mình qua tư gia ông bà trưởng giả để hóa độ. Hôm đó, gia trang dường như ấm áp hơn mọi ngày. Khóm hoa đầu hè đã hé nở đưa hương thơm ngát. Gia nhân xếp hàng dọc hai lối vào, cung kính đón Thế Tôn. Hai ông bà trưởng giả Assalayana chống gậy đón Thế Tôn vào đại sảnh, tòa ngồi bằng gỗ được chuẩn bị sẵn sàng. Thế Tôn ngự trên tòa uy nghiêm mà đầy từ ái.
Vào đúng khoảnh khắc chồng vừa tắt thở, bà Ích hướng về thi thể gào thét, chửi mắng té tát: – Ông xui, ông khiến cho tôi đẻ lắm vào, rồi bỏ đi thế này à? Có tỉnh dậy ngay mà nuôi con không? Bà Ích dùng hết sức mình kéo tay kéo chân ông nhà. Bà muốn ông phải sống lại để chăm lo cho gia đình, cho 17 cái tàu há mồm non nớt. Vợ chồng bà sinh được cả thẩy 22 người con, 5 đứa chết, còn lại 17 đứa. Một mình nuôi từng ấy người con quả thật là điều quá khó khăn.
Trong cuộc đời, có những nỗi khổ đến bất ngờ. Có những người ta chưa từng làm gì xấu, nhưng họ cứ khiến mình đau lòng. Có những đứa con bất hiếu, có những cuộc hôn nhân ngang trái, có những b ệnh tật kéo dài không rõ nguyên do… Tất cả những điều ấy… đôi khi không phải xui rủi , mà là nghiệp là nhân quả, là những món nợ từ quá khứ quay trở lại. Oan gia trái chủ là ai? Oan gia trái chủ là những người đã từng có oán hận với ta trong quá khứ, có thể từ một kiếp, mười kiếp, thậm chí trăm kiếp về trước. Có thể là người ta từng g iết, từng lừa dối, từng phụ bạc, từng gây tổn thương…
Vô Thường Đến Là Để Tát Vào Mặt Cho Tỉnh. Chừng nào còn đang vui – ta không bao nghĩ đến vô thường. Chừng nào còn đang được thương – ta nghĩ mình sẽ được thương hoài. Chừng nào còn đang mạnh khoẻ – ta mặc định ngày mai vẫn còn nguyên như vậy. Chỉ khi bị đá khỏi đời ai đó, hoặc bị bệnh nằm liệt giường, hoặc bỗng một ngày mất trắng – lúc đó ta mới bắt đầu tụng “đời là vô thường”. Nhưng nói cho công bằng – nó không phải bài học, nó là một cái tát.
Đến ngã ba đường, Tôn giả Moggalana (Mục Kiền Liên) quỳ xuống thưa Phật: - Bạch Thế Tôn, con xin phép tách ra tại đây để đi về lại Trúc Lâm trông coi tinh xá ạ. Tôn giả Subhuti (Tu Bồ Đề) cũng quỳ thưa: - Bạch Thế Tôn, con cũng chưa về thăm trúc lâm và vương xá lần nào. Nay con cũng muốn theo sư huynh Mục Kiền Liên về trúc lâm, cúi xin Thế Tôn cho phép con ạ! Đức Phật im lặng nhận lời. Hai Tôn giả lễ Phật, chào đại chúng, rồi đi về phía Nam, và hiện ra ở khúc đường vắng, rồi lại thông thả bước đi tiếp tục.
Tôi là thích nữ Huệ Tâm xuất gia tu hành năm 17 tuổi. Lứa tuổi đầy năng động. Sẵn thông minh nhạy cảm tôi theo đuổi sự học hành và được sư phụ trợ duyên cho ăn học. Sau nhiều năm vừa tu vừa học tôi đã đạt được 4 bằng cấp đại học và tự mãn rằng mình có kiến thức học vị thế gian và cả Phật pháp có thể giúp ích cho Tín đồ. Cha tôi tên Từ Văn Lên, một người ít học lại là người Tàu ở chợ Biên Hòa. Công việc của ông là buôn bán đồ phế thải. Hàng ngày ông bôn ba khắp nơi để thu nhặt những đồ đạc người ta không dùng và bán đi để nuôi sống gia đình.
Mưa rơi khắp đất trời. Những cụm mây đen kịt cuồn cuộn bao phủ trên không trung. Một số Tỳ kheo ngồi đợi cho trời tạnh hẳn rồi rời khỏi tinh xá, đi về các triền núi, nơi có các khu nhà ở mới dựng thêm để giảm tải cho Trúc Lâm. Trời tối nhanh sau cơn mưa. Nhưng có một vầng sáng từ đâu bay đến soi rọi cho đoàn Tỳ kheo đi trong đêm, theo sát từng bước chân các vị về đến trú xứ an toàn. Khi các Tỳ kheo vào các phòng ở xong chúng mới biến mất. Ánh sáng dẫn đường cho các Tỳ kheo đi trên triền núi sáng đến nỗi người đứng ở ngoài thành Vương Xá có thể trông thấy.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Các bạn nên biết Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, cũng tức là Phật, Pháp, Tăng và giới luật, cũng chính là giới định huệ. Nếu bạn muốn cung kính Phật pháp tăng thì trước hết hãy cung kính Kinh Lăng Nghiêm.
- Trên trần gian này, tam giáo cửu lưu, ngũ phương bát đức, tất cả những loài hình hài sắc tướng, có hạnh có nghiệp, ai ai cũng muốn mưu sinh không ai muốn mưu tử. Chẳng ai nghĩ tới tương lai mình sẽ chết làm sao. Sống thì giờ đây đang sống rồi, nhưng chết thì sẽ ra sao? Bởi vì không ai nghĩ tới vấn đề này nên mới nói rằng, chẳng có ai mưu tử.
- Làm gì cũng có chừng mực, đừng bao giờ quá cực đoan.
- Công phu khuya và công phu chiều là việc công, không ai ở trong đạo tràng được trốn tránh. Không tham gia các công khóa ấy là khinh thường đạo tràng, khinh khi chư Phật, phương trượng. Nếu khinh khi phương trượng thì bạn không thể trú ngụ trong chùa được.
- Bí quyết của người tu hành: Ăn ít.
- Tu mà không biết sửa đổi lỗi lầm thì cũng như chẳng tu.
- Không thể tùy tiện lấy đồ của chùa đem cho người ngoài. Bạn cho rằng làm như vậy là có công đức, thật sự ra đó chính là ăn cắp đồ vật của tăng-già. Hành vi lấy đồ đạc công cộng, tự ý mình riêng tặng cho người khác vì muốn giao hảo tốt với họ, là hành vi phá hoại quy củ của đạo tràng.
- Phàm lệ, tất cả mọi công đức tạo ra, mình phải nhất định hồi hướng cho chúng sinh trong pháp giới. Nếu không vậy thì mình sẽ trở thành ích kỷ.
- Có Kinh Lăng Nghiêm là có Phật pháp. Vì muốn hộ trì Phật pháp, đầu tiên cả mình phải hoằng dương Kinh Lăng Nghiêm. Mình phải học thuộc kinh, biết giảng giải kinh; sau đó theo lý kinh mà tu hành.
- Rớt mất chân tâm thì mình sẽ rơi vào biển khổ, thoát không ra.
- Người xuất gia cần biết rằng: Khi đạo nghiệp chưa thành tựu, chớ nên để cho mắc nợ. Nếu bạn bị mắc nợ thì bạn sẽ bị trói cột, không thể giải thoát. Nhất là những thứ duyên không thanh tịnh, nó sẽ hại bạn khiến bạn rút chân không ra, chẳng thể tự tại được.
- Là người, ai cũng phải trãi qua sinh lão bịnh tử, bốn cái khổ lớn. Bất kỳ người nào cũng phải chịu mấy cái khổ này. Trừ phi bạn tu đạo liễu sinh thoát tử mà thôi.
- Các bạn thiện tri thức! Hãy nhớ tới cái khổ sinh tử, mà phát tâm bồ đề. Ðừng nên trôi nổi trong bể khổ nữa. Phàm, ai không muốn rời bể khổ đều là kẻ ngu muội.
- Chuyện gì trên đời cũng đều có quan hệ liên đới. Giống như ba tôn giáo Phật, Lão, Nho thì quan hệ mật thiết với nhau. Nho giáo ví như bậc tiểu học. Ðạo giáo ví như bậc trung học. Phật giáo ví như bậc đại học.
- Chúng sinh nghĩa là do chúng duyên hòa hợp mà sinh ra. Chúng sinh không phải chỉ có loài người mà còn bao gồm tất cả loài có sinh mệnh.
- Trên đời sự việc thật là kỳ cục. Càng không có thì người ta càng tham. Càng có thì lại càng không thể buông bỏ.
- Người có lòng nóng giận là người ngu muội.
- Người giàu có là người không thích chiếm tiện nghi. Người chân chính phú quý thì không thích chiếm thượng phong, lấn át người khác. Kẻ nào thích chiếm thuợng phong thì kẻ ấy mới thật là nghèo nàn.
- Làm người thì thật là nguy hiểm. Làm Phật mới thật bình an. Nếu bạn thích nguy hiểm thì cứ làm việc nguy hiểm. Nếu bạn muốn bình an khoái lạc thì hãy làm việc bình an khoái lạc.
- Lúc bình thường thì mình phải biết niệm Phật, tu pháp môn tịnh độ. Tới khi lâm chung thì mình mới không sinh hoảng hốt, luống cuống, mà sẽ an lạc vãng sinh về cõi Cực Lạc.
- Tới lúc chết thì bất luận là mình giàu tới đâu cũng chẳng thể mua được sự bất tử.
- Khi người ta thọ ngũ giới, thì mỗi giới họ giữ có năm vị thần hộ pháp bảo vệ họ. Nếu bạn không giữ giới thì năm vị thần ấy sẽ chạy mất. Thay vào đó sẽ có năm vị ác thần tới.
- Quay lại tìm đáp án nơi chính mình tức là chân thật chấp nhận rằng mình sai lầm, không bàn luận gì tới lỗi lầm của người khác.
- Có những người tiền kiếp đã tạo ra rất nhiều sát nghiệp; ví dụ như săn bắn, lưới cá, giết gà, mổ trâu, thọc tiết heo, làm thịt chó. Vì những người ấy tạo sát nghiệp quá nhiều nên kiếp này họ mắc phải đủ thứ bịnh kỳ quái nan y, khó trị.
- Phật pháp không tách rời tâm mỗi người, do đó Phật pháp chính là tâm pháp. Nếu tâm ta không có lòng ích kỷ, vọng tưởng, ngã mạn cuồng loạn, tham vọng dã tâm, thói hư tật xấu, thì đó chính là Phật pháp.
- Tinh tấn: Không có nghĩa rằng khi bạn ăn uống nhiều hơn kẻ khác tức là bạn tinh tấn đâu. Tinh tấn cũng không phải rằng khi làm việc thì bạn làm ít hơn người khác. Ðến khi ngủ thì người khác chưa ngủ, bạn đã ngáy; người ta đã thức dậy, mà bạn còn chưa tỉnh. Cũng không phải rằng bạn tinh tấn cầu danh cầu lợi, mà là tinh tấn phát đại bồ đề tâm.
- Con quỷ vô thường chẳng kể người già con nít gì cả: Hễ tới lúc phải dẫn mình đi gặp vua Diêm La thì nó sẽ chẳng khách sáo gì đâu. Có câu rằng: Dương gian chẳng già trẻ, âm gian thường gặp mặt. (Trên đời này, thần chết chẳng nể nang gì kẻ già người trẻ. Ở dưới âm phủ, ai ai cũng thường gặp nó.)
- Nếu bạn thích nghe kinh: Hãy khuyến khích các người khác cùng tới nghe.
- Ði ngược lại lý âm dương của trời đất thì sẽ sinh bịnh nan y bất trị.
- Tu thì đừng bao giờ tự mình bào chữa (đính chính cho mình), cũng chớ biện luận uốn éo (không thẳng thắn), cũng chớ nói chuyện thị phi (bàn luận chuyện đúng sai, tốt xấu của người).
- Không có chúng sinh thì sẽ không có kinh điển. Không có kinh điển thì cũng không có việc giáo hóa chúng sinh thành Phật.
- Nếu có ai mắng chửi tôi (hòa thượng), bạn nên đảnh lễ kẻ ấy. Bất luận ai hủy báng tôi, bạn cũng chớ biện hộ cho tôi.
- Càng để dành tiền cho con cháu bao nhiêu thì bạn sẽ càng nuôi họa lớn bấy nhiêu. Chẳng để dành bao nhiêu tiền cho con cháu mà ngược lại, tránh được nhiều rắc rối.
- Chớ lãng phí thời gian. Có giờ thì hãy dụng công. Các bạn hãy nỗ lực, siêng năng tinh tấn.
- Hộ pháp tức là đừng làm cho pháp diệt vong.
- Bất kỳ người nào thuyết pháp, hay hoặc dở, bạn cũng không nên sinh lòng chán ghét, phiền não, khó chịu.
- Trẻ không tu, chờ tới lúc bạc đầu mới tu, thì sẽ chẳng kịp.
- Khi trong tâm mình không chấp trước, thì tượng Phật lúc nào cũng khai quang. Nếu tâm mình chấp trước, dù tượng Phật đã được khai quang, cũng chẳng khác gì chưa khai quang.
- Ăn bớt chút thịt thì sẽ bớt chút quái bịnh.
- Phép tắc ở đời là mình phải biết nguồn biết cội; hết lòng lo lắng, một mực hiếu thảo với cha mẹ, cung kính với sư trưởng. Ðó là lý tất nhiên của trời đất vậy.
- Nếu bạn không nghe giảng kinh thuyết pháp, chỉ cắm đầu tu hành thì đó gọi là tu mù, luyện bậy. Dù có tu đến số kiếp nhiều như bụi bặm, bạn cũng chẳng thể thành công.
- Người thiện thì có hào quang trắng sáng. Người ác thì có khí đen đúa hắc ám. Do đó làm thiện làm ác đều tự nhiên hiện ra nơi hình tướng. Bạn có thể che mắt người, nhưng không thể che mắt Phật Bồ Tát và quỷ thần.
- Bạn không nghe giảng kinh thuyết pháp, nhưng lại coi sách báo nhảm nhí khác thì tức là không giữ quy củ rồi đấy.
- Vì bạn nghe giảng mà chẳng hiểu nên bạn phải cần nghe. Nếu nghe mà hiểu thì bạn chẳng cần nghe làm gì.
- Thế nào là núi? Tức là lòng cống cao ngã mạn của mình. Thế nào là biển? Tức là tâm tự ty, cho mình là thấp kém. Vì bạn có lòng tự cao nên có núi cao. Vì bạn có lòng tự ty nên có biển sâu.
- Vì sao mình cần phải thâu hồi ánh sáng, không chiếu rọi ra ngoài? Lấy cây đèn dầu làm ví dụ: Ðốt đèn, ánh sáng tỏa. Nhưng thắp hoài thì dầu cạn, đèn tắt. Nếu lúc cần mới thắp, không dùng thì tắt, đèn sẽ còn dùng rất lâu. (Ðừng đem ánh sáng, trí huệ, tài năng, ra phung phí; phải biết giữ gìn. Tránh bị danh lợi dẫn dụ làm tiêu hao tiềm năng của mình.)
- Phật phóng quang là để phá trừ vô minh của chúng sinh.
- Hoằng dương Phật pháp là việc của mọi người, ai ai cũng nên chia xẻ gánh nặng. Có tiền thì đóng tiền, có sức thì góp sức. Mình phải nỗ lực đoàn kết nhất trí thì mới có thể làm Phật giáo hưng thịnh được.
- Ăn thịt thì dục niệm sẽ nhiều, vọng tưởng cũng nhiều, rất khó nhập định. Không ăn thịt thì dục vọng mới nhẹ, lòng sẽ biết đủ, cũng sẽ bớt vọng tưởng. Ðó là do khí huyết mình nhẹ nhàng, không hỗn trược.
- Người biết tụng kinh thì chẳng những biết tụng kinh có chữ, còn biết tụng cả kinh không chữ. Người biết tụng kinh không chữ mới là người chân chính hiểu Phật pháp.
- Rốt ráo, thế nào là kinh không chữ? Chính là lúc bạn không sinh ra một ý niệm nào. Khi không sinh ý niệm, lúc ấy bạn sẽ quay về với không tịch.
- Người đời có câu nghe rất khắc bạc: Người xuất gia không ham tiền, nhưng càng nhiều càng tốt! Người xuất gia nghe vậy phải phản tỉnh, tự kiểm điểm, phải chăng mình có ý nghĩ như thế? Có thì sửa, không có thì ngừa.
- Niệm Phật một tiếng, sen nở lớn chút. Niệm niệm đều là Nam Mô A Di Ðà Phật thì sen nở lớn như bánh xe. Chờ tới khi bạn vãng sinh thế giới Cực Lạc thì linh tánh của bạn sẽ an trú nơi hoa sen ấy.
- Thế giới Ta Bà thì vạn khổ trùm bủa, vạn ác dẫy đầy. Ai cũng tranh chấp lẫn nhau, chẳng có lúc bình an yên ổn. Ở Cực Lạc thì chẳng có phiền não, chẳng rắc rối gì cả. Vì vậy mình phải cầu sinh tịnh độ, hóa sinh từ hoa sen, diện kiến đức Di Ðà, đạt tới quả vị không còn thụt lùi đọa lạc nữa.
- Nhiều người làm tôi tớ cho thân xác này, thức khuya dậy sớm, là vì sao? Cứu cánh vì mình mà bận rộn? Hay vì bạn? Hay vì người khác mà bận rộn? Tôi tin rằng nhiều người không sao giải đáp vần đề này.
- Nên biết: Người quân tử chỉ lo nghĩ về Ðạo, không lo nghĩ về ăn uống.
- Trong đạo Phật, xử thế với người hay xử lý công việc, mình đều phải dựa vào lòng từ bi hỷ xả, bốn tâm thái không giới hạn. Chớ nên mượn chuyện công để trả thù riêng. Không nên vì mối bất hòa mà mình vạch lông tìm vết, cố ý kiếm lỗi của người. Nhất định mình phải dùng lòng thẳng thắn, không thù oán, không thiên vị để giải quyết việc công.
- Gõ mỏ theo đúng nhịp thì sẽ có công đức. Vừa gõ mỏ vừa tức giận, nên gõ ầm ĩ, hoặc gõ nhẹ hìu đều là lỗi lầm.
- Bởi vì đời trước có tạo nghiệp chướng nên đời này, sẽ có lúc, quỷ tới đòi nợ. Cũng là lúc mà dương khí người này không đủ, âm thịnh dương suy nên quỷ mới thừa dịp tới tìm. Nếu bạn thường thường không chút phiền não, trí huệ hiện tiền, thì quỷ sẽ chẳng tìm thấy sơ hở để nhảy vào phá hại.
- Chân thật niệm Phật tức là đi đứng nằm ngồi gì bạn cũng chỉ biết Nam Mô A Di Ðà Phật, sáu chữ hồng danh. Nếu bạn nhìn nước chảy, biết rằng nước chảy; nhìn gió thổi biết rằng gió thổi, hết nhìn đông lại ngó tây, xem xét động tịnh khắp nơi, thì bạn chẳng chân thật niệm Phật.
- Nếu cứ lộ liễu khoe khoang (tài năng, trí huệ) thì đó thật là hành vi ngu si.
- Sinh mạng không phải là tiền bạc, mà là vô giá bảo. Sinh mạng chẳng thể dùng tiền bạc mua bán. Song có người ở trên đời bán rẻ sinh mạng của mình, cam tâm tình nguyện hy sinh thân mạng để đổi lấy đồng tiền. Trong xã hội, (bất kỳ là người ở trong) tam giáo cửu lưu, ngũ phương bát đức, vì đồng tiền họ có thể bán đứt linh hồn và sinh mạng.
- Ðại công vô tư nghĩa là không ích kỷ, không tự lợi, không có dục vọng. Ðối với tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ thì hoàn toàn không dính mắc, chẳng tham chẳng ái.
- Do kiếp trước tu hành nên kiếp này chuyện gì cũng suông sẽ. Nếu kiếp này tu hành thì kiếp sau còn tốt hơn nữa. Nếu không tu thì tương lai tuyệt đối sẽ không thể như đời này. Ðời sau thuận hay nghịch đều hoàn toàn do mình quyết định. Phật Bồ Tát không thể giúp gì mình được.
- Một tô canh đầy thịt cá (tuy nhỏ), song chứa đựng lòng oán hận, thù hằn sâu như biển. Nói chẳng hết nổi oán thù ấy.
- Trong thịt có chứa một thứ khí ô trược. Ðó là vì nó phát xuất từ vật ô trược mà ra. Vì thế người ăn thịt thì khó có thể trì giới, khó khai trí huệ, khó đắc tam muội.
- Có bạn không xem việc học Phật pháp là trọng yếu, chuyện gia đình mới quan trọng. Họ nói rằng: Tôi phải làm tròn trách nhiệm của tôi đã. Ðến khi y chết, ai gánh trách nhiệm đây? Rõ là y không biết tính toán!
- Không phải chỉ có làm hai thời công phu sáng và tối rồi gọi là tu. Bình thường, nhất cử nhất động, mỗi lời mỗi việc, mình phải tuân theo tiết tấu, quy luật. Bởi vì mỗi người ai cũng có âm nhạc của tự tánh.
- Vì tâm không bình an nên mình mới cần âm nhạc bên ngoài giúp điều hòa tâm thái bên trong. Nếu tâm bạn lúc nào cũng yên ổn bình hòa, tràn ngập một không khí hòa điệu an lạc, thì đó mới chân chính là âm nhạc.
- Các bạn đã tới núi châu báu, chớ nên ra về tay không.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.