Thông tin
Các bài mới
Cảm ơn video của bạn về thói ăn dơi, ăn đỉa, ăn tất cả những con gì bắt được trong hoang dã của người Tàu, người Thái, người Việt mình... Thời làm việc tại Á Châu, tôi có qua lại nước Tàu nhiều lần và cũng có thấy cách ăn uống những thứ "ghê tởm" này của họ. Nói ra thì họ tự ái nhưng không nói, không được. Ngày nay, người Tàu không phải vì đói mà ăn tạp, ăn bẩn và ăn hoang. Họ cho thức ăn là thuốc bổ. Như ăn óc khỉ thì bổ não người, ăn chân gà thì chân người cứng cáp, và ăn tim heo thì tim người khỏe...
Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du. Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Trước khi đi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh và đã gặp Tân! Thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật. Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn.
Tôi sắp kể cho các bạn nghe một chuyện tình. Đây không phải là chuyện tình ly kỳ, lãng mạn của những người trẻ yêu nhau.Cũng không phải là một chuyện tình gay cấn, đầy tình tiết  éo le như trong tiểu thuyết. Mà đây là một chuyện tình nhẹ nhàng, êm đềm, một chuyện tình đơn giản nhưng sâu đậm, mà dấu ấn của nó sẽ tồn tại suốt đời ngay cả khi một trong hai người đã vĩnh viễn ra đi. Niên khoá 1967-1968, tôi học năm thứ nhất Y Khoa Saigon. Khi đi thực tập mổ xác người chết tại Cơ Thể Học Viện, đường Trần Hoàng Quân gần trường Chu Văn An, 
Như thường lệ, mỗi khi năm hết, Tết tới, báo chí Việt ngữ ở Little Saigon đều thực hiện Giai Phẩm Xuân. Viết thì dễ nhưng chọn đề tài không trùng lặp với 12 con giáp (12 chi) cầm tinh xoay vần nên mất thời giờ sao lục. Bước vào năm Canh Tý 2010, báo chí trong nước rầm rộ tung hê hình ảnh “Con Chuột Vàng” đắc tài đắc lợi “chuột sa hũ nếp”. Tháng 10 năm 2019, tôi viết bài Ông Năm Chuột & Số Phận Phan Khôi cho Giai Phẩm Xuân của tuần báo Saigon Nhỏ. Tưởng nhớ 60 năm, ngày mất của cụ Phan Khôi (1959-2019) và đề cập lại bài viết Ông Năm Chuột cũng là bài kết thúc sự nghiệp sáng tác và cuộc đời Phan Khôi trên báo Văn số 36 ra ngày 10/1/1958.
Ngài Long Thọ, Tổ Sư của Trung Quán Luận từng dạy trong Đại Trí Độ Luận rằng: ”Người thực hành giáo pháp của Đức Phật thường phải trải qua những giai đoạn sau đây: Những người nào hành trì giới luật một cách miên mật thì chỉ mới như còn ở ngoài phần da của thân thể. Người nào tu tập Thiền Định một cách thâm sâu thì kẻ ấy đi vào được từng thớ thịt của cơ thể. Người nào có trí tuệ cao vời quán chiếu mọi việc trên thế gian nầy một cách viên mãn cũng chỉ mới đến phần xương cốt của mỗi tự thân. Chỉ có ai đã trải qua được vi diệu thiện tâm thì chính người ấy đã được phần cốt tủy của Phật Pháp”. Bốn giai đoạn trên đây chúng ta thấy nó chẳng đơn thuần chút nào cả. 
Cúng sao, giải hạn để tránh những tai ương là điều mà chưa từng thấy kinh điển nguyên thủy nào của đức Phật nói đến. Đạo Phật chỉ dựa vào luật Nhân quả để hướng dẫn con người thoát khỏi những tai ương, đó là ra sức tu tập trì chay, giữ giới và giữ tâm tỉnh táo, tránh luyến ái vụ lợi. Chánh theo nghĩa Hán Việt là sự đúng đắn, ngay thẳng, liêm khiết; Tín là niềm tin.  Hai từ “chánh” và “tín” ghép lại có thể được hiểu là niềm tin đúng đắn. Trái với từ chánh tín là “mê tín”, là một dạng tin tưởng thiếu cơ sở, mơ hồ, hoang tưởng, thiếu sự nhận định sáng suốt...không đem đến lợi ích cho cuộc sống cá nhân hay xã hội.
Thuở lên năm lên sáu, cứ mỗi độ gió chướng từ biển Gò Công rào rạt thổi vào thành phố đìu hiu nghèo nàn ở quê tôi, cảm giác Xuân về làm tâm hồn tôi cứ lâng lâng, nôn nao, rạo rực đợi chờ từng ngày và từng ngày …! Tuần lễ trước Tết cuối năm âm lịch, Mẹ và Chị tôi tất bật với bếp lò, nào bánh chưng, bánh tét, bánh ú, bánh ít , dưa giá củ kiệu, nồi thịt kho nước dừa thơm phưng phức béo ngậy mùi mỡ, hương nồng nồng nồi canh khổ qua nhồi thịt xông lên mũi ôi sao mà tưởng chừng như muốn ăn cho no nên nức lòng, thỏa dạ …! Tất cả người thân yêu trong gia đình cứ hân hoan vẻ mặt xuôi ngược với chợ Tết mua sắm nhang đèn, hoa quả và quần áo mới cho các anh chị em tôi. 
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Phải niệm Quán Âm Bồ Tát ở mọi thời mọi chốn. Ði đứng nằm ngồi đều phải niệm. Lòng mặc niệm hay miệng niệm đều có công đức như nhau. Do vậy đừng khởi tâm so sánh (công đức của tâm niệm và miệng niệm), mà phải tùy duyên niệm.
- Chờ chết mới niệm danh hiệu đức Quán Âm thì không còn cơ hội nữa. Nên nói rằng: Hãy nhớ tới lẽ vô thường, nên chớ có buông lung.
- Mình gặp người nào thì người ấy hẳn phải có duyên với mình. Hà tất ta phải tranh chấp cải vả. Thật chẳng có nghĩa lý gì.
- Người chân chính tham thiền thì cũng là chân chính niệm Phật. Người chân chính niệm Phật, cũng là người chân chính tham thiền.
- Người có tánh nóng, dễ giận dữ, thì từ sáng tới tối đầu như bốc khói, nộ khí xung thiên. Ðó cũng là biểu hiện của sự thiếu đức hạnh.
- Thiện và ác hai con đường: Tu thì cứ tu, mà tạo tội thì vẫn tạo tội. Nếu là đạo thì hãy tiến bước, nếu không phải là đạo thì hãy lùi lại. Hãy chọn nẻo lành mà theo. Trong nồi lửa bỏng mà rèn luyện thành thân kim cang bất hoại.
- Nếu bạn muốn lập công, lập đức, lập ngôn thì bạn phải dựa vào lục độ. Lục độ tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ bát nhã.
- Thế giới này là thế giới của tiền giấy: Chỉ vì tham tờ giấy lộn này mà người ta quên lãng mất nhân nghĩa đạo đức rồi. Cho rằng đồng tiền là thật: bạn nghĩ như vậy có ngu si chăng?
- Tọa thiền tức là thu hồi cái tâm hướng ngoại, tán loạn. Tức là tâm này chạy đi đâu mất, bây giờ mình tìm nó về lại.
- Người tu nào chú trọng đến thần thông, người ấy là kẻ không có tri thức.
- Nếu người ta không sinh phiền não thì họ sẽ thu hoạch được bảo bối.
- Bạn phải canh chừng lửa vô minh trong lòng. Lửa vô minh này cũng như con cọp khi nổi giận, cũng chính là gốc tội nghiệp của đời trước.
- Ðề phòng lửa vô minh bên trong: trong không có lửa thì ngoài không lửa gì đốt được bạn.
- Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gọi là sáu tên giặc. Không biết xử dụng sáu căn thì chúng biến thành sáu tên giặc. Biết xử dụng chúng thì chúng biến thành hộ pháp.
- Có người nuôi gà nuôi chó. Khi gà, chó chạy ra ngoài, họ liền chạy đuổi theo bắt về. Song khi tâm chạy ra ngoài, chẳng ai chạy theo bắt về lại! Ðó là xả gốc theo ngọn: quên mất gốc (là tâm), thu nhặt ngọn (là phiền não).
- Tôi truyền thọ một yếu quyết cho các bạn. Yếu quyết gì? Khi gặp chuyện cấp bách nguy nan, bạn hãy bình tỉnh, không nên khẩn trương cấp bách, phải gác chuyện sống chết ra ngoài, nhất tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát. Nhất định chuyện nguy hiểm sẽ biến thành bình an, thoát khỏi nguy nan.
- Người chân tu thì chuyên tâm niệm đức Quan Âm cũng sẽ đắc tam muội. Trong cảnh tam muội, lạnh tới đâu cũng chẳng thấy lạnh, nóng cách mấy cũng không thấy nóng, đói khát cở nào cũng không cảm thấy đói khát. Nó kỳ diệu không thể diễn tả được.
- Ðừng sinh phiền não, chớ nghi ngờ,
Kiểm soát chính mình, đừng đụng người.
Nhận mình sai nhiều, bớt cải lý,
An nhiên, thanh tịnh, trí huệ sinh.
Minh tâm: chẳng ngại việc gì khó,
Thấy tánh: đâu còn có lo buồn,
Phật quang nào phải không chiếu sáng,
Lo, nghĩ, hận, oán khiến nhiễu nhương.
- Nếu bạn y theo lý bài thơ trên tu hành, thì hẳn sẽ có cảm ứng đặc biệt.
- Niệm danh hiệu đức Quan Âm, bạn nên học lòng đại từ đại bi, đại hỷ đại xả, đại nguyện đại lực của ngài Quan Âm.
- Nếu muốn tự tại thì bạn phải quét sạch ba tâm và bốn tướng. Ba tâm là tâm suy nghĩ về hiện tại, quá khứ và vị lai. Ba tâm thái này đều không có thực tại, nên gọi là bất khả đắc, không thể nắm giữ.
- Vì sao ở địa vị thánh nhân thì mới có tự tại? Vì thánh nhân không có bốn tướng: không có quan niệm về cái tôi, quan niệm về người, quan niệm về chúng sinh, quan niệm về thọ mạng. Do đó họ đạt tới sự tự tại.
- Vì sao mình mê muội, chẳng giác ngộ? Vì bị trúng độc tham sân si quá sức sâu đậm. Do vậy chẳng thể giác ngộ.
- Thời đại chánh pháp: Ai cũng tu. Thời đại mạt Pháp: Không ai tu. Nếu bây giờ ai cũng tu thì thời mạt Pháp sẽ biến thành thời chánh pháp.
- Ðịnh luật nhân quả là: khởi hoặc (tâm khởi vọng tưởng, si mê), đưa đến tạo nghiệp (thân ngữ ý phát ra hành động, lời nói, suy tư), kết cuộc là thọ báo (thân ngữ ý nhận chịu hậu quả của việc đã làm).
- Từ sống tới chết: một đời người. Thân này như cái bọt trôi nổi đó đây trên mặt nước. Thật là hư vọng, không chân thật. Biến mất trong tích tắc. Vậy thì cần gì phải lưu luyến? Cần gì phải chấp trước.
- Không cầu đạo, không sao thoát đường mê. Muốn thoát lối mê, phải tu đạo.
- Ðời người vô thường, sự nghiệp vô thường, phú quý cũng vô thường. Rằng: Vui là nhân của khổ. Tất cả sự vui sướng khoái lạc trên đời đều ẩn chứa trong nó sự đau khổ.
- Vì sao mình không thể chuyên tâm niệm đức Quan Âm? Vì mình không thể thâu nhiếp sáu căn: tai mắt mũi lưỡi thân ý; không kềm chế sáu tên giặc này. Vì vậy chúng mặc tình gây sóng gió, khiến vọng tưởng nổi dậy. Lúc ấy tâm chẳng thể yên lặng mà cứ hướng ngoại, tự tìm chuyện rắc rối.
- Muốn giác ngộ thì phải ngồi thiền. Ngồi thiền là không mê muội: đó là con đường thoát khỏi tam giới.
- Vì người xuất gia xem nhẹ tánh trọng yếu của việc tụng kinh, (không nhấn mạnh vào việc tu trì chứng ngộ, chỉ chú trọng vào việc cúng tế, lễ lạc) nên thế hệ sau không bằng thế hệ trước. Họ nuôi dưỡng thói quen ham ăn, lười biếng. Thật là điều bất hạnh cho đạo Phật. Nếu không kịp thời sửa đổi quan niệm sai lầm thì tiền đồ của Phật giáo khó có thể tưởng tượng sẽ ra sao.
- Bạn nên vì lợi ích toàn thế giới mà niệm danh hiệu đức Quan Âm. Hãy khiến thế giới tiêu trừ tai nạn. Do vậy làm mọi chuyện, chớ riêng nghĩ cá nhân mình.
- Trong trời đất, mọi sự sinh sinh bất tức, hóa hóa vô cùng (sinh hóa, biến đổi không ngừng) là bởi do có Phật tánh. Chẳng có Phật tánh thì cái gì cũng phải hủy diệt. (Mọi sự tương đối đều chỉ tồn tại trong phạm vi của tánh tuyệt đối).
- Người ta từ đâu tới? Có người nói từ khỉ tiến hóa thành. Song khỉ từ đâu ra? Nếu khỉ có thể biến thành người, sao giờ bây giờ chúng chẳng tiếp tục biến thành người? Lạ thật!
- Có người một ngày không nói thị phi thì giống như một ngày chẳng thể sống. Một ngày không nói dối thì một ngày bức rứt, như không ăn cơm vậy. Sáng tối chỉ sống nhờ nói thị phi, nói dối trá. Bạn thấy có kỳ lạ chăng? Thật khiến mình khó hiểu.
- Hiện tại có người tu thích ở đơn độc nơi một ngôi nhà (tịnh xá). Vì sao? Vì họ không giữ giới luật. Khi chẳng có ai nhìn ngó, thì có phạm giới cũng chẳng ai hay biết. Họ tha hồ muốn gì làm nấy, không ai quản thúc, tự do tự tại, không ràng không buộc. Thế rồi họ chiêu tập người tại gia tới làm lễ này, hội nọ: kỳ thật đó chính là nhờ Phật (đội lốt tu hành) để kiếm cơm ăn, áo mặc.
- Công đức trì tụng chú Ðại Bi không những đẩy lùi nạn trộm cướp, còn làm tiêu trừ trăm bịnh, dẹp tan ma nạn. Do đó mình nên thành tâm tụng trì.
- Kinh Hoa Nghiêm ở đâu thì Phật ở đó. Nó như vầng mây sáng lạn tỏa chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.
- Người quân tử có cái học cải tạo vận mạng. Mạng do mình tạo, phước cầu nơi mình. Khi không làm việc ác thì tự nhiên mạng xấu sẽ biến thành tốt. Không làm lành, chỉ làm ác thì mạng tốt cũng thành xấu. Vận mạng thì biến động, không phải cột trói người ta cứng nhắc, chẳng còn tự do. Ðừng nên mê tín (về vận mạng đã an bài, sắp sẵn).
- Sư phụ chỉ dắt dẫn người đệ tử tới cửa đạo. Tu hay không là ở mỗi người.
- Pháp môn Tịnh độ thích hợp với căn cơ của mọi người. Dùng ít sức mà thành công lớn. Ðúng là pháp môn khế hợp với chân lý, hợp mọi căn cơ.
- Buddha nghe như là chữ Bất đại, không to lớn! Phật thì không lớn hơn ai cũng không nhỏ hơn ai. Nên gọi bất đại chính là Phật!
- Người tu đạo không được tranh chấp. Vì như người lên điện Phật sau thì đứng sau, người tới trước thì đứng trước. Người tới trễ không nên nói: Tôi có đắp y nên tôi phải đứng trước người chẳng đắp y. Tôi phải đẩy y đứng xuống dưới. Ðó gọi là tranh.
- Làm cha mẹ là trả nợ. Làm con cái là đòi nợ. Chúng sinh không hiểu điều đó nên cho rằng (quan hệ cha mẹ con cái) là vui lắm.
- Ðẻ ra thì hai tay trắng. Chết đi thì cũng trắng hai tay. Ðem gì theo cũng không được. Ở lại cũng không xong.
- Do Thái giáo cũng là Phật giáo, Thiên Chúa Giáo cũng là Phật giáo. Tên đổi nhưng ý không đổi. Tôi không xem tôn giáo là tôn giáo. Tôi nhận định rằng tôn giáo chỉ là do nhân tính biến hóa. Do vậy tôi gặp tôn giáo nào thì tôi thuộc về tôn giáo ấy. Không có tôn giáo gì của riêng tôi.
- Chữ bận rộn trong tiếng Hoa thì gồm có chữ Tâm và chữ Vong (mất) ghép lại. Nó cũng giống như chữ quên mất, cũng gồm có chữ Tâm và chữ Vong ghép lại. Do vậy bận rộn đến độ mất tiêu luôn cái tâm, bận rộn tới mức quên bẵng cả chân tâm!
- Phải làm sao tu? Trước hết, phải đoạn trừ dục vọng, cắt đứt tình ái. Không nên cách xa người ta quá, cũng không nên quá gần gũi. Quá xa cách thì sẽ mất đi duyên lành với người. Quá gần gũi thì bị cảm tình chi phối lý trí, chẳng thể tu hành đặng.
- Tu thì không được đeo mặt nạ, giả đò, đóng kịch để người ta xem. Tu thì dựa hoàn toàn vào công phu chính mình. Có thế mới có kết quả. Hễ có một phần thành tâm thì được một phần cảm ứng. Mọi thứ đều nhờ vào lòng thành khẩn, chân thật không hư dối. Ðừng nên tự lừa mình và lừa người.
- Muốn cứu đời, bạn chẳng thể dùng bom nguyên tử, bom khinh khí hay tia laser, vì chúng vốn là thứ hủy diệt thế giới. Chỉ có dùng bát đức: hiếu, để, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sĩ. Tám thứ đạo đức này là linh đan cứu vớt linh hồn chúng sinh, cũng là thuốc mầu cứu sống sinh mạng người ta hữu hiệu nhất.
- Bịnh tuyệt chứng nan y của thế giới là: Sự phá sản của giáo dục.
- Có người nói: Tôi là Phật thiệt! A! Phật thiệt là bạn, vậy Phật giả là ai? Cũng như tổng thống, chẳng bao giờ ngài nói: Tôi là tổng thống thiệt! Nói vậy thì ai là tổng thống giả? Từ đây mà suy ra: hễ nói cái gì thiệt, thì hẳn việc đó có vấn đề.
- Hãy làm mọi việc thiện: tức là bạn hãy tu hạnh thanh tịnh. Không thanh tịnh thì không phải là thiện. Thanh tịnh tức là thiện.
- Bạn cho rằng ăn chay thì ăn trứng cũng được? Cũng được! Chờ tới khi bạn đầu thai làm gà rồi khi đó bạn sẽ hiểu (phận làm gà) chính do ăn trứng gà mà ra.
- Nếu bạn chẳng thể đoạn trừ ái dục thì dù bạn xuất gia tám vạn đại kiếp, bạn cũng chỉ phí thời giờ, tạo tội nghiệp ở trong đạo Phật.
- Cây không gốc thì sẽ khô héo. Người không gốc thì phải chết.
- Bất luận bịnh thống gì cũng do oan nghiệp, chủ nợ tới đòi nợ. Bịnh là sao? Bịnh cũng là cách thuyết pháp, giúp người ta biết thân thể này là khổ, sinh lão bịnh tử là khổ. Lúc nào nó cũng có thể tìm đến bạn. Nó sẽ đánh điện tín, điện thoại hay gởi thư tới nhắn nhủ bạn (dưới hình thức là bịnh khổ). Chẳng những bạn có thể bị bịnh, mai này sẽ phải chết.
- Có sinh ra thì phải già đi, sinh bịnh rồi phải chết. Quá trình ấy dạy mình phải biết cái khổ của chuỗi sinh lão bịnh tử, để mình chuẩn bị làm sao giải thoát, không bị khí số ràng buộc. Do đó vô luận là có bịnh gì, bạn cũng phải phát tâm bồ đề, sinh lòng giác ngộ, xem mọi thứ là vô thường, đau khổ, chân không và vô ngã. Làm được vậy thì bịnh cũng là chuyện tốt.
- Người biết Phật pháp thì không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Những thứ như ngũ nhãn, lục thông, v.v... đều là thứ thừa thải, tu mà cầu những thứ đó thì cũng tựa như leo cây để tìm cá.
- Các bạn nếu học thuộc lòng nhuần nhuyễn Kinh Lăng Nghiêm, thì nhất định sẽ khai phát đại trí huệ, hoạch được biện tài vô ngại.
- Trong thời Mạt Pháp, người bạch y công nhiên nhận đồ cúng dường, hoằng dương Phật pháp. Bạch y tức là người tại gia. Họ công nhiên tụng đám cho người, làm lễ siêu độ, giảng quẻ xăm. Họ lợi dụng Phật giáo để kiếm cơm ăn, áo mặc.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa chia làm bảy quyển, tổng cộng có hai mươi tám phẩm. Mười bốn phẩm trước, là nói về nhân của một thừa. Mười bốn phẩm sau là nói về quả của một thừa. Cũng có thể nói mười bốn phẩm trước là khai quyền hiển thật (Mở bày phương tiện, để hiện ra tướng chân thật), mười bốn phẩm sau là khai cận hiển viễn (Mở bày gần để biết xa), đều nói pháp tối thượng thừa. Phẩm này thuật lại vô lượng vô biên đại Bồ Tát, trụ ở trong hư không, ở thế giới phương dưới, các Ngài từ dưới đất vọt lên. Tại sao ? 
Sau khi nói xong Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương, thì khi sắp nói Phẩm Bồ Tát Diệu Âm, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở trong hội Pháp Hoa trên núi Linh Thứu, phóng ra đại quang minh từ nhục kế (chỗ cao nhất trên đỉnh đầu) tướng đại nhân, chiếu sáng hết thảy thế giới. Lại từ giữa chặng mày, phóng ra tướng hào quang trắng. Nhục kế biểu thị cho quả tròn. Phật viên mãn quả giác đã đến cực điểm. Hào quang trắng biểu thị cho nhân tròn. Trung đạo nhân cũng tròn mà quả cũng tròn, nhân quả không hai, tức nhân tức quả; tức quả tức nhân.