Thông tin
Các bài mới
Nắng lên phủ một lớp sáng vàng lấp lánh lên các mái nhà. Các vị tỳ kheo trẻ cùng nhau xách theo thùng nước, bước ra phía giếng xa để lấy nước trong về pha trà cho các trưởng lão. Tại cốc thị giả, một số vị khác cẩn thận xếp gọn chõng tre rồi trải tọa cụ. Xong xuôi đâu đấy, cũng là đến thời thưa hỏi đạo lý. Các vị tỳ kheo ngồi thành hình vòng cung. Tôn giả Sariputta và tôn giả Anuruddha ngồi phía trên. Chợt có một vị tỳ kheo trẻ ngập ngừng lên tiếng: “Thưa các tôn giả, con có một thắc mắc, cúi xin các tôn giả giải đáp cho con.”
Kinh kể lại rằng, một hôm Tôn giả Tân Đầu Lô ngồi nhập định dưới tán cây Sala đang trổ hoa rực rỡ, thì vua Ưu Điền (nước Kosambi) đi vào vườn với một đoàn tùy tùng đông đảo. Thấy vị Trưởng lão đang ngồi nhập định, các cung nữ tới gần thưa chuyện. Nhân dịp đó, Tôn giả thuyết Pháp cho các cô nghe, khiến họ hiểu rõ về nhân quả và phát khởi lòng kính tin nơi Tam Bảo. Ngay lúc ấy, vua Ưu Điền bước vào. Chứng kiến các cung nữ quên mất phận sự mà mải mê đi nghe thuyết Pháp, vua rất bực bội và cho rằng làm sao một nam nhân có thể không rung động trước các nữ nhân kiều diễm được. Nhưng đến khi nghe Tôn giả tuyên Pháp thì mọi sự giận dữ của vua đã lập tức tan biến.
Sau ba tháng hạ, Tôn giả Đàm Ma Đề Na trở lại tinh xá Ni. Ngài Visakha hay tin nên tới thăm hỏi. Vừa mới gặp lại, dung nghi thanh tịnh của Tôn giả Đàm Ma Đề Na đã làm Ngài Visakha bất ngờ. Ngài đoán rằng Tôn giả đã chứng đắc nên đặt những câu hỏi vô cùng thâm sâu trong giáo Pháp. - Thưa Tôn giả, xin Tôn giả giải đáp cho con những thắc mắc sau ạ. - Hiền giả Visakha, mời Ngài hỏi. - Thưa Tôn giả, Thế Tôn gọi thế nào là “hiện thân”? - Này Hiền giả Visakha, Thế Tôn gọi năm uẩn bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là “hiện thân” của ta. - Lành thay, thưa Tôn giả. Vậy từ đâu mà có “hiện thân” này?
Tứ niệm xứ (hay bốn lãnh vực quán niệm) nằm trong số ba mươi bảy phẩm trợ đạo, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp. Khi Phật sắp nhập Niết-bàn, Ngài A-nan đưa ra bốn điều này hỏi Phật: 1. Ðối với tất cả kinh điển, nên dùng những chữ gì để mở đầu kinh? 2. Khi Phật ở tại thế, Phật là thầy của chúng con, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con tôn ai là thầy? 3. Khi Phật ở tại thế, chúng con ở cùng với Phật, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con nên ở với ai?
Là một đệ tử Phật, nghe giảng giáo lý nhiều, tu tập nhiều, tôi biết yêu là khổ. Nhưng là một con người bình thường, tu chưa chứng gì cả, nên tôi chẳng cưỡng lại được sự rủ rê của tình ái. Ngay lần đầu gặp mặt, nhìn vào đôi mắt cô ấy, tôi thấy như một tia sét đánh thẳng vào tim mình. . . Thế là, tôi đã yêu !!! Đó là một ngày đẹp trời năm 32 tuổi, số phận nghiệt ngã đã đưa tôi đến với nàng. Làm quen với nàng một thời gian, tim tôi như bị sét đánh lần thứ hai, khi biết rằng cô ấy đã đính hôn với người khác. Nhọ thật !
Núi lửa là sự hiện hình của địa ngục trên trần thế và có nhiều chúng sanh địa ngục trú ngụ ở đó. Chồng tôi Alan và tôi đã là đệ tử của Hoà Thượng trên 25 năm nay. Câu chuyện đặc biệt này xảy ra vào năm 1985 khi con gái của chúng tôi là Marcelle vừa được 3 tuổi. Bé sống từ nhỏ ở Vạn Phật Thành và đã quy y với Hoà Thượng từ lúc được 4 tháng. Trước khi bé được sanh ra đời, Hoà Thượng đặt tên cho bé là Diệu Hoa (Đóa Hoa Tuyệt Vời).
Mỗi người hình dáng không giống nhau, thì nhân quả cũng khác nhau. Mỗi người thiếu nợ kẻ khác từ bao đời nay cũng khác nhau. Có nhiều người thiếu quá nhiều nợ, đến đời này trả, trả mãi không hết. Nên nói: “nợ cao như núi”. Đó cũng là núi nghiệp chướng: Núi ấy ngày càng cao lớn, ngày càng sâu dày. Nợ nợ chồng chất, rối rắm vô ngần, chẳng sao gở sạch. Đó là vì duyên cớ gì? Vì là ngày trước họ tính lời quá cao; Đem tiền cho vay, họ lấy lời cắt cổ. Thật là lòng tham không đáy. Họ nghĩ rằng mình chiếm thượng phong, nào ngờ kết quả là mình chịu thua lỗ. Nghiệp chướng của họ ngày thêm sâu dày, đến độ cuối cùng họ chẳng sao rút chân ra được.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Vì sao Phật muốn độ chúng sinh? Bởi vì ngài thấy: Tất cả người nam là cha của ta, tất cả người nữ là mẹ của ta. Bởi vì cha mẹ của ngài ở trong lục đạo luân hồi chịu khổ do đó bất luận thế nào ngài cũng phải độ họ, với hy vọng rằng họ sẽ được ly khổ đắc lạc.
- Ða số người ta chỉ biết làm ăn nhỏ, chẳng biết làm ăn lớn. Vì sao? Bởi vì họ không có đủ hai thứ: Một, vốn liếng thiện căn không đủ; hai, kinh nghiệm trí huệ không đủ. Do đó họ không thể làm lớn, phát triển mạnh. Thế nào là chuyện làm ăn lớn? Tức là chuyện lớn xuất ly sinh tử luân hồi trong tam giới.
- Vọng tưởng thì như biển cả, vốn xưa nay gió im sóng lặng. Nhưng một khi gió nổi thì sóng khởi. Sóng là do gió dấy lên. Nghĩa là khi gió nghiệp dừng thổi thì biển vọng tưởng sẽ im lặng. Làm sao để gió nghiệp dừng lặng? Ðừng tạo nghiệp ác. Rằng: Không làm những chuyện ác, làm toàn những việc thiện.
- Nếu bạn còn thích đẹp đẻ, xinh xắn, mỹ quan thì hẳn thói quen (ham sắc) chưa trừ.
- Nếu bạn còn thích ăn ngon, thích mùi vị thì thói quen (ham ăn) chưa trừ.
- Nếu bạn còn thích trú ngụ chỗ sung sướng, ngủ chỗ êm ái, thì thói (thích hưởng thụ) chưa trừ.
- Các bạn nên biết: Chùa chiền nào xây ra, trãi qua một thời gian, cũng sẽ hoại diệt. Tháp miếu trãi qua nạn lửa rồi cũng bị thiêu hủy. Chỉ có tỉnh tọa (ngồi yên lặng tu hành) - nghĩa là tu hành thành tựu Phật Pháp Tăng, Tam Bảo của tự tánh - tới mức đạt được công đức vô lậu, thì đó mới là thứ vĩnh viễn thường trụ. Lúc ấy bạn không sợ bị mưa gió, lửa đốt, bảo táp nữa. Do đó công đức vô tướng (do tu hành với định lực mà không chấp ngã) thì thù thắng hơn công đức hữu tướng (do làm phước với tâm tán loạn, và với sự chấp ngã).
- Nổi nóng, bực dọc trong lòng mà không dám nói ra, đó là một biểu hiện của sự sân giận.
- Người tu nên dùng đức hạnh để cảm hóa kẻ khác. Không nên dùng thế lực đàn áp người ta. Ðối với ai mình cũng nên nói lời nhã nhặn, đầy đạo lý khiến họ tâm phục, khẩu phục.
- Khi quản lý việc ăn uống của đại chúng, người phụ trách phải biết điều hòa việc ăn uống thì mới tạo công đức. Nếu không biết điều hòa cho hợp lý, tùy tiện cẩu thả thì sẽ tạo tội nghiệp. Hợp với phép tắc thì có công; không hợp phép tắc thì có lỗi. Cẩn thận không phí phạm thực phẩm thì có công. Phung phí thực phẩm thì có lỗi.
- Trung đạo thì không có vui, buồn, giận, sợ, yêu, ghét, dục vọng. Nếu trong bảy thứ tình cảm trên mà chẳng dậy sóng, thì bên trong lòng bạn sẽ chẳng có vọng tưởng, bên ngoài cũng chẳng tham cầu truy đuổi. Khi trong ngoài thân tâm đều thanh tịnh thì đó chính là cảnh giới của tánh định.
- Bảy thứ tình cảm thì hệt như sóng cồn trên biển cả. Nếu sóng dậy ba đào thì thuyền bè ắt lật chìm. Nếu gió ngừng sóng lặng thì thuyền sẽ an bình cập bến. Bởi vậy người tu phải thấu rõ bảy thứ tình cảm ấy. Không phải hiểu ý nghĩa của nó là đủ, mà là phải có năng lực khống chế sự dẫn dụ của nó, điều phục không để chúng tác quái. Nếu không bị bảy thứ tình cảm ấy làm lòng rung động thì mới gọi là tánh định.
- Khi việc tới thì mình ứng tiếp nó, nhưng không có chút tâm phan duyên mới được. (Tâm phan duyên là tâm leo trèo như khỉ, so đo, tính toán ích kỷ; luôn tìm kiếm lợi lộc, tìm kiếm móc nối, không ngừng suy nghĩ kế sách cho mình, vì mình). Khi việc xong rồi thì chẳng lưu dấu tích gì trong tâm, để lòng trong sạch. Mình nên thấu rõ rằng ba tâm thái về quá khứ, hiện tại và tương lai đều không thể giữ được. Sau khi thấu hiểu rồi mình hãy theo đó mà tu trì thì mới thật sự hiểu Phật pháp.
- Ðiều tối kỵ trong lúc tu học là có đầu mà không có đuôi, đi nửa đường rồi bỏ dỡ. Như vậy thì công phu đã làm sẽ bỏ ngang, không thể tiến bước về phía trước. Rốt cuộc sẽ chẳng cách gì tới được kho tàng quý báu.
- Bạn nên nhớ: Làm gì cũng phải có đầu có đuôi. Không nên bị ngoại cảnh làm động tâm khiến bạn thối thất chí nguyện. Bạn phải lập chí nguyện chắc như đá, vững như đồng, không để nghịch cảnh làm rung động, quên mất tâm bồ đề.
- Người học Phật thì nên tin nhân quả vì nhân quả thì không sai một mảy may. Không nên lầm lẫn trong quá trình gieo nhân, gặt quả; cũng không nên hủy báng rằng chẳng có nhân quả. Mình nên hiểu: Nhân quả là định luật ngàn đời bất biến.
- Những người cùng trú ngụ trong chùa Vạn Phật thì phải tôn kính lẫn nhau. Không nên thúc thủ bàng quan thờ ơ với mệnh hệ của kẻ khác. Mình nên học tinh thần của chư Bồ Tát: Khi các ngài thấy chúng sinh thọ khổ trong chốn lửa bỏng, nước dìm, các ngài cảm giác như chính các ngài thọ khổ vậy. Do đó các ngài mới tìm cách để chúng sinh ra khỏi biển khổ.
- Mình biết một chút thì tu một chút. Cứ tích tiểu thành đại, tụ cát thành tháp, khi công phu đủ thì sẽ thành tựu.
- Mình không nên bỏ lỡ thời gian cơ hội quý báu, không nên cô phụ lòng kỳ vọng của thầy bạn: Hãy dũng mãnh tinh tấn tu đạo vô thượng, sớm thành Phật đạo.
- Lập công (làm việc có lợi có ích cho chúng sinh trong đường đạo), lập ngôn (viết lách, giáo dục, đóng góp vào sự hiểu biết và phát triển trí huệ của thế hệ mai sau) trong phật giáo thì mới chân chính là người con Phật.
- Từ nơi cảnh mê mà biết trở về, đó là giác ngộ.
- Người tu tuyệt đối không được nổi lửa giận trong tim gan. Phải nhẫn nhục; vì rằng: Lửa vô minh thiêu sạch rừng công đức. Các bạn xin hãy nhớ điểm này.
- Chư Phật Bồ Tát có lòng: Thi ân không cầu đền đáp, bố thí không hề hối hận. Các ngài có lòng hiền từ đối với kẻ chẳng có duyên, lòng đại bi xem người như mình. Do sự tu hành như vậy nên các ngài mới hoạch được trí huệ siêu việt, thần thông khó lường.
- Ai cũng biết sống trong Tam giới thì không bình an, giống như ở trong ngôi nhà lửa. Nhưng không ai chịu buông bỏ Tam Giới. Biết rõ rằng ngôi nhà lửa Tam Giới thì đau khổ vạn phần, nhưng vẫn cứ muốn lưu luyến ở mãi trong đó, chẳng chút kinh sợ, chẳng chút hốt hoảng. Lại còn nhởn nhơ cho rằng vui sướng lắm vậy.
- Bất luận là ở nơi nào mình cũng nên cúng dường Tam Bảo. Chẳng nên tìm lỗi của Tam Bảo, với thái độ vạch lông tìm vết. Thái độ tìm kiếm lỗi lầm là thái độ cống cao ngã mạn, không phải là thái độ bảo vệ Tam Bảo.
- Suốt ngày sáu căn cứ chạy theo sáu trần, không biết hồi quang chiếu vào bên trong, thì đó gọi là lậu.
- Thế nào là của báu trong nhà? Báu này không phải là châu báu, vàng bạc của thế gian đâu. Tức là chân tâm thường trụ, hay Như Lai Tạng, tánh giác ngộ sáng chói mầu nhiệm.
- Người đời thì cả ngày cạnh tranh phấn đấu không ngoài chuyện làm tiền, kiếm ăn, áo mặc, chỗ ở, tìm danh lợi. Ai cũng bị năm thứ ấy làm cho điên đảo; từ sáng tới tối chẳng có thời gian nghỉ ngơi. Nếu có lúc không lên sở làm việc thì ở nhà lại coi TV, xem xi nê, chơi máy vi tính, đi du ngoạn. Ðủ thứ chuyện để người ta lúc nào cũng bận rộn hoài.
- Các bạn nên biết Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, cũng tức là Phật, Pháp, Tăng và giới luật, cũng chính là giới định huệ. Nếu bạn muốn cung kính Phật pháp tăng thì trước hết hãy cung kính Kinh Lăng Nghiêm.
- Trên trần gian này, tam giáo cửu lưu, ngũ phương bát đức, tất cả những loài hình hài sắc tướng, có hạnh có nghiệp, ai ai cũng muốn mưu sinh không ai muốn mưu tử. Chẳng ai nghĩ tới tương lai mình sẽ chết làm sao. Sống thì giờ đây đang sống rồi, nhưng chết thì sẽ ra sao? Bởi vì không ai nghĩ tới vấn đề này nên mới nói rằng, chẳng có ai mưu tử.
- Làm gì cũng có chừng mực, đừng bao giờ quá cực đoan.
- Công phu khuya và công phu chiều là việc công, không ai ở trong đạo tràng được trốn tránh. Không tham gia các công khóa ấy là khinh thường đạo tràng, khinh khi chư Phật, phương trượng. Nếu khinh khi phương trượng thì bạn không thể trú ngụ trong chùa được.
- Bí quyết của người tu hành: Ăn ít.
- Tu mà không biết sửa đổi lỗi lầm thì cũng như chẳng tu.
- Không thể tùy tiện lấy đồ của chùa đem cho người ngoài. Bạn cho rằng làm như vậy là có công đức, thật sự ra đó chính là ăn cắp đồ vật của tăng-già. Hành vi lấy đồ đạc công cộng, tự ý mình riêng tặng cho người khác vì muốn giao hảo tốt với họ, là hành vi phá hoại quy củ của đạo tràng.
- Phàm lệ, tất cả mọi công đức tạo ra, mình phải nhất định hồi hướng cho chúng sinh trong pháp giới. Nếu không vậy thì mình sẽ trở thành ích kỷ.
- Có Kinh Lăng Nghiêm là có Phật pháp. Vì muốn hộ trì Phật pháp, đầu tiên cả mình phải hoằng dương Kinh Lăng Nghiêm. Mình phải học thuộc kinh, biết giảng giải kinh; sau đó theo lý kinh mà tu hành.
- Rớt mất chân tâm thì mình sẽ rơi vào biển khổ, thoát không ra.
- Người xuất gia cần biết rằng: Khi đạo nghiệp chưa thành tựu, chớ nên để cho mắc nợ. Nếu bạn bị mắc nợ thì bạn sẽ bị trói cột, không thể giải thoát. Nhất là những thứ duyên không thanh tịnh, nó sẽ hại bạn khiến bạn rút chân không ra, chẳng thể tự tại được.
- Là người, ai cũng phải trãi qua sinh lão bịnh tử, bốn cái khổ lớn. Bất kỳ người nào cũng phải chịu mấy cái khổ này. Trừ phi bạn tu đạo liễu sinh thoát tử mà thôi.
- Các bạn thiện tri thức! Hãy nhớ tới cái khổ sinh tử, mà phát tâm bồ đề. Ðừng nên trôi nổi trong bể khổ nữa. Phàm, ai không muốn rời bể khổ đều là kẻ ngu muội.
- Chuyện gì trên đời cũng đều có quan hệ liên đới. Giống như ba tôn giáo Phật, Lão, Nho thì quan hệ mật thiết với nhau. Nho giáo ví như bậc tiểu học. Ðạo giáo ví như bậc trung học. Phật giáo ví như bậc đại học.
- Chúng sinh nghĩa là do chúng duyên hòa hợp mà sinh ra. Chúng sinh không phải chỉ có loài người mà còn bao gồm tất cả loài có sinh mệnh.
- Trên đời sự việc thật là kỳ cục. Càng không có thì người ta càng tham. Càng có thì lại càng không thể buông bỏ.
- Người có lòng nóng giận là người ngu muội.
- Người giàu có là người không thích chiếm tiện nghi. Người chân chính phú quý thì không thích chiếm thượng phong, lấn át người khác. Kẻ nào thích chiếm thuợng phong thì kẻ ấy mới thật là nghèo nàn.
- Làm người thì thật là nguy hiểm. Làm Phật mới thật bình an. Nếu bạn thích nguy hiểm thì cứ làm việc nguy hiểm. Nếu bạn muốn bình an khoái lạc thì hãy làm việc bình an khoái lạc.
- Lúc bình thường thì mình phải biết niệm Phật, tu pháp môn tịnh độ. Tới khi lâm chung thì mình mới không sinh hoảng hốt, luống cuống, mà sẽ an lạc vãng sinh về cõi Cực Lạc.
- Tới lúc chết thì bất luận là mình giàu tới đâu cũng chẳng thể mua được sự bất tử.
- Khi người ta thọ ngũ giới, thì mỗi giới họ giữ có năm vị thần hộ pháp bảo vệ họ. Nếu bạn không giữ giới thì năm vị thần ấy sẽ chạy mất. Thay vào đó sẽ có năm vị ác thần tới.
- Quay lại tìm đáp án nơi chính mình tức là chân thật chấp nhận rằng mình sai lầm, không bàn luận gì tới lỗi lầm của người khác.
- Có những người tiền kiếp đã tạo ra rất nhiều sát nghiệp; ví dụ như săn bắn, lưới cá, giết gà, mổ trâu, thọc tiết heo, làm thịt chó. Vì những người ấy tạo sát nghiệp quá nhiều nên kiếp này họ mắc phải đủ thứ bịnh kỳ quái nan y, khó trị.
- Phật pháp không tách rời tâm mỗi người, do đó Phật pháp chính là tâm pháp. Nếu tâm ta không có lòng ích kỷ, vọng tưởng, ngã mạn cuồng loạn, tham vọng dã tâm, thói hư tật xấu, thì đó chính là Phật pháp.
- Tinh tấn: Không có nghĩa rằng khi bạn ăn uống nhiều hơn kẻ khác tức là bạn tinh tấn đâu. Tinh tấn cũng không phải rằng khi làm việc thì bạn làm ít hơn người khác. Ðến khi ngủ thì người khác chưa ngủ, bạn đã ngáy; người ta đã thức dậy, mà bạn còn chưa tỉnh. Cũng không phải rằng bạn tinh tấn cầu danh cầu lợi, mà là tinh tấn phát đại bồ đề tâm.
- Con quỷ vô thường chẳng kể người già con nít gì cả: Hễ tới lúc phải dẫn mình đi gặp vua Diêm La thì nó sẽ chẳng khách sáo gì đâu. Có câu rằng: Dương gian chẳng già trẻ, âm gian thường gặp mặt. (Trên đời này, thần chết chẳng nể nang gì kẻ già người trẻ. Ở dưới âm phủ, ai ai cũng thường gặp nó.)
- Nếu bạn thích nghe kinh: Hãy khuyến khích các người khác cùng tới nghe.
- Ði ngược lại lý âm dương của trời đất thì sẽ sinh bịnh nan y bất trị.
- Tu thì đừng bao giờ tự mình bào chữa (đính chính cho mình), cũng chớ biện luận uốn éo (không thẳng thắn), cũng chớ nói chuyện thị phi (bàn luận chuyện đúng sai, tốt xấu của người).
- Không có chúng sinh thì sẽ không có kinh điển. Không có kinh điển thì cũng không có việc giáo hóa chúng sinh thành Phật.
- Nếu có ai mắng chửi tôi (hòa thượng), bạn nên đảnh lễ kẻ ấy. Bất luận ai hủy báng tôi, bạn cũng chớ biện hộ cho tôi.
- Càng để dành tiền cho con cháu bao nhiêu thì bạn sẽ càng nuôi họa lớn bấy nhiêu. Chẳng để dành bao nhiêu tiền cho con cháu mà ngược lại, tránh được nhiều rắc rối.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.