Thông tin
Các bài mới
“Việt Nam là quốc gia khởi nghiệp hay quốc gia say xỉn?” Ðó là câu hỏi của ông Nguyễn Phương Nam, nhân viên của cơ quan Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam về tệ trạng bia rượu ở nơi nầy. Theo Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia Việt Nam, năm 2019, cả nước đã xảy ra 12,492 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11,516 người, bị thương 7,914 người; con số này không bao giờ giảm mà tăng theo thời gian. Báo cáo tổng kết cũng của Ủy ban này năm 2012 ghi nhận cả nước xảy ra 36,376 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9,838 người, bị thương 38,060 người. 
Đó là một buổi chiểu của năm 1987. Một buổi chiều mà tôi cứ hay bị ký ức lôi về căn phòng tối thăm thẳm không lời đáp. Đó là năm thứ 2 trung cấp, tôi đang theo học ở Nhạc Viện TP. Buổi chiều với giờ học Trích giảng Âm nhạc của thầy Trương Hữu Lang. Cả lớp bỗng sững lại. Gương mặt ông thấy cũng bối rối khi bà bí thư Đảng Uỷ Nguyệt Anh dẫn theo một công an viên đến lạnh lùng gọi tên một người bạn của tôi bước ra khỏi lớp. 
Cái miệng có hai chức năng chánh: ăn và nói. Xưa nay ít có ai để ý đến những chức năng phụ của cái miệng – tiếng là phụ nhưng cũng không kém phần quan trọng – như: ngáp, ợ, ho, khạc, thở khi nào bị nghẹt mũi v.v… Có lẽ tại vì nó… hạ cấp quá nên bị coi thường! Và cũng tại vì có sự coi thường đó mà người ta chỉ chú trọng dạy trẻ con học ăn học nói thôi. Thành ra, lớn lên, phần đông ngáp ơi ới không che miệng, ợ ồng ộc nghe chỏi lỗ tai, ho thẳng vào mặt người đối diện, còn khạc nhổ thì tùm lum bất cứ chỗ nào… 
Thông tin b.ệ.n.h nhân A-I-D-S chuẩn bị nhập viện sinh con đã khiến cả khoa sản náo loạn. Các y tá đồng thanh nói: - “Ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bị lây n.h.i.ễm.?” Ngay cả một số bác sĩ cũng phản đối: - “Nếu bệnh nhân khác bị lây nhiễm qua dụng cụ phẫu thuật và giường chiếu thì phải làm thế nào?”. Sau một hồi tranh luận, cuối cùng bệnh nhân cũng được sắp xếp vào chiếc giường số 13, phòng cách ly đặc biệt của khoa sản. Khi trưởng khoa phân công trực ban, không ai muốn nhận vào trong đó.
Con gái của một người mẹ Trung Quốc đi học ở trường có chương trình trao đổi học sinh với một trường trung học ở Hoa Kỳ, vì vậy có một nữ sinh người Mỹ đã đến sống ở nhà của bà. Trong những ngày tiếp xúc, cô bé này đã gây ấn tượng sâu sắc với bà. Bà cho biết : Lần đầu tiên gặp, cô bé cao hơn con gái tôi một cái đầu, da trắng , dáng người cao gầy, cô bé nở nụ cười chân thành vô cùng lôi cuốn. Bữa sáng đầu tiên, tôi chuẩn bị bánh bao và hoành thánh Dương Châu, các cháu đều ăn rất vui vẻ, cô bé người Mỹ cũng dùng đũa, nói là muốn "nhập gia tùy tục "
Nếu không đi bộ thì anh đi xe. Thành phố này người ta dùng xe máy để đi và xe hơi để khoe, vì đi xe hơi có thể chậm hơn đi xe máy rất nhiều nhưng nhiều người vẫn mua với mục đích ra “oai”. Em thân yêu! Anh tới Hà Nội đã được hai tuần rồi. Chắc em cũng biết, hai tuần trong đời một con người không đáng là bao, nhưng em cứ tin rằng hai tuần ở đây mang lại cho anh nhiều cảm xúc hơn hai mươi năm ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Thế giới của chúng ta rộng lớn và kỳ lạ, và Hà Nội có cả hai đặc tính đó, đã vậy còn kỳ lạ và rộng lớn một cách vẻ vang.
Tôi đã nói nhiều về Nguyễn Văn Gôm chỉ vì Gôm đã trở thành người bạn tư tưởng của tôi. Hàng ngày chúng tôi chuyện trò với nhau thật là thoải mái tâm đắc, tin cậy lẫn nhau. Tôi nhớ lại, chỉ sau mấy ngày Gôm ở trại Vĩnh Tiến chuyển về. Tôi để ý một anh cứ vào những buổi trưa, hoặc buổi tối sau giờ sinh hoạt của toán hay tổ. Anh có một ngọn đèn con tí làm bằng chiếc lọ Peniciline; anh ngồi miệt mài đọc sách. Cho đến một buổi tối hôm ấy, một tên bộ đội đi đi, lại lại gác bên ngoài đã đập báng súng vào cửa sổ chỗ anh ta đang ngồi đọc sách quát inh ỏi:  
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Bạn nên thâm nhập tu trì một pháp môn: Người tọa thiền thì phải chuyên tâm trì chí học thiền tông. Người học giáo thì phải chuyên tâm trì chí học Giáo tông. Người học luật thì phải chuyên môn học Luật tông. Người tu trì chú thì phải chuyên tâm học Mật tông. Người tu niệm phật thì cũng phải chuyên tâm niệm Phật. Khi niệm tới chỗ nhất tâm không tạp loạn thì tuyệt đối bạn sẽ vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bạn chớ nên vừa học thiền, lại muốn học giáo, lại muốn học luật, lại muốn học mật, lại muốn học tịnh. Khi bạn tham nhiều món thì khó mà nhai cho kỹ. Mình phải chuyên nhất tâm chí, dụng công tu hành thì mới thành tựu. Giống như bạn chỉ có một cái miệng, ngậm đầy mồm thức ăn, thì không làm sao nhai cho nát được. Miệng quá đầy, muốn ăn cơm cũng nuốt không vô. Học Phật cũng vậy: Bạn phải từ từ từng bước từng bước tuần tự, chầm chậm tiến lên. Ðừng ham mau ham lẹ. Rằng: Dục tốc, bất đạt - Muốn mau thì chẳng tới nơi.
- Chân chính nhẫn nại là sao? Ðối với những người không như bạn, địa vị của họ thấp hơn bạn, trí huệ của họ cũng kém bạn, học vấn cũng chẳng bằng: Thứ gì họ cũng thua bạn. Khi họ chẳng lịch sự, nhã nhặn tử tế đối xử với bạn, bạn có thể nhẫn nại thì đó chính là sự nhẫn nhục chân chính. Sự nhẫn nhục này không phải là sự nhẫn nhục đối với kẻ địa vị cao hơn bạn. Ðối với kẻ địa vị cao hơn: Bạn gọi là bị khuất phục, không phải nhẫn nại.
- Nổi nóng là ác. Không nổi nóng là thiện.
- Người học Phật không nên hướng ngoại: Ðông tây nam bắc, chỗ nào cũng đi đây đi đó, lãng phí hết thời gian.
- Vì sao người ta có bịnh? Vì lúc bình thường không chú trọng đến sức khỏe. Người tại gia nên bớt làm việc dâm dục, tăng cường việc thể dục, vận động. Ðó là căn bản của sức khỏe. Nếu bạn cứ suốt ngày hành dâm, không giữ phép tắc quy củ thì thân thể vĩnh viễn không thể khỏe khoắn được.
- Vật cực tất phản, bỉ cực thái lai - việc phát triển tới cực điểm thì sẽ quay ngược hướng, bế tắc đến cực điểm thì sẽ hanh thông. Phản giả: Ðạo chi động, nhược giả đạo chi dụng - Có việc tương phản thì (đạo) mới có chuyển động, cái hữu dụng (của đạo) nằm trong sự mềm yếu. Nếu bạn có thể nhìn bề trái của mọi chuyện để tìm điều hay điều tốt thì mọi sự sẽ OK, không có gì rắc rối.
- Lúc ăn uống, bất luận là đồ chín đồ sượng, đồ ngon đồ dở, không nên chấp trước vào mùi vị của nó.
- Người tu đạo ở nơi nào cũng phải biết tiết kiệm giữ phước, không nên lãng phí tiền bạc của cải. Làm như vậy lâu ngày chày tháng thì sẽ tích lũy đức hạnh cho chính mình. Do hạt giống tiết kiệm như vậy, sẽ sinh ra cây lá sum sê, quả trái cũng tràn đầy. Nếu không phân bón, tưới nước chăm sóc thì cây lá rất dễ khô héo rồi chết mất. Do đó người tu đạo phải chú trọng đến đức hạnh, là giới điều căn bản đệ nhất.
- Ở đời này, kẻ muốn cái giả thì vất bỏ cái thật đi. Bạn muốn tìm cái thật thì phải buông bỏ cái giả. Chẳng thể muốn tu pháp xuất thế mà chẳng buông bỏ pháp thế gian.
- Phật pháp là tôn giáo đề xướng lý vô ngã, không tán thành việc xem tướng, coi tử vi, bói toán, càng không tin vào phong thủy. Bởi vì những thứ ấy đi ngược lại với Phật pháp, ngược với đạo. Do đó mới cấm chỉ không phổ biến trong đạo. Khi mình tin vào những thứ ấy thì sẽ tồn tại cái ngã. Từ đó tất mọi chuyện đều từ cái ngã này có, đều vì cái ngã này mà tính toán. Có ngã, không có người, là lý chẳng phù hợp với Phật pháp.
- Pháp mà tôi thuyết thì giản dị nông cạn lắm. Pháp gì? Là pháp ăn uống, mặc áo quần, ngủ nghỉ. Do đó có người tới cầu pháp, tôi liền dạy họ nên ăn ít một chút, mặc ít một chút, ngủ ít một chút. Bởi vì: Bớt mặc thì tăng phước, bớt ăn thì tăng thọ, bớt ngủ thì tăng lộc. Nếu ba ngôi sao này (phước lộc thọ) cùng chiếu vào, chẳng phải đó cũng là Phật pháp sao?
- Trong gan nếu không lửa, (không nổi giận)
Bịnh gì cũng tránh thoát.
Ðây là thuốc nhiệm mầu,
Lại bị cất một xó. (không chịu dùng)
Ta bà ha!
- Chấp trước nghĩa là gì? Khi không tin vào nhân quả bạn sẽ sinh lòng chấp trước sâu dày. Thứ chấp trước này đưa tới việc hủy báng, cho rằng chẳng có lý nhân quả. Do vậy người Phật tử phải nhận diện rõ lý nhân quả. Vì sao cần tin sâu nhân quả? Không tin nhân quả, bạn khó làm người Phật tử. Không đọc tụng đại thừa kinh điển, thì sẽ không khai trí huệ.
- Thế nào là vọng tưởng? Tức là dục vọng tràn ngập.
- Siêng năng trì giới cần thực hành ở chỗ người ta không thể thấy. Không phải là siêng năng trước mặt kẻ khác, giữ giới trước mặt người ta. Phải tại nơi một mình bạn đơn độc, mà siêng năng trì giới.
- Hôm nay tu, nghĩ rằng mai thành Phật! Vừa cuốc đất đã tưởng đào xong giếng! Không có việc đó đâu! Tu hành thì như mài sắt thành kim, công phu đầy đủ thì tự nhiên thành tựu.
- Tôi sửa chữ Phật giáo thành Tâm giáo vì rằng ai ai cũng có tâm. Tu hành là bỏ vọng tâm, tồn chân tâm. Còn vọng tâm thì còn là phàm phu, có chân tâm thì là Phật.
- Khi tham thiền tới chỗ chín mùi thì chẳng những không còn vọng tượng mà tánh nóng cũng tiêu tan, phiền não giảm bớt, nhân phẩm sẽ cao vút, khí độ cũng thêm vĩ đại.
- Tông chỉ của Phật giáo là ai cũng có thể thành Phật. Những chúng sinh trong hiện tại là cha mẹ của mình trong quá khứ, đồng thời cũng là chư Phật trong tương lai. Nếu mình sinh lòng sân hận với chúng sinh thì cũng chính là sinh lòng sân hận cha mẹ và chư Phật vậy. Mình sẽ trở thành kẻ đại bất hiếu.
- Khi mình đang ở trong thời tai nạn bịnh hoạn nhiễu nhương, mình nên chân thật, thành khẩn dụng công tu hành thì mới biến khí xấu xa thành kiết tường, tai kiếp hóa ra bình an.
- Khi ở trong vòng sinh tử, mình muốn thoát sinh tử thì phải bỏ ra chút sức lực. Chẳng dễ dàng thoát sinh tử đâu. Dùng sức lực nghĩa là sao? Tức là làm bất kỳ chuyện gì mình phải chân thật làm nó. Gặp phải nghịch cảnh, càng khó khăn trắc trở, càng phải không động tâm, không nổi giận nóng nảy. Ðó tức là chăm sóc miếng đất trong tâm mình, hàm dưỡng bầu trời của tự tánh. Làm như vậy thì mình thêm vào chính khí giữa trời đất. Mình mới đúng là người chân chính tu đạo, thật sự tin Phật.
- Nhìn thủng tức là hiểu suốt; buông xả tức là giải thoát. Có giải thoát thì bạn mới tự tại. Không thể giải thoát thì bạn không thể tự tại. Tự chẳng tại là vậy.
- Tu hành chẳng phải chuyện gì khác đâu: Ngay nơi thân tâm tính mạng này mà dụng công phu.
- Pháp này là trừ tham sân si, tu giới định huệ. Bạn muốn đi tìm thứ huyền diệu, thì chỉ đi ngược lại với đạo. Ðạo này là: Tâm bình thường là đạo, tâm chính trực là đạo tràng.
- Người tu phải nhớ: Chẳng nên có nhân duyên quan hệ ô nhiễm với kẻ khác. Vì như vậy sẽ sinh triền nhiễm, trói buộc, rối bù, rốt cuộc sẽ làm bạn đọa lạc.
- Tôi chỉ hóa duyên lớn, không hóa duyên nhỏ (hóa duyên tức là đi xin). Thế nào là hóa duyên lớn? Tức là tôi muốn xin vô minh, sân giận, phiền não của các bạn. Khi các bạn không có ba thứ vô minh, sân giận, phiền não thì sẽ hưởng kiết tường như ý. Nếu có ba thứ ấy thì có hung thần, việc xấu. Do vậy các bạn à! Hãy buông xả chuyện bạn chẳng thể buông xả, việc bạn vất bỏ được càng nên vất bỏ gấp! Vất bỏ vô minh, nóng giận, phiền não thì bạn sẽ tốt thôi.
- Mục đích chủ yếu của tu hành là để liễu thoát sinh tử, không phải vì cầu cảm ứng.
- Người tham thiền cần nhận thức vấn đề căn bản. Ðó là gì? Tức là thói quen tật xấu. Khi mình đả thất, tức là đả (nghĩa là đánh) bẹp thói hư tật xấu.
- Bất kỳ việc gì nếu bạn xem nó thật bình thường, chẳng có gì quan trọng lắm thì bạn sẽ chẳng có gì rắc rối. Khi bạn cho chuyện này việc nọ là trọng yếu, là quan trọng lắm thì nó sẽ rắc rối.
- Tu đạo thì phải tu đạo đức chân chính, không trở ngại kẻ khác, cũng chẳng lo sợ kẻ khác trở ngại mình.
- Việc khó khăn nhất trong lúc tu là chặt đứt phiền não. Chặt đứt có nghĩa là biến, biến phiền não thành bồ đề.
- Xem nhẹ tài sắc danh thực thùy, coi nó chẳng có gì, quên nó đi, đó mới chính thật là người tu hành.
- Thế giới Cực Lạc là do tâm hiện ra. Tự tánh của ta là Tịnh Ðộ, tự tánh của ta là đức A Di Ðà. Khi không có vọng tưởng, thì tâm đó chính là Tịnh Ðộ. Khi không có phiền não, thì tâm ấy chính là A Di Ðà.
- Ðạo quý tại tâm chuyên nhất. Cũng như dụng binh quý ở tinh luyện, không phải ở số đông. Mỗi cử chỉ hành vi của mình không được rời xa tự tánh. Khi ở trong đại chúng thì phải giữ gìn lời lẽ, đề phòng sáu tên giặc (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý). Ðừng để sáu tên giặc lôi đi.
- Tin Phật thì mình chớ chia rẽ, coi (tôn giáo mình) là hơn hết, cho rằng mình đúng (kẻ khác sai), mình thì hay ghê lắm, đặc biệt lắm. Khi có một ý niệm như vậy thì mình chẳng kham việc tạo dựng. Mỗi người con Phật, mình cần nên có lòng rộng rãi bao dung mọi sự, đùm bọc mọi loài. Trong phạm vi của đạo Phật, mình không có kẻ thù.
- Khi niệm danh hiệu đức Quan Thế Âm Bồ Tát, mình (chỉ mấy người tu ngụ trong chùa) không nên ngày đêm cứ khởi vọng tưởng, rằng: Sáng ra chưa ăn gì cả, tối lại cũng chẳng có trà uống, khổ quá, chịu hết được rồi. Phải chạy đi thôi!
- Thiếu nhẫn nại thì pháp gì tu cũng không thành. Không có lòng nhẫn nại thì thường cảm thấy việc này không đúng, chuyện kia không tốt. Việc gì cũng trái ý mình. vậy thì bạn có thể tu gì được? Ðạo thì chẳng có ngã kiến, cũng chẳng có ngã chấp.
- Người tu hành phải tu vô ngã tướng. Nếu không có ngã tướng, thì có thể chịu đựng mọi chuyện; mọi cảnh giới tới, mình không động tâm, vì mình xem mình như là hư không. Cảnh giới tới cũng phải tu hành, nghịch cảnh tới, cũng phải tu hành. Thuận cảnh tới, không sinh vui mừng, nghịch cảnh lại, chẳng sinh lo buồn. Cảnh nghịch hay thuận mình phải biết rõ ràng. Nếu có thể như như bất động thì mình không bị cảnh giới nào lay chuyển. Nếu mình liễu liễu thường minh thì mới chuyển xoay cảnh giới.
- Người tu không đắp y thì cũng như đã hoàn tục, chẳng khác gì người phàm tục. Cũng không phải mặc áo tràng, đeo ... thì chứng minh rằng mình là kẻ xuất gia. Ngay như dù có đắp y, mà ngày ngày cứ phạm giới, hoàn toàn chẳng chân thật tu hành, thì cũng không đáng gọi là xuất gia. Hà huống nếu bạn không đắp y, thì đã không có tướng Tỳ kheo rồi.
- Ma là thứ giúp đỡ mình tu đạo. Ma giúp mình ở mặt trái, xem mình có chí nguyện kiên cố hay chăng. Nếu bạn thật kiên cố thì dù có ngàn con ma hại, bạn cũng không thay đổi, vạn con ma phá, bạn cũng không thối sụt. Cái gì bạn cũng không sợ, vì bạn không có gì mong cầu.
- Muốn dưỡng khí, bạn không nên nói chuyện nhiều quá. Người tu nếu không biết ít lời thì sẽ chẳng thể tu đặng. Không nuôi dưỡng cái khí lực thì chẳng có pháp. Cứ nói chuyện hoài thì pháp sẽ mất hết. Bấy giờ xem bạn còn tu đạo gì nữa?
- Kỳ thật vạn sự vạn vật đều thuyết pháp. Cái bàn nói cái pháp của cái bàn. Cái ghế nói pháp của cái ghế. Việc gì chuyện gì cũng chuyển pháp luân. Người chuyển pháp luân của người. Con mèo chuyển pháp luân của con mèo. Nếu bạn hiểu rõ, thì bạn sẽ nghe được cái pháp hiểu rõ. Nếu bạn không hiểu rõ thì bạn chỉ nghe cái pháp ngu si.
- Ðừng để danh lợi làm đầu óc mê muội. Tới chết thì vẫn hai tay trắng. Rằng: Ðừng để tới già mới học đạo, mộ phần đầy dẫy đám thiếu niên.
- Tật xấu của tín đồ Phật giáo là ai cũng cho mình đúng, chẳng quan tâm đến ai khác; không có người nào tự nhận mình là sai lầm, ngược lại, bài xích lẫn nhau, dèm pha nói xấu lẫn nhau.
- Trong quá trình tu hành không có lúc nào mình được lười biếng. Tu đạo thì phải kiên trì hoài hoài, không để gián đoạn. Nếu không thì tu hằng hà sa số kiếp mà cũng như nấu cát mà đòi có cơm. Chẳng thể có chuyện đó.
- Có chân chính biện tài vô ngại thì không cần nói lời chải chuốt. Bởi vì lời lẽ phát xuất từ tự tánh quang minh, trong kho tàng trí huệ của Như Lai. Dùng lời chọn lọc, chải chuốt, lại có phản tác dụng, biến tốt thành xấu. Người xưa nói:
- Thông minh là do làm âm đức. (Âm đức là việc tốt mình làm trong im lặng, không cho ai biết)
Âm đức dẫn vào đường thông minh.
Không làm âm đức để thông minh.
Thông minh sẽ bị thông minh lừa.
Thương thân: đừng để thân mình phạm pháp.
Thương nhà: đừng để gia đình bị tan nát.
Thương nước: hãy hy sinh cho đất nước.
- Không phải rằng ăn chay là giữ giới sát đâu. Cũng chớ nói rằng: Tôi không có chính tay giết chúng sinh nào, rồi cho rằng không phạm giới sát. Giới sát cần phải trong tâm mình không khởi lòng sân hận đối với chúng sinh.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.