|
|
|
|
|
|
|
“Bấy giờ Đại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật: Thế Tôn! Như Phật nói về tâm giải thoát như vậy, nghĩa ấy chẳng đúng. Vì sao thế? Vì tâm vốn không bị trói buộc. Tại sao như thế? Bản tánh của tâm không bị tham, sân, si trói buộc. Nếu vốn không có trói buộc thì sao lại nói tâm khéo giải thoát? Bạch Thế Tôn! Nếu bản tánh của tâm không bị tham kết trói buộc thì do những nhân duyên gì mà có thể trói buộc được? Ví như người vắt sừng, sừng vốn không có sữa nên dù dùng nhiều sức thì sữa cũng không do đâu mà có. Tâm cũng như vậy, vốn không có tham nay sao có thể có? Nếu vốn không có tham mà sau mới có, thì chư Phật và Bồ tát vốn không có tướng tham nay đáng lẽ cũng có.
Buổi sáng hôm ấy, có bốn người dắt theo một cậu bé bước vào tinh xá xin được gặp tôn giả Sariputta. Tôn giả tiếp họ tại am thất. Dẫn đầu đoàn là một cụ già ăn mặc sang trọng, trên người đeo nhiều trang sức. Những người đi theo có vẻ là con cháu cụ. Tôn giả Sariputta đặc biệt chú ý đến cậu bé đi cùng Cậu trạc tám tuổi, gương mặt tươi sáng và hiền lành. Đôi mắt cậu tỏa ra ánh nhìn điềm tĩnh nhưng đôi khi thoáng có một vẻ trầm tư lạ lùng. Dưới đuôi mắt trái là vài vết sẹo mờ khiến cho gương mặt có nét cương nghị hiếm khi thấy ở một đứa trẻ cùng trang lứa. Bằng cử chỉ lễ phép, cậu chắp tay cúi chào tôn giả rồi đứng nép lại phía sau.
Buổi sáng hôm ấy, có bốn người dắt theo một cậu bé bước vào tinh xá xin được gặp tôn giả Sariputta. Tôn giả tiếp họ tại am thất. Dẫn đầu đoàn là một cụ già ăn mặc sang trọng, trên người đeo nhiều trang sức. Những người đi theo có vẻ là con cháu cụ. Tôn giả Sariputta đặc biệt chú ý đến cậu bé đi cùng Cậu trạc tám tuổi, gương mặt tươi sáng và hiền lành. Đôi mắt cậu tỏa ra ánh nhìn điềm tĩnh nhưng đôi khi thoáng có một vẻ trầm tư lạ lùng. Dưới đuôi mắt trái là vài vết sẹo mờ khiến cho gương mặt có nét cương nghị hiếm khi thấy ở một đứa trẻ cùng trang lứa. Bằng cử chỉ lễ phép, cậu chắp tay cúi chào tôn giả rồi đứng nép lại phía sau.
Năm Quang Tự thứ tám, tức năm 1882, khi ấy Hư Vân Đại Lão Hòa Thượng bốn mươi ba tuổi, phát tâm triều bái Ngũ Đài Sơn, là nơi Thánh địa trụ tích của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Đầu tháng bảy, từ núi Phổ Đà phía đông bờ biển Nam Hải, Ngài khởi hương, đi ba bước lạy một lạy, triều bái trực chỉ thẳng đến núi Ngũ Đài thuộc miền Bắc. Ngài vượt biển, đi qua Hồ Châu, Tô Châu, Thường Châu. Ngày đi đêm nghỉ, gió mưa sáng tối vẫn đi, cứ như thế mà lạy. Dù vui khổ đói khát, không quên chánh niệm. Đến cuối năm thì nghỉ tại chùa Sư Tử.
Khi nhân duyên đã hội đủ, Hoàng hậu Maya hoài thai và đản sinh Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhartha). Ngày Thái Tử đến với trần gian, cả đất trời bừng rạng, nhân thiên hòa ca đón mừng một vị Thánh nhân xuất thế. Thế nhưng, khi Thái Tử mới bảy ngày tuổi thì Hoàng hậu Maya qua đời. Đất nước Sakya trải qua những ngày đầy đau buồn, tiếc nhớ. Niềm thương yêu trong lòng dạt dào thôi thúc, Ngài Ba Xà Ba Đề quyết định ở lại thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) để chăm sóc cho Thái Tử. Không lâu sau, Đức vua tấn phong Ngài là Hoàng hậu. Kể từ đây, Hoàng hậu Ba Xà Ba Đề chính thức trở thành Di mẫu của Thái Tử Tất Đạt Đa, và Ngài thường được gọi là Kiều Đàm Di (Gotami), tức người di mẫu thuộc dòng họ Gotama.
Sáng hôm sau, dân làng hối hả mang trái cây, cơm, bơ sữa, tới cúng dường từ sớm. Sau khi đón nhận vật thực, Đức Phật và chư tăng khởi hành. Từ nơi đầu hàng, Phật khẽ quay lại nhìn, tôn giả Ananda hiểu ý bước đến đi sau Phật. Tăng đoàn bắt đầu rời đi khỏi khu vườn sala, người dân quỳ gối hai bên đường tiễn đưa. Đức Phật và tăng đoàn xuôi về phía nam. Con đường dẫn qua cánh đồng xanh mướt, xuyên qua những cánh rừng bạt ngàn. Tăng đoàn bước đi trong ánh nắng trải dài tít tắp như những dải lụa vàng. Phật đặt từng bước khoan thai, Người không bao giờ vội vàng nhưng cũng không chần chừ. Tôn giả Ananda theo phía sau, lặng lẽ, dưới bóng lưng Phật cao lớn và vững chãi.
Một vị sư tu thiền trên núi, có thần thông, ngồi một chỗ mà biết được chuyện ở xa. Đến nỗi hôm nào có ai đến thăm sư đều biết trước, sợ người ta đi lạc nên chủ động xuống đón giữa đường. Một đêm đang ngồi thiền, sư thấy một vị tiên phong đạo cốt hiện ra khen: “Con đã chứng được lăng nghiêm đại định”. Kết quả là vài hôm sau sư phát điên. Thì ra từ bấy lâu vị này đã kiêu mạn do kết quả tâm linh của mình nhưng chưa đủ để điên, cần một chất xúc tác để châm ngòi cho tâm kiêu mạn bùng phát lên. Thế là ma vương hiện ra dưới hình thức một tiên ông, khen sư đã chứng được “lăng nghiêm đại định”, thúc đẩy tâm kiêu mạn này đến mức phát điên.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Lúc tu đạo không cần mình phải dùng sức mạnh để đối phó với chướng ngại. Nếu bạn chân thành thì tự nhiên mọi chuyện sẽ giải quyết êm đẹp.
- Không thể muốn tu pháp xuất thế, đồng thời chẳng chịu buông bỏ pháp thế gian. Hai chân đạp lên hai chiếc thuyền: Một thuyền đi Giang Bắc, một thuyền đi Giang Nam. Ðó là chuyện không thể làm đặng.
- Nếu muốn cái độc trong thế giới tiêu trừ thì mọi người phải ăn chay, không ăn thịt.
- Ai mà không chấp trước? Chớ nghĩ rằng, lúc tôi không có việc gì làm, tức là tôi không chấp trước. Xem thử lúc có việc, cảnh giới tới, thì bạn sẽ ra sao. Lúc không có việc gì, bạn không có phiền não, thì đó chưa phải là thiệt. Phải chờ lúc cảnh giới tới, nếu bạn nhận thức được nó, thì đó mới đáng kể.
- Người học Phật chúng ta cần thiết phải thâm nhập kinh tạng, thì mới có trí huệ rộng lớn như biển. Không thâm nhập kinh tạng thì trí huệ không sao rộng sâu như biển. Không thâm nhập kinh tạng thì cái gì sẽ như biển? Phiền não của bạn sẽ rộng như biển. Chấp trước của bạn cũng sẽ sâu như biển. Tà kiến của bạn cũng đầy như biển. Do đó việc đọc tụng kinh điển đại thừa thật vô cùng trọng yếu.
- Người xưa nói: Vạn ác, dâm đứng đầu. Ðó là đường chết, không thể đi. Bạn cứ làm chuyện dâm dục thì cũng như đi vào đường chết.
- Ðừng cho việc thiện quá nhỏ nên không làm, đừng cho việc ác nhỏ quá nên làm luôn. Việc tốt dù nhỏ đến đâu, mình cũng phải làm. Việc xấu tuy là nhỏ song mình chớ làm.
- Tu hành thì phải nhịn khổ.
- Không tranh, không tham, không truy cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối: Ðó là việc vốn rất dễ làm, chẳng ai cưỡng bách bạn làm cả. Nhưng bởi vì bạn không chịu làm nên nghịch cảnh mới tới. Nghịch cảnh đó là việc tranh giành, việc tham lam, truy cầu, ích kỷ, tự lợi, dối trá. Từ đó mới có nạn hoạnh nghịch. Khi gặp nghịch cảnh thì bạn chịu không nổi. Vậy thì khi bạn nói dối trá, sao chẳng cảm giác là chịu không nổi chớ?
- Giới tức là cử tâm động niệm, bạn không được sinh tất cả thứ gì xấu ác.
- Ðịnh tức là thành tích của tu giới. Nếu bạn trì giới cho lâu thì sẽ có định lực. Ðịnh lực tiếng Phạn gọi là samadhi hay tam muội, nghĩa là chính định hay chính thọ. Chính định thì khác với tà định. Chính thọ thì cũng khác với tà thọ. Chính định chính thọ thì mới hợp với chánh pháp. Còn tà định và tà thọ thì không phù hợp với pháp.
- Do định phát huệ. Có trí huệ mình mới nhận thức được Phật pháp. Nhận thức được Phật pháp rồi thì mới có thể thành Phật. Do vậy tu giới định huệ là điều kiện tối căn bản để thành Phật.
- Vì sao thế giới càng ngày càng tệ? Bởi vì người ta ai cũng tranh: Bao gồm tranh danh, tranh lợi, tranh quyền hành, tranh địa vị. Nghiêm trọng nhất là tranh sắc.
- Các bạn xem: Chư đại đức cao tăng từ ngàn xưa đều từ trong khổ hạnh mà tu hành đắc đạo. Không có một vị nào do hưởng thọ mà khai ngộ. Các bạn đọc hết Ðại Tạng Kinh, cũng tìm không ra một vị.
- Nếu bạn có thể làm ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh, thì niệm Phật giống như bỏ viên ngọc (làm lắng bùn) vào trong nước đục vậy. Nước đục không thể nào chẳng lắng trong. Khi tiếng niệm Phật vào tâm loạn, thì tâm ấy vốn đầy dẫy vọng niệm, cũng sẽ từ từ theo tiếng niệm Phật mà hóa mất, thành duy nhất một tiếng niệm Phật.
- Ðối với ma, bạn không nên có tâm xem nó là thù địch, mà phải xem nó là vị thiện tri thức giúp bạn tu hành.
- Học Phật thì phải đem chân tâm ra học. Nhất cử nhất động, mỗi lời mỗi việc, phải hướng về điều chân thật mà làm.
- Nhiều đời nhiều kiếp mình tạo nghiệp khác nhau, nên vọng tưởng cũng không giống nhau. Nghiệp nặng thì vọng tưởng nhiều, nghiệp nhẹ thì vọng tưởng ít. Ðó là tỷ lệ giữa nghiệp và vọng tưởng.
- Trong chùa, mình phải tiết kiệm tất cả mọi thứ, vì rằng: Thương tiếc vật của thường trụ (chùa), như bảo vệ con mắt mình.
- Không yêu không ghét là trung đạo. Tu đạo là tu cái gì? Chính là tu trung đạo. Ðối với ai mình cũng đối xử bình đẳng, từ bi quan hoài. Song le bạn phải cẩn thận trong hành động, không để lọt vào lưới tình, rọ ái.
- Tâm của mình thì kẻ khác (tha) ở (tại). Không phải là mình (tự) ở (tại). Vì kẻ khác ở nên dù mình có đó nhưng tâm mình không ở đó.
- Người tu phải làm sao khôi phục trở lại cái không. Nghĩa là mình phải phản bổn, hoàn nguyên để viên mãn bản tánh là tạng đại quang minh, là trí huệ tròn đầy như kính (đại viên kính trí), không có gì thiếu sót.
- Thế nào là động đất? Tức là khi lòng dục vọng động. Không động đất tức là Niết Bàn.
- Có người nói: Tâm tôi già rồi. Tâm này là tâm sinh ra do sự tương giao của căn (giác quan) với trần (cảnh bên ngoài), không phải là cái chân tâm thường trụ, viên minh tịch chiếu. Nếu bạn thật sự thương yêu chúng sinh, bỏ mình giúp người, thì dù có tuổi tác cao niên tới đâu , cũng biến thành thanh xuân hạnh phúc.
- Ở bất kỳ trường hợp nào người tu cũng phải biết dấu đi ánh sáng (che đi trí huệ, tài năng), không thể chơi nổi, làm vẻ ta đây hay giỏi để người ta thấy.
- Có chấp trước thì đó là nhân tâm. Không chấp trước thì mới là đạo tâm.
- Mắt quán tưởng đức Quan Âm Bồ Tát ở trước mặt, ngàn mắt nhìn mình, ngàn tay bảo vệ. Tai nghe danh hiệu Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát đưa vào trong tâm. Miệng niệm tên ngài rõ ràng từng chữ. Nhớ ngài cũng rõ ràng. Nơi sáu căn, tai mắt mũi lưỡi thân ý, bạn đều phải niệm đức Quan Thế Âm.
- Không có công đức thì khi chết sẽ rất đau khổ.
- Tu thì không được đeo mặt nạ, treo đầu dê nhưng bán thịt heo, làm những chuyện không chân thật, không đúng đạo lý. Tu thì phải chân thật, bước cho chắc chắn, thật sự dụng công tu trì.
- Chú Ðại Bi và Quán Thế Âm Bồ Tát là hai mà không phải hai. Không hai mà là hai. Không thể tách rời hai thứ ấy được. Tôi hy vọng các vị thiện tri thức có thể thành tâm tụng trì chú Ðại Bi, để tiêu tai trừ nạn.
- Tu thì không được rao bán việc tu của mình, cũng không được quảng cáo mình. Khi rao bán việc tu hành thì mình sẽ bị ma chướng.
- Phật và ma thì chỉ cách nhau một niệm. Phật có lòng từ bi, còn ma thì có lòng hiếu thắng hơn thua.
- Thiên địa sinh ra từ trung đạo. Chư Phật, Bồ Tát, La hán cũng sinh ra từ trung đạo. Trung đạo là mẹ chung cho Phật và chư Thánh hiền. Không nghiêng về không, không nghiêng về có, cứ miên mật như vậy mà tu pháp trung đạo. Tham thiền, ngồi lắng lòng đều là tu pháp trung đạo. Nếu luận hình tướng thì trung đạo là số một; nếu luận về vô hình tướng thì trung đạo là số không. Không là nghĩa rốt ráo của trung đạo.
- Tu hành thì phải trầm lặng, yên tĩnh. Không phiền não, không cống cao ngã mạn.
- Người học Phật phải làm cho Phật giáo ngày một thêm sáng lạn rạng rỡ. Làm sao? Ðầu tiên phải có phẩm hạnh đạo đức, tâm chí rộng trùm thái hư, lòng dạ bao la như pháp giới.
- Vì sao nói nếu tâm bạn không có quỷ thì con quỷ bên ngoài chẳng thể hại bạn? Con quỷ bên ngoài có là do tâm bạn có quỷ. Trong tâm bạn không có quỷ thì con quỷ bên ngoài sẽ không tới. Con quỷ bên trong gồm có năm loại: tham lam, sân giận, si mê, kiêu mạn, nghi ngờ. Cũng là năm thứ: thù hằn, oán ghét, áo não, tức giận, phiền muộn.
- Mình không chịu phát khởi trí huệ. Ngày ngày cứ dùng sức mạnh của vô minh phiền não. Ðụng một chút là nổi lửa giận lên rồi. Rằng: Lửa vô minh, ông thần cọp! Nóng giận là do gốc của tội nghiệp kiếp trước. Không có tội nghiệp thì sẽ không có lửa vô minh. Lửa vô minh mà bộc phát thì tham sân si đều tới đủ. Các bạn thử hồi quang tự chiếu, xem có đúng như vậy không.
- Vô minh có hai kẻ đồng lõa giúp sức, kết thành một băng đảng. Cứu cánh chúng là ai? Một ăn uống, hai là dâm sắc. Một cái tham ăn, ham uống. Một cái háo sắc, tham dâm. Hai cái này giúp cho vô minh làm đủ mọi chuyện xấu.
- Tới chỗ chẳng cầu, sẽ hết lo. Biết chuyện càng ít, bớt phiền não.
- Vô luận đối diện với bất kỳ cảnh giới nào, bạn cũng phải có thái độ: Có cũng như không, thật cũng như giả. Phải nhớ đừng nên được chút ít rồi cho là đủ, nhận cái giả cho là thiệt.
- Ăn uống giúp tăng dục vọng. Dục vọng giúp thêm vô minh.
- Bồ Tát sợ nhân không sợ quả, phàm phu sợ quả không sợ nhân. Khi Bồ Tát còn trong lúc trồng nhân thì ngài vô cùng cẩn thận, một chút cũng chẳng làm càn. Ðến lúc quả báo tới thì ngài không sợ hãi. Nhưng kẻ phàm phu thì bình thường lúc gieo nhân chẳng sợ gì cả. Sát sinh, trộm cắp, dâm loạn, dối trá, rượu chè, cờ bạc, hút sách ma túy. Những thứ ấy bạn dám nghĩ dám làm, đến lúc thọ quả báo thì mới than khổ không thôi.
- Trên đời bất luận là ăn cơm, mặc áo, ngủ nghỉ, mình đều ở trong phạm vi của Phật pháp. Tiếc là chúng ta không biết thể hội Phật pháp trong sinh hoạt hàng ngày, cứ hướng ngoại tìm kiếm. Thế nào là kẻ ngoại đạo? Chính là kẻ tìm cầu pháp ở ngoài tâm.
- Mọi người không nên coi thường chính mình, vất bỏ mình đi, tự cam chịu đọa lạc.
- Vô luận là mình phạm giới ở nơi thân như giới sát, đạo, dâm; hoặc phạm giới nơi lời nói: Nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác; hoặc là phạm giới nơi tâm: Khởi tham sân si, mình phải thành tâm sám hối. Nếu không thì mình sẽ đọa vào bùn lầy, càng lún càng sâu, tội nghiệp càng làm càng thêm nghiêm trọng. Mình sẽ bị đè đến nghẹt thở, chẳng sao trốn thoát.
- Các bạn nên biết, mình sống trên đời, chẳng khác gì cá nằm trong vũng nước cạn. Chẳng bao lâu thì ô hô ai tai, nước sẽ cạn khô. Từ vô lượng kiếp tới ngày nay, mình không biết tu hành: Sinh ra rồi chết, chết rồi lại sinh. Thật đau lòng thay. Tại sao cho đến ngày nay mình còn trù trừ chờ đợi, chưa chịu tu hành?
- Ái dục chính là sinh tử. Sinh tử chính là lòng ái dục. Ái dục là gốc của sinh tử. Nếu không trừ bỏ lòng ái dục vô minh thì rốt ráo không thể nào thoát khỏi biển ái sinh tử.
- Vì sao có việc không kiết tường? Vì trong tâm không kiết tường. Một khi bạn trồng nhân xấu thì sẽ gặt quả báo xấu. Nếu mình có thể sửa lỗi làm lành thì có thể biến chuyện xấu thành chuyện tốt. Do đó mà thấy, vận mạng có thể đổi thay, nó hoàn toàn nằm trong tay mình. Nên nói: Ðại thiện, đại ác thì siêu xuất khỏi số mạng.
- Không thể có chuyện là chẳng đoạn trừ lòng dâm mà có thể thành Phật. Trong thiên hạ không có chuyện đó. Ðời nay đa số người ta thích mau chóng, thích có kết quả ngay, nên khi họ nghe nói có pháp huyền diệu thì liền bị mê hoặc rồi rơi vào lưới ma. Ðến lúc chết mà vẫn cho là có pháp bí mật, hay mật pháp! Bí mật? Bí mật! Bí mật đến độ phải vào địa ngục luôn!
- Tu thì phải tu với cái tâm như em bé sơ sinh: Trong lòng chẳng vương vấn một chuyện gì. Phải giống như trẻ thơ, mình phải phản lão hoàn đồng. Nhưng không phải phản lão hoàn đồng là bắt bạn phải uống sữa như con nít, mà là muốn bạn phải hết sạch tham sân si mạn nghi. Ðó gọi là phản bổn hoàn nguyên, nghĩa là tâm trí bạn tựa hồ trẻ thơ, thiên chân hoạt bát, không chút lười biếng, giải đãi, không chút ý tứ muốn tranh giành háo thắng, cũng chẳng có quan niệm về mình về người. Cũng như là: Xưa nay không một vật ở đó, thì bụi trần dựa vào đâu mà dính vào.
- Người ta nói bạn một câu mà bạn khó chịu, không vui. Ðụng một sợi lông là bạn đau đớn tới tim can. Thậm chí nói bạn nhổ một sợi lông để lợi thiên hạ, bạn không chịu đâu. Có tâm ích kỷ như thế thì không thể tu hành gì được. Người tu đạo thì đừng nên có quan niệm về cái tôi, về người khác, đừng có ý niệm về chúng sinh hay về thọ mạng.
- Cái lậu (chỗ lũng) lớn nhất là dục lậu - lòng dâm dục. Khi có ý dâm dục thì cũng như bị giặc cướp tới cắp, cũm hết tài sản bảo vật. Cũng giống như gỗ bị mối ăn thì gỗ thành vô dụng. Lại cũng như món ăn ngon mà bỏ chút phân vào thì chẳng ai dám ăn. Ba ngày nôn mửa là khác!
- Người xuất gia phải đau lòng nhớ nghĩ tới vấn đề sinh tử để phát tâm bồ đề. Không thể ăn no rồi chờ chết. Rằng: Một ngày còn làm sư, một ngày còn phải gõ chuông. Làm sư mà có tư tưởng như vậy thì đối với chuyện sinh tử của mình hoàn toàn không thể tự chủ.
- Chúng ta phải quyết định mãnh liệt, nhất định rửa lòng đổi dạ, phá trừ sắc thái mê tín, tiêu diệt thái độ ích kỷ, tự lợi.
- Tôi xin đem Vạn Phật Thành cống hiến cho toàn nhân loại và tất cả tín đồ Phật giáo ở toàn thế giới.
- Các bạn chớ nên suốt ngày sầu muộn, chẳng thể dương mày. Việc gì cũng phải nhìn nó một cách nhẹ nhàng, xem như mộng như huyễn. Hãy thảnh thơi, điềm đạm xử lý mọi sự. Trên đời mọi sự đều là hư vọng, chỉ cần bạn hết lòng tận lực làm tròn bổn phận là đủ. Ai sinh ra đời cũng chỉ là để trả nợ mà thôi.
- Hồi quang phản chiếu, tìm đáp án nơi bản thân. Hãy xem mình đã sinh ra bao nhiêu niệm lành, bao nhiêu niệm ác, khởi bao nhiêu vọng tưởng. Niệm lành chưa sinh, hãy làm nó sinh ra. Niệm lành đã sinh ra thì làm nó tăng trưởng. Chưa sinh niệm ác thì đừng sinh nó. Ðã sinh niệm ác thì diệt nó đi. Không tùy tiện, bừa bãi, khiến lãng phí thời gian, mạng sống. Vọng tưởng nào có giá trị nhưng không thể thực hiện được thì đừng nghĩ ngợi lăng xăng. Vọng tưởng nào chẳng chút giá trị, đương nhiên càng không nghĩ tới. Người chân chính biết dụng công thì lúc nào cũng kiểm thúc chính mình. Ði đứng nằm ngồi chẳng hề tách rời nhà (chân tâm hay bồ đề tâm).
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|