|
|
|
|
|
|
|
Câu chuyện diễn ra trong một lần vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) tổ chức một buổi diễu hành cho dân chúng được dịp chiêm ngưỡng sự giàu sang của hoàng gia. Vào đời xưa nhiều khi một năm một lần hay vài lần, vua sẽ ngồi trên lưng voi, có kiệu, có lính hầu, có kèn trống, cờ hoa, có các cung nữ đi hai bên cùng diễu hành qua những đường phố chính cho người dân rải hoa và tung hô. Sở dĩ có tục lệ này là vì nếu vua ở trong cung mãi thì người dân với vua dường như có khoảng cách quá xa, nhưng nếu vua đi dạo lững thững một mình thì không an toàn, cũng không đúng kiểu cách long trọng.
Thoại Ngọc Hầu, một danh thần của nhà Nguyễn, công thần trong việc gầy dựng cơ nghiệp của Vua Gia Long (Nguyễn Ánh), người có nhiều công lao to lớn đối với đất nước, vùng đất Nam Bộ và đặc biệt là vùng đất An Giang. Tầm nhìn chiến lược và những công trình Ông để lại hậu thế không những đã đặt nền móng cho quá trình khẩn điền, mở cõi vùng Nam Bộ trong thế kỷ XIX mà còn mang ý nghĩa đặc biệt đến hôm nay và mai sau.
Trong hơn nửa thế kỷ qua, câu chuyện giữa Hoa Kỳ, phương Tây và Trung Quốc có thể tóm lại bằng một hình ảnh: một con hổ được nuôi lớn bằng tiền, công nghệ và thị trường của chính những người bây giờ đang run sợ trước nanh vuốt của nó. Từ quyết định không dùng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Triều Tiên, đến chuyến đi lịch sử của Tổng thống Nixon sang Bắc Kinh, đến việc trao ghế Hội đồng Bảo an và đưa Trung Quốc vào hệ thống thương mại toàn cầu – từng bước một, Mỹ và phương Tây đã giúp một nhà nước nghèo đói, lạc hậu trở thành cường quốc thứ hai thế giới, nhưng lại không hề trở nên dân chủ hơn mà ngày càng hung hăng, bá quyền hơn.
Người nào cũng mang trong mình một đầu đạn nguyên tử (phiền não), chỉ chờ cơ hội bùng nổ. Sức mạnh của phiền não còn ghê gớm hơn sức mạnh của đạn nguyên tử nữa. Các vị thử coi! Ngày nay loài người trên thế giới rất dễ nóng giận. Không kể nhân dân nước nào đó chẳng có công phu tu dưỡng, mà đầu óc còn đầy rẫy những tư tưởng A-tu-la, họ giống như là những chuyên gia về đấu tranh, từ sáng đến tối chỉ nhằm tìm phương cách làm sao đấu tranh cho thắng lợi. Trong tình huống như vậy, làm cho sát khí bốc lên, tràn ngập tam thiên đại thiên thế giới. Trên không trung đặc một bầu khí độc, khiến trong đời sống của nhân loại phát sinh những chứng bệnh kỳ quặc.
Có những lúc bạn cảm thấy cuộc đời mình như đi lùi: làm nhiều nhưng được ít, cố gắng mãi vẫn bế tắc, việc nhỏ cũng hóa lớn, chuyện tốt chưa thấy đâu mà xui rủi kéo đến dồn dập. Đó không phải trời bất công, mà là dấu hiệu của cạn phước. Người có phước đi tới đâu cũng thấy cửa mở. Người hết phước đi tới đâu cũng gặp cửa đóng. Đó là sự vận hành rất tự nhiên của nhân quả.
Trong đời này, có lẽ không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của cha mẹ nhìn thấy con mình bị b ệnh tật, hư hỏng, mê game, nghiện ngập, hay lầm lạc trên đường đời. Không ít người đã khóc, đã cầu xin, đã tìm mọi cách, từ thuốc men, bác sĩ, đến giáo dục, đến lời khuyên, nhưng rồi vẫn rơi vào bế tắc. Vì sao vậy? Vì nghiệp duyên giữa cha mẹ và con cái không phải chỉ hình thành trong một kiếp này, mà là chuỗi dài của vô lượng kiếp quá khứ. Đứa con đến với ta, không phải ngẫu nhiên. Nó là nhân quả kết nối, là tấm gương phản chiếu nghiệp và tâm của chính cha mẹ.
Sau khi xuất gia, thân quyến và bè bạn vẫn đến thăm hỏi Ngài thường xuyên. Họ cúng dường lên những món ăn thơm ngon, đồ dùng hảo hạn và chăm sóc Ngài không khác lúc còn tại gia được hưởng cuộc sống sang quý. Vì thế, để quyết tâm tu hành, Tôn Giả rời đến khu nghĩa địa trong rừng Sitavana, chuyên chú trong công phu thiền định. Rừng Sitavana là một nơi vắng vẻ và ghê rợn. Những tử thi được đặt trơ giữa các khu đất trống, mặc cho sự tàn hoại của nắng, gió, sương đêm, rắn rết, côn trùng. Nền đất phủ dày lá khô và gai nhọn. Mùi xác thối rữa bốc lên nồng nặc.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Chớ lãng phí thời gian. Có giờ thì hãy dụng công. Các bạn hãy nỗ lực, siêng năng tinh tấn.
- Hộ pháp tức là đừng làm cho pháp diệt vong.
- Bất kỳ người nào thuyết pháp, hay hoặc dở, bạn cũng không nên sinh lòng chán ghét, phiền não, khó chịu.
- Trẻ không tu, chờ tới lúc bạc đầu mới tu, thì sẽ chẳng kịp.
- Khi trong tâm mình không chấp trước, thì tượng Phật lúc nào cũng khai quang. Nếu tâm mình chấp trước, dù tượng Phật đã được khai quang, cũng chẳng khác gì chưa khai quang.
- Ăn bớt chút thịt thì sẽ bớt chút quái bịnh.
- Phép tắc ở đời là mình phải biết nguồn biết cội; hết lòng lo lắng, một mực hiếu thảo với cha mẹ, cung kính với sư trưởng. Ðó là lý tất nhiên của trời đất vậy.
- Nếu bạn không nghe giảng kinh thuyết pháp, chỉ cắm đầu tu hành thì đó gọi là tu mù, luyện bậy. Dù có tu đến số kiếp nhiều như bụi bặm, bạn cũng chẳng thể thành công.
- Người thiện thì có hào quang trắng sáng. Người ác thì có khí đen đúa hắc ám. Do đó làm thiện làm ác đều tự nhiên hiện ra nơi hình tướng. Bạn có thể che mắt người, nhưng không thể che mắt Phật Bồ Tát và quỷ thần.
- Bạn không nghe giảng kinh thuyết pháp, nhưng lại coi sách báo nhảm nhí khác thì tức là không giữ quy củ rồi đấy.
- Vì bạn nghe giảng mà chẳng hiểu nên bạn phải cần nghe. Nếu nghe mà hiểu thì bạn chẳng cần nghe làm gì.
- Thế nào là núi? Tức là lòng cống cao ngã mạn của mình. Thế nào là biển? Tức là tâm tự ty, cho mình là thấp kém. Vì bạn có lòng tự cao nên có núi cao. Vì bạn có lòng tự ty nên có biển sâu.
- Vì sao mình cần phải thâu hồi ánh sáng, không chiếu rọi ra ngoài? Lấy cây đèn dầu làm ví dụ: Ðốt đèn, ánh sáng tỏa. Nhưng thắp hoài thì dầu cạn, đèn tắt. Nếu lúc cần mới thắp, không dùng thì tắt, đèn sẽ còn dùng rất lâu. (Ðừng đem ánh sáng, trí huệ, tài năng, ra phung phí; phải biết giữ gìn. Tránh bị danh lợi dẫn dụ làm tiêu hao tiềm năng của mình.)
- Phật phóng quang là để phá trừ vô minh của chúng sinh.
- Hoằng dương Phật pháp là việc của mọi người, ai ai cũng nên chia xẻ gánh nặng. Có tiền thì đóng tiền, có sức thì góp sức. Mình phải nỗ lực đoàn kết nhất trí thì mới có thể làm Phật giáo hưng thịnh được.
- Ăn thịt thì dục niệm sẽ nhiều, vọng tưởng cũng nhiều, rất khó nhập định. Không ăn thịt thì dục vọng mới nhẹ, lòng sẽ biết đủ, cũng sẽ bớt vọng tưởng. Ðó là do khí huyết mình nhẹ nhàng, không hỗn trược.
- Người biết tụng kinh thì chẳng những biết tụng kinh có chữ, còn biết tụng cả kinh không chữ. Người biết tụng kinh không chữ mới là người chân chính hiểu Phật pháp.
- Rốt ráo, thế nào là kinh không chữ? Chính là lúc bạn không sinh ra một ý niệm nào. Khi không sinh ý niệm, lúc ấy bạn sẽ quay về với không tịch.
- Người đời có câu nghe rất khắc bạc: Người xuất gia không ham tiền, nhưng càng nhiều càng tốt! Người xuất gia nghe vậy phải phản tỉnh, tự kiểm điểm, phải chăng mình có ý nghĩ như thế? Có thì sửa, không có thì ngừa.
- Niệm Phật một tiếng, sen nở lớn chút. Niệm niệm đều là Nam Mô A Di Ðà Phật thì sen nở lớn như bánh xe. Chờ tới khi bạn vãng sinh thế giới Cực Lạc thì linh tánh của bạn sẽ an trú nơi hoa sen ấy.
- Thế giới Ta Bà thì vạn khổ trùm bủa, vạn ác dẫy đầy. Ai cũng tranh chấp lẫn nhau, chẳng có lúc bình an yên ổn. Ở Cực Lạc thì chẳng có phiền não, chẳng rắc rối gì cả. Vì vậy mình phải cầu sinh tịnh độ, hóa sinh từ hoa sen, diện kiến đức Di Ðà, đạt tới quả vị không còn thụt lùi đọa lạc nữa.
- Nhiều người làm tôi tớ cho thân xác này, thức khuya dậy sớm, là vì sao? Cứu cánh vì mình mà bận rộn? Hay vì bạn? Hay vì người khác mà bận rộn? Tôi tin rằng nhiều người không sao giải đáp vần đề này.
- Nên biết: Người quân tử chỉ lo nghĩ về Ðạo, không lo nghĩ về ăn uống.
- Trong đạo Phật, xử thế với người hay xử lý công việc, mình đều phải dựa vào lòng từ bi hỷ xả, bốn tâm thái không giới hạn. Chớ nên mượn chuyện công để trả thù riêng. Không nên vì mối bất hòa mà mình vạch lông tìm vết, cố ý kiếm lỗi của người. Nhất định mình phải dùng lòng thẳng thắn, không thù oán, không thiên vị để giải quyết việc công.
- Gõ mỏ theo đúng nhịp thì sẽ có công đức. Vừa gõ mỏ vừa tức giận, nên gõ ầm ĩ, hoặc gõ nhẹ hìu đều là lỗi lầm.
- Bởi vì đời trước có tạo nghiệp chướng nên đời này, sẽ có lúc, quỷ tới đòi nợ. Cũng là lúc mà dương khí người này không đủ, âm thịnh dương suy nên quỷ mới thừa dịp tới tìm. Nếu bạn thường thường không chút phiền não, trí huệ hiện tiền, thì quỷ sẽ chẳng tìm thấy sơ hở để nhảy vào phá hại.
- Chân thật niệm Phật tức là đi đứng nằm ngồi gì bạn cũng chỉ biết Nam Mô A Di Ðà Phật, sáu chữ hồng danh. Nếu bạn nhìn nước chảy, biết rằng nước chảy; nhìn gió thổi biết rằng gió thổi, hết nhìn đông lại ngó tây, xem xét động tịnh khắp nơi, thì bạn chẳng chân thật niệm Phật.
- Nếu cứ lộ liễu khoe khoang (tài năng, trí huệ) thì đó thật là hành vi ngu si.
- Sinh mạng không phải là tiền bạc, mà là vô giá bảo. Sinh mạng chẳng thể dùng tiền bạc mua bán. Song có người ở trên đời bán rẻ sinh mạng của mình, cam tâm tình nguyện hy sinh thân mạng để đổi lấy đồng tiền. Trong xã hội, (bất kỳ là người ở trong) tam giáo cửu lưu, ngũ phương bát đức, vì đồng tiền họ có thể bán đứt linh hồn và sinh mạng.
- Ðại công vô tư nghĩa là không ích kỷ, không tự lợi, không có dục vọng. Ðối với tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ thì hoàn toàn không dính mắc, chẳng tham chẳng ái.
- Do kiếp trước tu hành nên kiếp này chuyện gì cũng suông sẽ. Nếu kiếp này tu hành thì kiếp sau còn tốt hơn nữa. Nếu không tu thì tương lai tuyệt đối sẽ không thể như đời này. Ðời sau thuận hay nghịch đều hoàn toàn do mình quyết định. Phật Bồ Tát không thể giúp gì mình được.
- Một tô canh đầy thịt cá (tuy nhỏ), song chứa đựng lòng oán hận, thù hằn sâu như biển. Nói chẳng hết nổi oán thù ấy.
- Trong thịt có chứa một thứ khí ô trược. Ðó là vì nó phát xuất từ vật ô trược mà ra. Vì thế người ăn thịt thì khó có thể trì giới, khó khai trí huệ, khó đắc tam muội.
- Có bạn không xem việc học Phật pháp là trọng yếu, chuyện gia đình mới quan trọng. Họ nói rằng: Tôi phải làm tròn trách nhiệm của tôi đã. Ðến khi y chết, ai gánh trách nhiệm đây? Rõ là y không biết tính toán!
- Không phải chỉ có làm hai thời công phu sáng và tối rồi gọi là tu. Bình thường, nhất cử nhất động, mỗi lời mỗi việc, mình phải tuân theo tiết tấu, quy luật. Bởi vì mỗi người ai cũng có âm nhạc của tự tánh.
- Vì tâm không bình an nên mình mới cần âm nhạc bên ngoài giúp điều hòa tâm thái bên trong. Nếu tâm bạn lúc nào cũng yên ổn bình hòa, tràn ngập một không khí hòa điệu an lạc, thì đó mới chân chính là âm nhạc.
- Các bạn đã tới núi châu báu, chớ nên ra về tay không.
- Ðừng nên vì bị chửi rủa, sàm báng mà khởi lòng oán hận. Hãy xem kẻ oán người thân giống nhau, dùng lòng nhân đối đãi. Nếu chẳng thế, làm sao bạn có thể diễn bày sức mạnh của lòng từ bi phát sinh từ vô sinh pháp nhẫn (Tính nhẫn nại do chứng ngộ sự không tịch của cái ngã, của người và vạn pháp).
- Mỗi ngày mình phải phản tỉnh: Thời gian suy nghĩ, tính toán cho mình nhiều hay cho kẻ khác nhiều? Hay cho chùa nhiều? Phản tỉnh như vậy bạn sẽ biết mình có phá sự chấp ngã (chấp trước vào cái tôi) hay không.
- Hãy phản tỉnh, xem công phu nhẫn nhục ra sao? Nếu bị người ta vô duyên vô cớ nhục mạ, đánh đập, mình nhẫn nhục được chăng? Nổi giận chăng? Sinh tâm báo thù chăng? Nếu có thì chấp ngã vẫn còn, chưa trừ.
- Xin khuyên các vị giàu có: Hãy làm việc công ích, đạo đức, tế thế cứu đời. Ðó mới là công đức vô lượng!
- Có người nghĩ như vậy: Khi tôi già, không biết có chết đói, chết lạnh chăng? Ý nghĩ này thật kém cõi.
- Các bạn biết chăng: Vì chẳng chịu buông bỏ, chẳng chịu bố thí, chẳng có lòng đồng tình, không biết thương xót mà mình phải luân chuyển không ngừng trong vòng sinh tử.
- Kinh Kim Cang dạy: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (đừng trụ tâm vào bất kỳ thứ gì). Hễ có một chỗ (một đối tượng, một ý niệm, một cảm giác) thì tức là còn trụ. Vô sở trụ tức là không nghĩ thiện cũng không nghĩ ác. Bạn hãy dụng công ngay nơi đây. Nếu tâm chú ý vào chuyện gì đó, nghĩ tốt hay xấu về nó thì tức là chấp trước, là dính mắc rồi đó.
- Có tôn giáo chủ trương rằng mọi sự đều do thần chi phối. Nếu do thần chi phối thì làm thiện làm ác chẳng có liên can gì tới mình. Nhưng tới khi chịu quả báo thì mình phải gánh, thần chẳng giúp gì được. Ðây là chỗ chẳng hợp lý.
- Tâm của chúng sinh thì như cái nút bật đèn: Mở nút thì ánh sáng của Phật chiếu sáng. Tắt đi thì hào quang Phật chẳng thể chiếu rọi.
- Người xuất gia nên cùng nhau ở trong một đại tùng lâm (chùa lớn) để cùng nhau tu đạo, khuyến khích và cảnh tỉnh lẫn nhau. Khi ở đơn độc trong một ngôi nhà (tịnh xá) nhỏ, nếu bạn không dụng công tu hành, cũng chẳng ai kiểm soát. Bạn muốn ăn ngon, cũng chẳng ai nói. Bạn muốn ăn thịt, uống rượu, đều chẳng rắc rối gì. Người cư sĩ cho rằng (ở đơn độc) như vậy là công đức lắm, kỳ thật họ chỉ giúp cho những người xuất gia ấy đọa địa ngục mà thôi.
- Thịt gì ăn vào, thịt ấy sẽ duy trì mạng sống của thân bạn. Trải qua thời gian lâu lâu, khí chất thân bạn toàn do khí chất của những thứ thịt ấy làm ra: Nào là khí của heo, khí của bò... Máu của bạn cũng là máu của chúng. Do đó thịt của bạn cũng biến thành thịt của chúng. Xin các bạn có trí huệ hãy suy nghĩ thâm sâu về việc này.
- Chớ nên đi đâu cũng nói lỗi người: Y làm vậy sai, làm kia trật. Làm vậy là bạn trồng nhân đau khổ (sai trái với luật nhân quả) đấy.
- Thử hỏi rằng tâm bồ đề thì ra sao? Tâm ấy vô hình vô tướng, chỉ là sự giác ngộ.
- Các bạn hãy thành thật nghĩ xem: Mọi chuyện rắc rối, phiền não từ đâu ra? Ðều là do chấp trước (dính mắc) vào cái tôi mà ra.
- Người xuất gia cần có nhân cách cao thượng, xuất sắc. Không nên a dua, chạy theo thói đời, ăn no ngồi rồi, làm Phật giáo khí độ trầm trệ u ám, chẳng chút sáng lạn.
- Vì sao người tại gia không được nhận đồ cúng dường? Vì không xuất gia thì bạn không phải là một trong Tam Bảo (chỉ có Tam Bảo thì mới thọ cúng dường). Bạn không thể tự mình sáng lập ra cái bảo thứ tư (Tứ Bảo).
- Nhiều người không hiểu Tam Bảo là gì. Lại còn có cư sĩ muốn lập ra Tứ Bảo. Thế là không phải cư sĩ cúng dường Tam Bảo, mà là Tam Bảo phải cúng dường cư sĩ! Chẳng mấy chốc có lẽ sẽ sản sinh ra Ngũ Bảo, Lục Bảo, Thất Bảo...! Nếu đây không phải là biểu hiện của thời Mạt Pháp thì là gì?
- Không nên sát sinh! Tất cả chúng sinh từ kiếp vô thủy đến nay, đều là cha mẹ, thân bằng quyến thuộc của ta cả. Ðời trước có thể là cha mẹ tạo tội nghiệp nên kiếp này họ đọa làm heo, bò, dê, ngựa... Nếu bạn mặc tình sát hại súc vật, thì gián tiếp giết hại cha mẹ mình rồi đó.
- Hãy thuận theo tự nhiên, theo quy luật sinh lý mà phát triển (vì thiên nhiên rất điều độ, quy củ, hài hòa). Không nên ăn uống bất thường, nói năng loạn xạ. Hoặc uống rượu, hút thuốc, xì ke ma túy, cho tới lạm dụng trong cái nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, và suy tư. Những việc ấy đều tổn hại đến thân thể và linh tánh của bạn.
- Khi gặp kẻ nói thị phi, chuyên môn đặt điều, bêu xấu về bạn: Bất luận là oan uổng tới đâu, bạn phải nhẫn nhục. Ðó đều là nợ nghiệp từ kiếp trước, đời này tới đòi. Do đó bạn chẳng thể chống đối không trả. Nợ trả hết rồi thì trời xanh trong vắt, không còn phiền não, hết âu lo.
- Sáu tông chỉ: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối là pháp bảo cắt đứt dục vọng, khiến bạn hoạch đặng trí huệ chân chính.
- Không phải chỉ có ngồi thiền, lạy Phật mới là tu. Ăn uống, mặc áo quần, nhất cử nhất động đều là tu cả.
- Người tu phải: Chỉ biết việc cày cuốc, chớ hỏi chuyện thu hoạch. Bất luận làm gì, cũng phải hết lòng hết sức, đừng suy tính tới kết quả sẽ hưởng được lợi ích gì.
- Nếu suốt ngày bạn không phí phạm lời nói, không nghĩ chuyện vô vị; bạn điều hòa tâm tình khiến cho yên ổn thái nhiên, không buộc trói, không quái ngại, không nhân ngã, không thị phi thì đó không phải là âm nhạc rồi sao?
- Chữ Tự và chữ Ðại hợp lại thành chữ Xú (hôi thối). Bạn mà cao ngạo tự đại thì hôi thối rùm trời, không ai dám tới gần. Ai cũng muốn bịt mũi chạy trốn, không dám gần gũi.
- Lăng Nghiêm đại định không phải do ngồi thiền luyện thành. Trong lúc đi đứng nằm ngồi, nếu bạn không bị cảnh giới bên ngoài làm tâm động, không bị vọng tưởng quấy nhiễu thì đó mới là định.
- Mình không nên sợ nghèo cùng. Nghèo cùng không chướng ngại đạo. Chỉ sợ ma: Ma tức là tà tri tà kiến (kiến giải và cái nhìn sai lầm lệch lạc về chân lý). Hễ có tà tri tà kiến thì tu pháp môn gì cũng sẽ không được tương ưng.
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|