|
|
|
|
|
|
|
Cái chết không phải là kết thúc của sự sống, sau khi chết chúng ta vẫn sẽ tái sinh. Chúng ta đã trải qua vô số cái chết, chỉ là ngày nay đã hoàn toàn quên lãng và không thể hồi tưởng lại. Đối với những người theo đuổi giải thoát, việc đối mặt với đại sự sinh tử là vô cùng quan trọng. Không chỉ cần biết cách đối mặt với cái chết, mà còn phải biết cách đối mặt với sự tái sinh. Trong một số luận điển của Hiển giáo, có nói về trạng thái của con người sau khi chết và quá trình tái sinh, nhưng lại không nói về cách chuyển hóa cái chết thành tu hành, và làm thế nào để tái sinh.
Ngài Kiều Trần Như cùng bốn huynh đệ đến cư trú tại một khu rừng gần bờ sông Hằng, cách thành phố Ba La Nại (Banares) của đất nước Ma Kiệt Đà (Magadha) không xa. Nơi đây ngát một màu xanh, những tàng cây um tùm che tán lá xanh thẫm phía trên, dưới chân là những thảm cỏ non màu xanh mơn mởn, rất nhiều đàn hươu nai tìm về sinh sống. Khung cảnh thật thanh bình, người ta gọi đó là vườn Lộc Uyển (Sarnath). Sau khi rời bỏ Sa môn Gotama, Ngài Kiều Trần Như sống trong những ngày tháng ray rứt và khổ đau không ngớt.
Đúng vậy, để có thức ăn cho khách vào ban ngày thì ban đêm người ta phải giết mổ thú vật. Con vật đau đớn nên nó phải kêu la, gào thét dữ dội. Mà tiếng kêu gào của những con vật đó sau này sẽ thành những tiếng rên la thảm thiết của con người như đang sống trong một cuộc chiến tranh tàn phá. Chúng ta biết rằng, sở dĩ có chiến tranh là do có sự xâm lược của nước này đến nước kia, đó là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân sâu xa là do nghiệp sát sinh của chúng sinh. Chính nghiệp sát sinh của chúng sinh đã gây nên thảm họa binh đao cho loài người.
Những năm gần đây, báo chí trong và ngoài nước thường xuyên đề cập đến hiện tượng, mà, theo “Biện Chứng Pháp” của Mac-Lenin, thì không bao giờ có thể xãy ra trong “thế giới Cộng Sản” được! Trong một chế độ theo chủ nghĩa “vô thần”, lúc mới nổi lên đã chủ trương phá chùa, đập miếu, nhà thờ biến thành nơi chứa lương thực…! Người Cộng Sản không tin có Phật, Chúa, Thần thánh gì cả suốt một thời gian dài mấy mươi năm… Cho đến một ngày, chính những “đảng viên” quỳ gối cúng bái, đốt vàng mả, tin phong thủy, sùng bái những phù thủy gọi là “nhà ngoại cảm”; thì người ta mới chợt hiểu ra!
Trong kinh có một câu chuyện xảy ra làm đau lòng mọi người khi Đức Phật còn tại thế. Một người vì quá tham tàn, bạo ngược, bất chấp cả tình cha con, chính là Thái tử A Xà Thế khi bị mê hoặc bởi sa môn Đề Bà Đạt Đa. Việc cướp ngôi bị bại lộ không thành, vua cha Tần Bà Sa La thay vì giết đi đứa con phản nghịch thì lại thoái vị, nhường ngôi cho thái tử. Ngài làm như thế để Thái tử không mang tội cướp ngôi, nhưng vì bản tính hung hăng, tàn bạo, Thái tử đáp lại tấm chân tình ấy bằng cách ra lệnh nhốt vua cha vào ngục tối, sau khi chính thức lên ngôi.
Đức Phật và chư Tăng ôm bát vào thị trấn khất thực, nhưng đứng lại vì phía trước ồn náo, đông người xôn xao, quân lính thì la hét inh ỏi. Một vị Tỳ kheo hỏi: - Đằng kia có việc gì vậy gia chủ à? Người gia chủ thưa: - Thưa Sa môn, đêm qua có các nhà giàu bị mất trộm vàng bạc. Quan thị trưởng phát hiện số vàng bạc đó nằm trong phòng của một số khách lạ trong nhà trọ nên cho quân lính bắt họ. Họ đang cãi rằng ai đó hãm hại vu oan cho họ vì họ là những người thương buôn giàu có đến từ Xá Vệ... Chẳng biết sao nữa!
Phàm các ác bệnh nan y, độc địa như sốt rét, ung thư... đều do quỷ từ phía sau chi phối, khiến cho ngũ tạng trong thân con người bị xáo trộn vị trí, và tứ đại không điều hòa. Đó đều là do nghiệp chướng quỷ tác quái. Bởi con người có nghiệp chướng từ lâu đời, cho nên đến thời đến lúc thì quỷ tới đòi nợ. Mà cũng bởi vì con người không đủ dương khí, tức âm thịnh dương suy, cho nên quỷ mới có thể tùy tiện được. Nếu quý vị thường không phiền não và trí huệ luôn hiện tiền, thì sẽ không có sơ hở để ma quỷ thừa cơ lợi dụng.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Người quân tử có cái học cải tạo vận mạng. Mạng do mình tạo, phước cầu nơi mình. Khi không làm việc ác thì tự nhiên mạng xấu sẽ biến thành tốt. Không làm lành, chỉ làm ác thì mạng tốt cũng thành xấu. Vận mạng thì biến động, không phải cột trói người ta cứng nhắc, chẳng còn tự do. Ðừng nên mê tín (về vận mạng đã an bài, sắp sẵn).
- Sư phụ chỉ dắt dẫn người đệ tử tới cửa đạo. Tu hay không là ở mỗi người.
- Pháp môn Tịnh độ thích hợp với căn cơ của mọi người. Dùng ít sức mà thành công lớn. Ðúng là pháp môn khế hợp với chân lý, hợp mọi căn cơ.
- Buddha nghe như là chữ Bất đại, không to lớn! Phật thì không lớn hơn ai cũng không nhỏ hơn ai. Nên gọi bất đại chính là Phật!
- Người tu đạo không được tranh chấp. Vì như người lên điện Phật sau thì đứng sau, người tới trước thì đứng trước. Người tới trễ không nên nói: Tôi có đắp y nên tôi phải đứng trước người chẳng đắp y. Tôi phải đẩy y đứng xuống dưới. Ðó gọi là tranh.
- Làm cha mẹ là trả nợ. Làm con cái là đòi nợ. Chúng sinh không hiểu điều đó nên cho rằng (quan hệ cha mẹ con cái) là vui lắm.
- Ðẻ ra thì hai tay trắng. Chết đi thì cũng trắng hai tay. Ðem gì theo cũng không được. Ở lại cũng không xong.
- Do Thái giáo cũng là Phật giáo, Thiên Chúa Giáo cũng là Phật giáo. Tên đổi nhưng ý không đổi. Tôi không xem tôn giáo là tôn giáo. Tôi nhận định rằng tôn giáo chỉ là do nhân tính biến hóa. Do vậy tôi gặp tôn giáo nào thì tôi thuộc về tôn giáo ấy. Không có tôn giáo gì của riêng tôi.
- Chữ bận rộn trong tiếng Hoa thì gồm có chữ Tâm và chữ Vong (mất) ghép lại. Nó cũng giống như chữ quên mất, cũng gồm có chữ Tâm và chữ Vong ghép lại. Do vậy bận rộn đến độ mất tiêu luôn cái tâm, bận rộn tới mức quên bẵng cả chân tâm!
- Phải làm sao tu? Trước hết, phải đoạn trừ dục vọng, cắt đứt tình ái. Không nên cách xa người ta quá, cũng không nên quá gần gũi. Quá xa cách thì sẽ mất đi duyên lành với người. Quá gần gũi thì bị cảm tình chi phối lý trí, chẳng thể tu hành đặng.
- Tu thì không được đeo mặt nạ, giả đò, đóng kịch để người ta xem. Tu thì dựa hoàn toàn vào công phu chính mình. Có thế mới có kết quả. Hễ có một phần thành tâm thì được một phần cảm ứng. Mọi thứ đều nhờ vào lòng thành khẩn, chân thật không hư dối. Ðừng nên tự lừa mình và lừa người.
- Muốn cứu đời, bạn chẳng thể dùng bom nguyên tử, bom khinh khí hay tia laser, vì chúng vốn là thứ hủy diệt thế giới. Chỉ có dùng bát đức: hiếu, để, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sĩ. Tám thứ đạo đức này là linh đan cứu vớt linh hồn chúng sinh, cũng là thuốc mầu cứu sống sinh mạng người ta hữu hiệu nhất.
- Bịnh tuyệt chứng nan y của thế giới là: Sự phá sản của giáo dục.
- Có người nói: Tôi là Phật thiệt! A! Phật thiệt là bạn, vậy Phật giả là ai? Cũng như tổng thống, chẳng bao giờ ngài nói: Tôi là tổng thống thiệt! Nói vậy thì ai là tổng thống giả? Từ đây mà suy ra: hễ nói cái gì thiệt, thì hẳn việc đó có vấn đề.
- Hãy làm mọi việc thiện: tức là bạn hãy tu hạnh thanh tịnh. Không thanh tịnh thì không phải là thiện. Thanh tịnh tức là thiện.
- Bạn cho rằng ăn chay thì ăn trứng cũng được? Cũng được! Chờ tới khi bạn đầu thai làm gà rồi khi đó bạn sẽ hiểu (phận làm gà) chính do ăn trứng gà mà ra.
- Nếu bạn chẳng thể đoạn trừ ái dục thì dù bạn xuất gia tám vạn đại kiếp, bạn cũng chỉ phí thời giờ, tạo tội nghiệp ở trong đạo Phật.
- Cây không gốc thì sẽ khô héo. Người không gốc thì phải chết.
- Bất luận bịnh thống gì cũng do oan nghiệp, chủ nợ tới đòi nợ. Bịnh là sao? Bịnh cũng là cách thuyết pháp, giúp người ta biết thân thể này là khổ, sinh lão bịnh tử là khổ. Lúc nào nó cũng có thể tìm đến bạn. Nó sẽ đánh điện tín, điện thoại hay gởi thư tới nhắn nhủ bạn (dưới hình thức là bịnh khổ). Chẳng những bạn có thể bị bịnh, mai này sẽ phải chết.
- Có sinh ra thì phải già đi, sinh bịnh rồi phải chết. Quá trình ấy dạy mình phải biết cái khổ của chuỗi sinh lão bịnh tử, để mình chuẩn bị làm sao giải thoát, không bị khí số ràng buộc. Do đó vô luận là có bịnh gì, bạn cũng phải phát tâm bồ đề, sinh lòng giác ngộ, xem mọi thứ là vô thường, đau khổ, chân không và vô ngã. Làm được vậy thì bịnh cũng là chuyện tốt.
- Người biết Phật pháp thì không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Những thứ như ngũ nhãn, lục thông, v.v... đều là thứ thừa thải, tu mà cầu những thứ đó thì cũng tựa như leo cây để tìm cá.
- Các bạn nếu học thuộc lòng nhuần nhuyễn Kinh Lăng Nghiêm, thì nhất định sẽ khai phát đại trí huệ, hoạch được biện tài vô ngại.
- Trong thời Mạt Pháp, người bạch y công nhiên nhận đồ cúng dường, hoằng dương Phật pháp. Bạch y tức là người tại gia. Họ công nhiên tụng đám cho người, làm lễ siêu độ, giảng quẻ xăm. Họ lợi dụng Phật giáo để kiếm cơm ăn, áo mặc.
- Quỷ thì chỉ ăn cái tánh của đồ cúng; chúng chẳng cần tiền bạc, thực phẩm. Nếu có tiền, bạn nên làm chút chuyện công đức rồi hồi hướng cho các vong hồn. Nếu bạn mua những thứ xe hơi giấy, tiền giấy, tàu bay giấy, nhà giấy.... để đốt cúng thì thật là mê muội tới cực điểm.
- Ðốt tiền giấy thành tro rồi thì bạn làm sao biết nó có hiệu quả gì chớ? Nếu nói đốt rồi vẫn có hiệu quả (tức là người chết có thể dùng được tiền do bạn đốt), thế thì người tây phương chẳng được bà con đốt tiền giấy cho họ, phải chăng họ đều trở thành những con quỷ nghèo mạt? Phải chăng: Tây phương không quỷ nghèo, đông phương không thần giàu!
- Trọn đời, tôi không muốn đi tụng đám, phóng diệm khẩu, làm pháp hội Thủy Lục, là bởi vì tôi chẳng có đức hạnh. Ðạo không đủ để cảm hóa người, đức không đủ để dạy dỗ ai. Tự mình chưa siêu độ được mình thì làm sao siêu độ được vong hồn. Ðó là lý do tôi không có gan làm những chuyện ấy.
- Pháp môn niệm Phật: người già vì năm tháng chẳng là bao, nên tốt nhất là niệm Phật. Người trẻ, vì đời còn dài nên cũng thích hợp để tu niệm Phật. Người trung niên, sau khi đã kinh nghiệm rõ ràng mọi chuyện trên đời rồi, cũng nên niệm Phật. Kẻ bịnh, không biết bao giờ sẽ chết, cần gấp niệm Phật. Lúc không bịnh, lợi dụng khi thân thể còn khỏe, tốt nhất là niệm Phật.
- Mỗi người đều nên chính tâm tu thân. Chính tâm tức là không nghĩ loạn, nghĩ tạp nhạp lăng xăng, tưởng những chuyện không chính đáng. Tâm chính thì quỷ chẳng tới tìm bạn. Ví như cái bát đồ ăn của con mèo đầy dẫy ruồi bu. Ðó là bởi đồ ăn quá dơ dáy. Nếu không có cái bát ấy thì ruồi nhặng chẳng bay tới. Nếu tâm bạn như thế nào thì sẽ chiêu cảm thứ tương tự tới. Không phải quỷ từ ngoài tới, mà do trong tâm (tạp nhiễm của bạn) mời tới.
- Không gặp ma, làm sao nhìn thủng hồng trần? Không chịu khổ, làm sao quyết chí chân tu? Không nên để trí óc thông minh lừa mình, cho rằng cái gì mình cũng biết. Kỳ thật mình chẳng biết gì. Khi cảnh giới tới thì mình bị nó lay chuyển đến độ luống cuống cả tay chân!
- Sau khi thọ giới rồi , bạn hãy nhất định làm sứ giả cho nhà Phật, làm đội ngũ của đạo Phật, làm vị đại tướng quân, đại anh hùng, đại hào kiệt trong Phật giáo. Không nên cẩu thả, tùy tiện, cứ theo thói hư tật xấu, ngày ngày đùa giởn nhởn nhơ, chẳng có vẻ gì là kẻ vừa thọ giới cả.
- Không nên tán loạn: Gặp ai cũng rào đón xã giao, mà tự mình chẳng chút dụng công tu hành. Bạn phải biết làm sao tu: Nói nhiều quá không tốt. Kẻ phú quý không nói nhiều. Nói nhiều thì nhân cách thấp hèn. Thấp hèn thì không có giá trị. Người quý lời nói chậm, là vậy.
- Trong phạm vi của luật nhân quả thì phạm tội tà dâm là nghiêm trọng nhất. Sự trừng phạt còn ghê gớm nữa: Một người lúc sống phạm giới tà dâm bao nhiêu lần, thì khi chết sẽ bị một cái cưa lớn cưa thân người ấy từ đầu xuống chân bấy nhiêu lần. Sinh tiền kết hôn một trăm lần thì chết rồi bị cưa một trăm lần.
- Bởi vì mình chẳng thể nhìn xuyên suốt, không thể buông xả, do đó trong pháp hữu vi, pháp vô vi, thứ có tướng, thứ không tướng, mình bị ràng buộc rối rắm. Lúc ấy vì chẳng thể nhận thức rõ ràng (cảnh giới, hay kinh nghiệm trước mắt, hay chân lý bất biến) nên mình cứ dật dờ (như lết chân lội bùn). Trong vòng lục đạo luân hồi, cứ mãi tiếp tục sinh tử.
- Ðọc Kinh Lăng Nghiêm là để khai trí huệ. Ðọc Kinh Pháp Hoa là để thành Phật. Nên nói: Khai huệ là Lăng Nghiêm; thành Phật là Pháp Hoa. Kinh Hoa Nghiêm thì quy nguyên: Trở về gốc. Ai ai cũng từ trong pháp giới này lưu xuất; ai ai cũng sẽ trở về với pháp giới. Các bạn nên tuyển lựa một bộ kinh mà các bạn cảm thấy vui thích nhất thì nó mới khế cơ (hợp với căn cơ bạn). Ðã có pháp khế cơ rồi , bạn hãy nghiên cứu nó, không nên ngày ngày cứ lo làm tiền, quên mất Phật pháp.
- Việc lớn trong đời mình: Quy y Tam Bảo.
- Quy y Tam Bảo thì dựa vào hai chữ chân thành. Không chân thành, bạn sẽ làm cho có lệ, cẩu thả vô trách nhiệm, chẳng có cảm ứng gì .
- Mỗi sáng khi ngủ dậy, bạn hãy đối diện với Phật phát bốn điều thệ nguyện. Bốn lời nguyện này Bồ Tát nào cũng phát. Mỗi đêm bạn hãy kiểm thảo, tự hỏi xem: Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, mình đã độ ai chưa? Nếu chưa, hãy ráng độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, mình đã đoạn chưa? Nếu chưa, phải đoạn nó đi. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, mình đã học chưa? Nếu chưa, hãy tìm thời gian rỗi rảnh giữa lúc bận bịu công việc để đọc chút kinh điển, xem sách Phật dạy. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành, mình hiện tại là phàm phu, chưa thành Phật, phải mau tu hành thì mới thành Phật được.
- Người học Phật không nên chạy rong. Suốt đời cứ chạy cùng hết chùa này đến chùa khác, mà rốt cuộc chẳng chút sở đắc: Không biết giảng kinh, không biết niệm Phật, cũng chẳng biết lễ sám.
- Tìm cầu bái phỏng một vị thiện tri thức: Ngay trong giới xuất gia cũng rắn rồng lẫn lộn, không phân rõ ràng. Bạn đi lộn vào chốn bàng môn tả đạo thì thật nguy hại. Nếu đi lầm lẫn vào chỗ kẻ tà sư thuyết pháp thì nguy hại càng lớn hơn nữa.
- Ở trong chùa, bạn nên nói chuyện liên hệ đến phật lý, đến tu hành. Ðừng nên nói người này thế này, người nọ thế kia, toàn chuyện thị phi. Càng nói thì bạn càng đọa lạc. Càng đọa lạc thì càng khó tu học Phật pháp. Vì sao bạn trì chú mà quên hoài? Vì bạn quá tán loạn. Vì sao tụng kinh mà không nhớ? Vì bạn quá tán loạn.
- Biết lắng nghe thì dù tôi có chửi bới người ta, bạn cũng nghe thành diệu pháp. Dù tôi có đánh người ta, bạn cũng cho rằng đó là pháp thức tỉnh họ thật đúng lúc. Không biết lắng nghe, thì tôi có dùng cách gì gia trì bạn, giúp đỡ bạn, bạn cũng cảm thấy vô nghĩa, vô lý.
- Muốn tôi lên trời: chẳng khó gì. Giáo hóa người Mỹ là khó nhất.
Muốn tôi độn thổ: chẳng khó gì. Giáo hóa người Mỹ là khó nhất
Muốn gà trống đẻ trứng: chẳng khó gì. Giáo hóa người Mỹ là khó nhất.
- Bạn cho rằng được người ta dập đầu đảnh lễ là mình ngon lành lắm sao? Bạn hãy tự hỏi mình có đạo đức gì? Có trí huệ chăng? Có xứng đáng để người ta cung kính chăng? Ðáng để người ta sùng bái chăng? Bạn hãy thường hồi quang phản chiếu như vậy.
- Cúng dường người xuất gia, bạn cần có con mắt biết chân lý (trạch pháp nhãn). Nên cúng dường người tu hành thanh tịnh.
- Phật thuyết tam tạng, mười hai loại kinh điển, đều không ngoài mục đích phá bỏ chấp trước của người ta. Song le mình không chịu nghe lời Phật dạy, lại làm kẻ phản đồ: chấp trước mãi cái TÔI.
- Lúc tôi tới, chẳng có gì. Lúc ra đi, tôi cũng chẳng muốn gì. Tôi chẳng muốn lưu lại dấu vết gì trên trần gian. Tôi từ hư không tới, sẽ về với hư không.
- “Ngũ Tân là những thứ cay độc, người ăn vào dễ sanh tâm dâm dục, sân hận, vọng tưởng nhiều hơn, tổn hại đạo nghiệp. Người tu hành nên kiêng hoàn toàn.”
- “Khi ăn ngũ tân, chúng phát ra mùi hôi qua miệng, qua thân, khiến chư Thiên tránh xa, quỷ thần ác lại gần.”
- “Ai muốn tu Thiền, giữ giới thanh tịnh, thì phải dứt bỏ ngũ tân. Chúng khiến tâm không thanh tịnh, vọng niệm dấy lên như sóng cồn.”
- “Người tu hành, nếu ăn năm thứ cay nồng, dù đã nấu chín, thì các vị thần hộ pháp sẽ rời bỏ người ấy, không bảo vệ nữa. Tất cả thiên thần, thiện thần đều xa lánh. Ngược lại, các loài quỷ thần yêu tà sẽ tìm đến.”
- “Tại sao không ăn chung ngũ tân với sữa, bơ, phô mai? Vì những thực phẩm thanh tịnh này nếu bị ô nhiễm bởi mùi hôi cay độc, sẽ trở thành bất tịnh thực, khiến thân tâm người ăn bị nhiễm độc, mất oai nghi.”
- “Thức ăn thanh đạm, không vị nồng cay, là phương tiện dưỡng đạo. Không cần ngon miệng, mà cần nhẹ tâm.”
- “Ăn đơn giản, mặc đơn giản, sống đơn giản. Đó là ba cội gốc để phát đạo tâm.”
- “Người ăn hành, tỏi, hẹ, nén… miệng có mùi rất nồng, chư thiên không đến gần. Người tu hành cần oai nghi từ miệng, thân, ý. Nếu khẩu khí bất tịnh, sao có thể thuyết pháp độ người?”
- Kiêng ngũ tân không chỉ vì lý do sức khỏe, mà là để:
• Giữ thân – khẩu – ý thanh tịnh
• Không tạo nhân duyên với ma chướng và vọng tưởng
• Giữ vững đạo tâm trong thiền định và trì giới.
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|