Thông tin
Các bài mới
Ngã là đối tượng của triết học, tôn giáo và xã hội, với những khái niệm, quan điểm khác nhau. Ngã thường được giải thích là Tôi, Cái tôi, Ta, Cái ta, Thực thể (tự hữu, thường hữu, bất biến, …). Trong Phật giáo Nam truyền, Ngã thường được thấy dưới 2 dạng là Chấp ngã và Vô ngã: - Chấp Ngã : Đây là quan điểm có tính chất đóng khung, mang tính cực đoan, đối kháng từ nhận thức chủ quan đối với các yếu tố về Ngã.
Trong đạo Phật, Bồ-tát là từ được sử dụng trong cả Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền. Bồ-tát được chỉ cho bất kỳ ai đang trên con đường hướng tới Phật quả, có quyết tâm trở thành một vị Phật, hay được một xác nhận hoặc dự đoán từ một vị Phật hãy đang còn sống. Bồ-tát còn được xem một cách đơn giản như là Bậc giác ngộ đang gắn với việc độ sinh, nghĩa là đang trong hạnh nhập thế. Tư tưởng Bồ-tát bắt đầu ảnh hưởng trong các tông phái Phật giáo Ấn Độ vào những năm cuối của vương triều A-dục (Ashoka). 
Chừng 33 năm trước, vợ của một thương nhân ở Washington (Mỹ) đã bất cẩn đánh rơi chiếc túi da trong bệnh viện vào một buổi tối mùa đông. Thương nhân vô cùng sốt ruột đi ngay trong đêm đó để tìm. Bởi vì trong túi da không chỉ có 100.000 đô la mà còn có bản thông tin thị trường vô cùng cơ mật…Khi người thương nhân đến bệnh viện đó, ông liền trông thấy ở một hành lang vắng lặng, lạnh giá của bệnh viện có một cô bé gầy gò đang co ro rét run bần bật ngồi dưới sát bức tường. Thứ cô bé đang giữ chặt trong lòng chính là chiếc túi da mà vợ ông đánh mất.
Trong đạo Phật, Bồ-tát là từ được sử dụng trong cả Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền. Theo đó, Bồ-tát hay Bồ-đề Tát-đỏa là một chúng sinh hữu tình đã giác ngộ, có những ý nghĩa sau: I. Bồ-tát – Biểu tượng con đường hướng tới Phật quả. Phật giáo Nguyên thủy thừa nhận các vị A-la-hán là những con người thật và không có các vị Bồ-tát. Tuy nhiên khái niệm Bồ-tát thì có, khái niệm này xuất hiện trong các kinh điển Nguyên thủy, nhiều nhất là ở Tiểu Bộ kinh và Tạp A-hàm, để chỉ những tiền thân của Đức Phật, gồm những kiếp tái sinh trên con đường tu hành trước khi đạt đến quả vị Phật.
Sau khi ở tù cải tạo được 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù được đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra trường là Đại Đội 11 thuộc Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 9, Sư Đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.
Ở thời niên thiếu, chúng tôi đã được xem một cuốn phim tình cảm đen trắng do Ý sản xuất trong một rạp chiếu bóng ở một tỉnh nhỏ miền Trung. Cuốn phim mang tên “Ngày Mai Đã Muộn Rồi,” (Demain Il sera trop tard!) liên quan đến việc giáo dục giới tính phù hợp cho giới trẻ. Cuốn phim nêu ra chuyện nếu hôm nay không được chỉnh sửa hay là được làm đúng, ngày mai đã quá trễ, muộn màng. Tuổi ấy, chúng tôi không hiểu nhiều về tình tiết của câu chuyện, và luận đề cuốn phim đưa ra, nhưng sau này, rất thích lập lại tên của cuốn phim trong nhiều tình huống của cuộc sống.
Luật vượt biển đến Hồng Kông năm 1982, sau khi cải tạo tại Tiên Lãnh được sáu năm. Chuyến đi của anh suông sẻ chỉ mất hai ngày hai đêm trên biển. Điều trước tiên, anh đánh điện tín về nhà báo tin cho vợ con biết anh đã vượt thoát khỏi Việt Nam an toàn để chị mừng. Anh theo chân những người tị nạn vào phố Hồng Kông xin việc làm, anh được một nhà hàng sắp xếp cho anh rửa chén bát, việc làm cũng không đến nỗi khổ cực, lương tương đối khá. Mỗi ngày người ta cho anh mang về trại thức ăn dư thừa để anh chia cho những người không tìm được việc làm. Ở đây anh cảm thấy thoải mái hơn khi ở quê nhà rất nhiều.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Trên thân thể của mỗi người, ai cũng có vô lượng vô biên chúng sinh. Nếu bạn có lòng tham thì những chúng sinh ấy cũng có tâm tham, nếu bạn có lòng tức giận thì mỗi chúng sinh ấy cũng bắt chước nổi lòng tức giận. Tánh tham sân si của mình có thể ảnh hưởng đến những chúng sinh ấy. Những chúng sinh nhỏ ấy lại biến thành rất nhiều con, những con lớn lại càng biến lớn hơn. Ðó chính trăm ngàn ức hóa thân của bạn! Do vậy người tu đạo, cử tâm động niệm phải sửa đổi thói xấu, tu thành thói tốt.
- Ngũ ấm là xiềng xích cột người ta. Vì bị tứ đại, ngũ ấm che phủ nên mình mới không thể giải thoát.
- Nếu không biết hòa nhã, khiêm cung thì làm sao cứu người. Có lẽ tự mình cũng chẳng cứu được nữa là.
- Các bạn làm những người đồng tu , đạo hữu thì nên khuyến khích lẫn nhau, cùng đi trên đường bồ đề. Không tổn hại lẫn nhau. Lúc nào mình cũng nên nói pháp cho nhau nghe. Miệng không nói lời phi lễ, thân không làm chuyện phi lễ.
- Tu hành cần mình phải hồi quang phản chiếu (thâu hồi ánh sáng, chiếu ngược vào tâm). Không phải là phóng quang ra ngoài để kêu người khác nhận thức về mình.
- Tu mà không tranh thì chẳng có ma. Tranh là ma tới liền.
- Khi chọn bạn, mình phải chọn bạn tốt, bạn có ích lợi. Không nên chọn bạn xấu rồi cùng nhau làm việc tệ hại, rồi sau này đôi bên đều cùng phải đọa lạc.
- Chưa tu thành thì hào quang còn non lắm. Hào quang như vậy thì còn yếu ớt, chẳng thể kháng cự lại sóng gió bão táp. Khi hào quang viên mãn, không thiếu không dư, thì lúc đó mới phóng quang. Hiện tại là giai đoạn tu hành, bạn chớ phóng quang.
- Lúc đang làm người không chịu tu cho tốt. Ðến lúc làm trâu dê heo ngựa thì có muốn tu cũng chẳng còn cơ hội. Lúc ấy bạn quỳ tại cửa chàng đồ tể khóc lóc năn nỉ: Xin ngài từ bi, đừng giết mạng con! Chàng đồ tể vẫn cứ giết chẳng tha. Do đó chỉ cần mình nghe tiếng rên siết thê thảm ở nhà đồ tể là sẽ hiểu nguyên nhân của tai kiếp, chiến tranh từ đâu mà ra.
- Khi tu thì không nên tùy tiện nói bậy. Nếu không thì sẽ bị quả báo câm ngọng.
- Ðịa chấn (động đất) có thể gọi là nhân chấn (động người) vì đất và người thì thông nhau. Khi nhân chấn thì địa chấn. Nếu nhân không chấn thì địa cũng không chấn. Bạn vui vẻ thì địa chấn, bạn nổi giận thì địa cũng chấn. Bạn có bi ai, buồn lo, sợ hãi, yêu ghét, thì đều sinh địa chấn. Khi có dục vọng, tình ái thì địa chấn càng lớn. Bên trong động nên bên ngoài mới động. Có địa chấn bên trong thì mới có địa chấn bên ngoài. Chúng có quan hệ liên đới. Bạn trồng nhân gây động đất bên trong nên mới có động đất bên ngoài. Khi trồng nhân thì mình không sợ, lúc nó kết thành quả thì mình mới sợ chết luôn.
- Tu hành phải cần chăm chỉ cần khổ.
- Phương pháp dụng công là phải niệm niệm hồi quang phản chiếu. Không phải là niệm chú gì đâu, chỉ cần mình đi đứng nằm ngồi không rời nhà, không chạy ra ngoài truy đuổi. Cũng không phải tìm kiếm nơi sách vở. Cần chú ý tới cái không. Nếu bạn chân chính thể hội thì chuyện gì bạn cũng không tham lam. Bởi vì tự bạn xưa nay vốn đầy đủ. Cái không này tức là chân không. Từ trong nó phát sinh ra diệu hữu. Vì thế: Không làm các việc ác (là chân không), làm hết các việc thiện (là diệu hữu). Giới luật là khuôn phép để người tu nương theo mà tu hành. Khi đạt tới "không" thì tất cả nghiệp chướng đều không, cũng chẳng có tội, chẳng có phước.
- Ma từ bốn phương tám hướng lại thử thách người tu. Nếu ai cứ luẩn quẩn trong vòng thị phi, nhân ngã, vui buồn, yêu ghét mà dụng công thì ma sẽ thừa cơ, nương chỗ sơ hở đó mà chui vào.
- Muốn sinh Cực Lạc thì phải thu nhiếp quét sạch mọi tình cảm.
- Vì sao thế giới có chiến tranh? Khi người ta bắt đầu ăn thịt thì chiến tranh cũng bắt đầu. Ăn thịt cũng chính là ăn người.
- Kẻ thấy lỗi lầm của ta, kẻ ấy là thầy ta. Những ai có thể nói ra thói hư tật xấu của bạn, người ấy là vị thiện tri thức. Bạn nên cám ơn người ấy, đừng nên nhìn họ như thù địch.
- Người mê thì tin phong thủy, người trí tin tâm thủy. Tất cả đều do tâm tạo thành.
- Người đời cho rằng học thì ở nơi chỗ rộng (như núi), nào hay rằng học ở ngay chỗ nhỏ xíu (tâm mình) này đây. Nếu ai có đức hạnh thì phong thủy tự nhiên tốt bởi vì tâm họ tốt.
- Người trí thì nhìn suốt tới cái lý của sự việc, không bị ngăn trệ bởi bề ngoài của sự việc. Người ngu chỉ nhìn thấy tướng trạng bên ngoài của sự việc, chẳng thấy suốt được chân lý bên trong của mọi chuyện.
- Nếu ai muốn biết chư Phật trong ba đời, hãy quán bản tánh của pháp giới: Tất cả đều do tâm tạo.
- Muốn có trí huệ, trước hết đừng chửi bới người ta, cũng đừng đánh đập, giết chóc, tổn hại kẻ khác.
- Mình phải lập công với đời, làm lợi cho người. Nếu chỉ toàn là tính toán lợi ích cho mình, lo cho mình được sung sướng, thì đó nào phải là ý nghĩa của việc làm người.
- Tôi biết được điều gì? Tôi biết thế nào là chịu thua thiệt, không chiếm tiện nghi. Nếu bạn thật sự hiểu rõ thì bạn sẽ biết rằng: Chịu thua thiệt chính là được tiện nghi (thắng thế), mà chiếm tiện nghi (giành hơn, giành thắng) chính là bị thua thiệt.
- Không phải dễ sửa những lỗi lầm tật xấu nho nhỏ đâu. Nếu bạn sửa đổi được chúng thì bạn sẽ có định lực.
- Người đời xem chuyện phát tài là vui sướng nhất. Có tiền rồi lại phải dùng óc não tính toán làm sao giữ gìn nó để nó không mất, không hết. Cứ cho rằng tiền là thật của mình, nên ngày ngày lo lắng. Song le, bất luận tiền nhiều hay ít, chết rồi chẳng đem được một xu. Thế rồi lại hai tay trắng! Bạn xem nó có vui sướng gì?
- Chúng ta ai cũng bị nghiệp dắt dẫn, rằng: Thân không tự chủ. Mình sinh vào đời này chính là để trả nợ. Bởi vì xưa kia tạo nghiệp không giống nhau, nên đời này chịu quả báo khác nhau. Ðó là: Lưới nghiệp đan kết.
- Làm việc quỷ thì tức là quỷ. Làm việc người thì là người. Làm việc Phật thì là Phật.
- Bây giờ mình được nghe mấy chữ chú Ðại Bi thì nên sinh lòng hoan hỉ, rằng thật may mắn, thật hân hạnh, thật khó gặp được chú Ðại Bi. Thật vậy, rất khó mà bạn có thể gặp được chú Ðại Bi. Nay gặp được chú rồi, bạn nên nhớ, đừng coi thường nó rồi vất qua một bên.
- Người học Phật phải bỏ ít thời gian ra học tập Phật pháp, không nên hiểu mường tượng chẳng rõ ràng, tợ hồ biết nhưng lại không biết. Có người nghĩ rằng: Tôi đã không biết, do đó tôi không cần muốn biết. Tôi đã không thông đạt, do đó cứ không thông đạt luôn. Ðó là thái độ tự mình đầu hàng, không chịu bước chân tới trước, tự vất bỏ tiền đồ của chính mình.
- Người mới phát tâm tu hành, cái chướng ngại lớn nhất cho việc dụng công là: Tâm dâm dục, con trai tham luyến con gái, con gái tham luyến con trai. Ðây là vấn đề căn bản nhất.
- Giảng kinh là tu huệ; tọa thiền là tu định; Không mở miệng nói lăng nhăng là tu giới.
- Làm người trên đời mình phải hành thiện cho đúng lúc, cho kịp thời. Còn một chút hơi thở, một chút sức lực, mình phải hành thiện, tích đức, không nên phung phí căn lành mình đã trồng trong kiếp trước, bằng cách đời này cứ việc hưởng thụ cho hết những phước báo ấy.
- Người tu mà sợ cô độc thì chẳng thể tu.
- Trong tâm ta, tuyệt đối không được có quỷ. Cũng đừng có sân hận, oán ghét, buồn bực, khó chịu. Khi có những thứ ấy thì không xong, bởi vì có chúng tức là quỷ vào nhà rồi vậy.
- Làm bậc thiện tri thức, bạn không được nịnh hót người ta, không được tìm cách làm vui lòng người ta, khiến người bạn của mình mê mờ chân lý mà cũng chẳng hay biết.
- Quỷ vương chuyên môn nóng giận, không giữ quy củ. Quan Âm Bồ Tát chuyên môn chịu bị hà hiếp, luôn giữ quy củ.
- Bạn suy nghĩ những việc không có giá trị, thì tương lai sẽ gặt những quả báo không có giá trị. Mọi thứ ẩm thực đều chỉ có một mùi vị. Cứ nghĩ về chuyện ăn uống thì tâm sẽ buông lung, không thể kiềm thúc được sáu căn.
- Nếu vũ trụ đầy tràn khí kiết tường thì địa cầu sẽ không vỡ tung.
- Các bạn chú ý: Phàm là cảnh giới từ bên ngoài tới, mình đừng chú ý vào nó, đừng can thiệp tới nó, cứ để tự nhiên, nhưng đừng để nó lay động tâm mình. Trong Kinh Lăng Nghiêm có giảng rất rõ ràng, hy vọng các bạn tham thiền nghiên cứu tường tận phần giảng về 50 Ấm Ma.
- Buồn một chút: Là mình dạo chơi địa ngục. Cười một cái: Là già biến thành trẻ. Khóc một hơi: Thì địa ngục có một phòng nhỏ thật đen thui.
- Việc quan trọng đối với người tu là đừng sinh phiền não, ở bất kỳ tình huống nào cũng vậy. Ngồi cũng không sinh phiền não; nằm cũng không sinh phiền não. Cốt yếu là phải đoạn phiền não. Rằng: Phiền não vô tận, thề nguyện biến; biến phiền não thành bồ đề. Phiền não tức là không giác ngộ. Bồ đề tức là giác ngộ.
- Chú Ðại Bi tức là đại chú của tâm đại bi. Nó có thể thông thiên triệt địa. Nếu bạn có thể mỗi ngày trì tụng 108 biến, liên tục trong suốt ba năm, thì sau đó bạn có thể dùng chú Ðại Bi để trị bịnh. Lúc ấy, tay tới là bịnh trừ. Tôi biết nói về công hiệu của chú Ðại Bi. Hy vọng các bạn mỗi người dùng sức mạnh của chú Ðại Bi để vãng cứu hạo kiếp (tai ương, đại nạn) của thế giới, khiến cho người ta vĩnh viễn không còn tai nạn, và chánh pháp vĩnh viễn ở mãi trong thế gian.
- Thánh nhân ngày xưa thì luôn tự trách phạt chính mình. Không như người đời nay, chuyện gì cũng chẳng bao giờ nhận là mình sai, cứ luôn tìm lỗi lầm của kẻ khác.
- Chúng ta mỗi ngày phải bớt nói một chút, để niệm Phật nhiều hơn một chút. Ðánh chết ý niệm trong tâm thì Pháp thân mới sống đặng. Bớt nói chuyện, niệm Phật nhiều: chuyện thật dễ như trở bàn tay.
- Người tu thì phải làm ngược trở lại. Ðó là nghĩa làm sao? Tức là: Chuyện tốt thì nhường kẻ khác, chuyện xấu thì gánh vào mình. Xả bỏ cái ngã nhỏ bé để hoàn thành cái ngã (Phật tánh) vĩ đại.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng....
Mỗi ngày bạn tụng 108 biến, mà tụng một ngàn ngày, tức cũng khoảng thời gian ba năm, thì mười ông vua Diêm Vương đều vui mừng, bệnh gì cũng đều có thể trị được. Lúc đó bạn lập được rất nhiều công; vì trong thời gian ba năm, hằng ngày bạn đều tụng Chú, chẳng tạo nghiệp. Dưới địa ngục có một tấm gương gọi là "Nghiệt kính đài", bất cứ bạn tạo tội nghiệp gì, thì đều hiển hiện ra ở trong tấm gương đó, giống như màn ảnh truyền hình. Một đời bạn làm gì, như bạn giết người, thì trong tấm gương đó sẽ hiện ra tình hình bạn giết người...
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi....
Thiện nam tử! Nên giữ gìn tâm thành, tức là không tham tất cả cảnh giới sinh tử. Nên trang nghiêm tâm thành, tức là chuyên tâm hướng về cầu mười lực của Như Lai. Nên tịnh trị tâm thành, tức là rốt ráo đoạn trừ tham sẻn, đố kị, xiểm nịnh, gian dối. Nên mát mẻ tâm thành, tức là suy gẫm thật tánh tất cả các pháp...
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy...
"Diệu", đối với chữ diệu nầy, chúng ta phải cần một phen, hạ khổ công phu để nghiên cứu. "Diệu" tức là huyền diệu, vi diệu, thâm áo không thể dò. Ngài Trí Giả Ðại Sư, chỉ nói về một chữ diệu, mà phải mất thời gian chín mươi ngày, tập thành một bộ Pháp Hoa Huyền, là một bộ Kinh quan trọng trong ba bộ Kinh lớn của tông Thiên Thai. Ðó là, chỉ nói một chữ diệu, mà phải mất ba tháng mới nói xong, bạn nói có diệu chăng !
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời.