Thông tin
Các bài mới
Cách đây rất lâu xa, thời Đức Phật Ca Diếp (Kassapa Buddha) thị hiện giáo hóa, có một vị Tỳ kheo Ni tinh tấn tu hành, Ngài vào tận rừng sâu để thực hiện hạnh đầu đà trọn vẹn. Một ngày, khi nghe tin Đức Phật nhập Niết Bàn, vị Tỳ kheo Ni vô cùng xúc động, Ngài ngay lập tức trở về và quyết định sẽ thực hiện một hạnh nguyện đặc biệt để bày tỏ tấm lòng của mình đối với Đức Ân Sư.
Thủa xưa, Đức Phật trú tại Tinh Xá Kỳ Hoàn vì hàng Trời, người, Vua quan, dân chúng tuyên thuyết Diệu Pháp. Lúc ấy, bên đường có một gia đình Trưởng Giả Bà La Môn giàu có vô số, chỉ sinh được một người con trai, năm nay vừa tròn hai mươi tuổi. Vị Trưởng Giả mới cưới vợ cho con được bảy ngày. Hai vợ chồng thương yêu ăn ở hòa thuận với nhau. Người vợ nói với chồng muốn ra vườn sau ngắm cảnh thưởng hoa. Chồng chiều ý vợ, hai người đưa nhau ra vườn sau. Lúc ấy đương vào tiết xuân, trong vườn có một cây nại cao to trổ hoa tươi đẹp.
Sau buổi thuyết Pháp, các Bà la môn, gia chủ tín thọ giáo Pháp và đảnh lễ Thế Tôn ra về. Ngài Lại Tra Hòa La lập tức đến trước pháp tòa, thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch rằng: - Kính bạch Đức Thế Tôn, sau khi nghe Thế Tôn thuyết Pháp, con đã thấm thía nỗi khổ đau của kiếp người. Đời sống gia đình đầy những ràng buộc, giam hãm chúng sinh trong những điều tầm thường của thế tục. Chỉ có xuất gia trong giáo Pháp của Thế Tôn mới có thể sống một đời hoàn toàn trong sạch, trắng trong như vỏ ốc, phạm hạnh viên mãn.
Tại Vesali, Tôn giả Moggallana cùng chư Tăng đi khất thực. Một số người dân cúng dường vật thực. Một người đàn ông ngồi với một cô gái xinh đẹp bên gốc cây. Người đàn ông chỉ về phía chư Tăng đang đi và nói: - Này Vimala, người Sa môn đi đầu đó là Moggallana, một đệ tử Thượng thủ của Sa môn Gotama. Lúc trước hắn trông coi Tinh Xá Veluvana Trúc Lâm ở Vương xá thành Rajagaha. Bỗng nhiên mấy tháng qua hắn lại giao cho Sariputta trông coi rồi đi nơi này nơi kia. Có nhiều Tỳ kheo cũng đi theo với hắn. Ta cần cô quyến rũ hắn.
Bình sinh, cho đến bây giờ đã sang bên kia dốc cuộc đời, tôi vẫn thường tự cho mình là kẻ không đến nỗi phải xấu hổ với danh phận của một thằng đàn ông , một thương gia . Ấy vậy mà cuộc đời phiêu bạt để bỗng có một ngày đẹp trời, trên một phiên chợ vùng cao, tôi bị choáng váng vì tự thấy xấu hổ với mình khi ngồi nghe trộm câu chuyện của hai người đàn ông xa lạ. Bên một chiếc bàn gỗ mốc thếch, tôi ngồi uống rượu với một người bạn. Anh này thạo nhiều thứ tiếng dân tộc vì đã một thời chuyên đi thu mua nấm rừng, thảo quả trong các bản làng xuất sang Trung Quốc.
Một trăm ngàn đại kiếp trước, thời Đức Phật Thắng Liên Hoa (Padumuttara) thị hiện, Thái tử Sumanakumara là một Phật tử thuần thành, trọn lòng kính tin Tam Bảo. Vào mùa an cư kiết hạ, Thái tử thường chuẩn bị nhiều vật thực và những đồ dùng cần thiết đến tinh xá cúng dường Tăng chúng. Khi đó, hầu cận Đức Phật lúc nào cũng có một vị Thị giả ân cần ở bên. Với Đức Bổn Sư, Ngài tận tụy chăm sóc đến từng điều nhỏ nhặt. Với chư Tăng, Ngài hòa hợp yêu thương và lúc nào cũng tinh tấn học hỏi giáo Pháp. 
Một lần cùng Tăng đoàn du hành qua xứ Bạt Kỳ (Vajji), Tôn giả Anuruddha xin phép Đức Phật được dừng chân tĩnh tu. Tại đây, trong căn chòi lá nhỏ bên bìa rừng, phía sau khu vườn của một gia đình nông phu, Ngài tọa thiền lặng im bất động. Tôn giả an trú sâu dần trong các tầng mức thiền định, hào quang nơi thân thể tỏa ra lấp lánh. Vào một đêm tĩnh lặng, từ nơi gương mặt Ngài bỗng xuất hiện vầng ánh sáng chói lòa chiếu rọi đến mười phương thế giới. Cả đất trời hiện diện đủ đầy trong một tia nhìn cùng khắp tường tận đến từng hạt bụi nhỏ. Ngay giây phút đó, Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên bừng khởi.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Nếu tám thứ gió: Khen ngợi, chê bai, đắng cay, ngọt ngào, lợi, suy, hủy nhục, vinh dự làm bạn động tâm thì nền móng tu hành của bạn chưa vững chắc.
- Người trẻ đừng để thứ dơ bẩn ràng buộc. Hãy có thái độ: Lạnh tới đâu, cũng hiên ngang ưởn ngực đón gió; đói tới đâu, cũng phây phây gồng bụng tiến bước. Hãy làm ngọn đuốc sáng trong cơn gió dữ, thứ vàng ròng trong ngọn lửa đỏ. Không sợ gì hết.
- Người chuyên tâm học đạo thì bất luận ai thuyết pháp hay dở thế nào, y cũng chú mục ngưng thần, cung kính lắng nghe. Kẻ không chú ý thì sẽ ngủ gật. Ðó là thử thách để đào luyện giữa cái thật và giả.
- (Ðể dành) tài sản cho lớn thì sau này con cháu cũng lớn gan lắm: Chúng chẳng sợ gì cả, mặc tình làm càn cho tới tán gia bại sản, mới ngừng tay. Ðể lại gia sản ít ỏi thì sau này con cháu cũng gan nhỏ: Chuyện gì cũng xong, (không tham vọng) do đó họa cũng ít.
- Sự thành công của người đời là sự thất bại của thánh hiền. Do đó trương mục (nghiệp) của mình phải thanh toán cho rõ ràng. Hãy làm người sáng suốt. Một khi sáng suốt thì vĩnh viễn bạn sẽ sáng suốt. Hãy phá sập cửa sinh tử, nhảy thoát khỏi vòng sinh tử. Ðó mới thật là việc của đấng đại trượng phu.
- Người quân tử tìm đáp án nơi chính mình. Kẻ tiểu nhân thì tìm cầu nơi kẻ khác. Kẻ tiểu nhân lúc nào cũng hướng ngoại.
- Ðời đời kiếp kiếp mình trôi dạt trong biển khổ. Tuy muốn tu hành nhưng mình lại không thể buông xả những thứ rác rưởi. Thủy chung không muốn mình thanh tịnh, sạch bụi bặm. Thật đáng thương xót.
- Giúp người là nguồn cội của khoái lạc hạnh phúc. Nếu bạn thường thường xem việc giúp người cũng quan trọng như giúp mình thì thế giới sẽ rất hòa bình yên ổn.
- Nhiều người làm đồ chay như thịt gà, vịt hay thịt cá, là vì họ chưa quên được mùi vị của thịt thà. Cứ muốn nếm nó. Họ nói rằng ăn thịt giả như vậy để đở thèm, lừa cái khẩu vị. Trong Phật giáo, nhất định phải sửa đổi thói xấu này. Nếu không sửa đổi, trãi qua thời gian lâu dài, e chẳng còn người xuất gia nào ăn chay nữa.
- Tôi nghĩ rằng đã ăn chay thì ngay cả tên món ăn cũng không nên đặt tên gà vịt gì đó vào. Tôi hy vọng rằng mỗi người tín đồ Phật giáo cần có con mắt hiểu biết chân lý (trạch pháp nhãn). Mình phải hiểu nhân quả, chớ lầm lẫn trong quá trình gieo nhân, thọ quả.
- Ăn chay thì ăn cho thanh tịnh, đừng nhớ mãi mùi vị thịt. Người ta làm đồ ăn theo hình dáng con chim con cá, (tuy giả), thì chẳng khác gì làm nhục đạo Phật. Người tín đồ không quan sát rõ ràng, tùy tiện cho là được. Căn bản làm vậy là thiếu trí huệ, không có mắt nhận biết chân lý, không thấu suốt nhân quả, chỉ mơ hồ mê muội mà thôi.
- Khi động vật bị giết, trong tâm chúng chất chứa lòng oán độc. Ngay lúc lâm chung, lòng chúng sợ hãi, thù hằn, muốn báo thù. Tâm lý oán độc căm thù ấy sản sinh ra độc tố khiến người ăn thịt nó sẽ ăn độc tố ấy.
- Người ta gặp tai nạn họa hoạn bất ngờ, đều do nói lời loạn xạ (vô trách nhiệm, ác độc, lếu láo...) mà ra.
- Mọi chuyện trên đời đều hết sức vi diệu, nhưng ít người nhận ra. Vì như, bán thuốc giả thì làm ăn khá lắm, còn bán thuốc thiệt thì lại ế ẫm. Vì sao? Bởi vì không mấy người thật sự nhận thức giá trị của thuốc thiệt.
- Nếu mình dịch hết kinh điển ra mọi thứ tiếng, đem Phật pháp tới tâm mỗi người thì đó mới là việc vĩnh cửu.
- Tại sao ở chùa nhỏ thì không tốt? Bởi ở đó, bạn sẽ chẳng có gì ràng buộc. Tha hồ ăn mặc, ngủ nghỉ, đi đứng; rất dễ quên mất việc tu đạo. Mỗi ngày chỉ biết có phan duyên. Thói quen này là đòn phá hoại đạo Phật đến chí mạng.
- Có người nghi: Thiệt có vua Diêm La và quỷ Vô Thường chăng?
- Xem thử bạn có chết hay không? Nếu bạn chẳng chết thì sẽ chẳng có quỷ vô thường. Nếu bạn khẳng định tự tin, cho rằng chẳng thọ quả báo, thì chẳng có vua Diêm La.
- Có định lực thì động tỉnh đều không hai (không có khác biệt). Như lúc trong cảnh động, bạn không bị cảnh ấy chi phối, đó tức là tỉnh. Trong cảnh tỉnh, bạn không bị vọng tưởng quấy nhiễu, đó tức là động. Nếu bạn tu sao cho động và tỉnh như nhau, công phu sẽ đúc kết như thành một khối. Lúc ấy cũng không phải là động, cũng chẳng phải là tỉnh, chẳng phải không, chẳng phải có. Ðó chính là trung đạo.
- Mình đừng nên vui thích nghe lời khen ngợi tán thán. Ðừng nên tự mình say sưa, tự quảng cáo mình.
- Nếu bạn biết sám hối, sửa mình thành người mới, biết lỗi lầm mình làm, giải kết tội nghiệp đã tạo thì tội sẽ tiêu trừ hết sạch. Như bịnh mà toát mồ hôi rồi thì bịnh sẽ từ từ thuyên giảm rồi lành hẳn.
- Thời đại này người ta gọi là thời đại thái không. Rốt ráo thế nào là thái không? Thái không nghĩa là nhìn xuyên vạn sự, buông xả mọi thứ, đạt tới tự tại.
- Khi bạn chấp trước vào vật chất, tài sản, thậm chí vào ăn mặc, thì tức là bạn chấp trước vào tài sắc danh thực thùy rồi. Vậy tức không còn là thái không mà là thái hữu! (chữ thái còn có nghĩa là quá, quá mức: Không còn quá không mà là quá có!)
- Tới chỗ bạn chẳng còn gì cả thì bạn mới khôi phục lại bản lai diện mục.
- Vì sao bạn chẳng có trí huệ, thần thông? Bởi vì bạn cứ chạy khắp nơi lượm lặt rác rưởi. Ngọc ngà châu báu bạn chẳng thèm, thứ quý báu sẵn có không ham, lại đem vất đi. Vậy mà bạn vẫn cho rằng mình thông minh lắm! Thật thì ngu si quá vậy.
- Có tội lỗi mà không sửa đổi, lại che dấu nó đi, khiến người không biết: Ðó chính là tội đội thêm tội.
- Không có chú Lăng Nghiêm trên đời thì ma quỷ yêu quái tha hồ thao túng, chẳng chút úy kỵ, mặc tình hoành hành. Nếu còn có chú Lăng Nghiêm thì những thứ bàng môn tả đạo, ly mỵ vọng lượng, sơn yêu thủy quái vẫn còn sợ hãi, không dám công nhiên xuất hiện trên đời.
- Tu nhưng không phát nguyện thì cũng như cây khai hoa nhưng không kết trái. Chẳng thể được.
- Những đều mình gặp và trãi qua trong đời đều là do nghiệp lực kiếp trước tạo thành. Nếu muốn sửa đổi vận mạng của mình thì bạn phải làm thật nhiều việc công đức.
- Phật không có lòng sân giận. Ma mới có.
- Ma do đâu mà thành? Do có năm thứ độc: Hận thù, oán ghét, phiền não, tức giận, phiền muộn tạo thành.
- Bạn cần lập đại chí, làm đại sự. Ðừng nên nghĩ chuyện làm quan, kiếm nhiều tiền. Ðó chỉ là để mình hưởng thụ, không có cống hiến gì đến nhân loại.
- Có người tới chùa cho rằng thắp càng nhiều nhang thì càng được nhiều công đức. Ðây là quan niệm sai lầm. Thắp nhang cúng Phật là biểu lộ lòng thành, nên một nén là đủ. Sao cần dùng cho nhiều? Nếu tâm không thành khẩn thì thắp nhiều cũng chẳng cảm ứng. Phật không đến để ngửi mùi hương đâu.
- Ðạo Phật không chủ trương đốt tiền giấy, (giấy vàng mạ, hình nộm xe cộ, tàu bè; áo quần giấy, dày dép vật dụng bằng giấy).
- Các bạn xem xét, chỉnh đốn lại những kinh điển mà mình đã phiên dịch trước kia. Cần chính xác, trung thật, khế hợp với ý Phật. Ðó là nguyện vọng của tôi, hy vọng các bạn cùng nhau nỗ lực hoàn thành sứ mạng này.
- Sân giận thì như nước bị đông cứng thành băng. Mình cần đem băng làm tan thành nước, vì nước thì lợi ích vạn vật.
- Người xuất gia thì phải nghiêm trang trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi. Rằng: Ði nhẹ như gió thoảng, ngồi yên như chuông đồng, đứng thẳng như cây tùng, nằm gọn như cây cung.
- Tu hành thì phải tu trung đạo. Quá lố: Không phải trung đạo. Quá ít: Cũng không là trung đạo. Ðức Phật dạy nghĩa rốt ráo của trung đạo thì không rơi vào không cũng chẳng nghiêng về có.
- Không có giới lực thì sẽ chẳng có định lực. Thiếu định lực thì chẳng thể sinh huệ lực. Khi nền móng không vững thì cột trụ dựng lên không thể chắc chắn, tường vách sẽ xiêu vẹo gãy đổ. Giới định huệ, là ba môn học vô lậu, thiếu một, không xong. Các bạn hãy chú ý điểm này.
- Niệm Nam mô A Di Ðà Phật! Nam mô A Di Ðà Phật! Chỉ một tiếng Nam mô A Di Ðà Phật, đừng có vọng tưởng gì khác: Ðó gọi là dùng độc để trị độc. Nếu bạn có quá nhiều vọng tưởng thì tức là có quá nhiều độc. Nhất định phải chết thôi!
- Mình phải dưỡng khí, không nên sinh khí (nổi giận)!
- Các bạn cho rằng xem truyền hình, nghe điện thoại, nghe radio, chơi computer là tốt lắm, nhưng các bạn nào biết rằng chúng làm tổn thương tâm can tỳ phế thận của mình. Tương lai chúng sẽ làm mình, người không ra người, quỷ không ra quỷ. Nếu đến độ như vậy thì thế giới này hủy hoại mất. Do vậy, chúng ta sinh vào thời đại mà chúng sinh vô phước, khó điều phục này thì thật không dễ gì giáo hóa.
- Ngũ ấm chỉ là một thứ âm khí. Âm khí này có thể biến thành dương khí. Âm quỷ cũng có thể biến thành dương quỷ. Xem thử bạn có biết biến đổi hay không.
- Nhất định mình phải giữ giới luật cho thật tinh nghiêm. Ðây là điều vô cùng trọng yếu, hết sức quan trọng.
- Giảng kinh thì phải giảng điều cốt yếu, không nên rườm rà. Phải giảng điều quan hệ tới kinh văn.
- Bây giờ trên toàn cầu, ai cũng nói về khí công. Ðúng là một thứ phong trào. Trong khí công cũng có nhiều loại khác nhau: có thật, có giả, có chính, có tà. Nếu gặp tà thì bạn có thể bị điên loạn; điên đến độ bác sĩ tâm thần cũng bó tay không thể chữa.
- Ðừng lầm rằng ai học khí công thì cũng là kẻ chính phái. Ai học khí công vì muốn kiếm tiền, muốn phát tài, thì đều là tà. Họ chẳng khác gì những kẻ đầu óc tràn ngập lợi dục.
- Chữ khí công: tên và sự thật không phù hợp. Vì khí thì chẳng có tri giác, nên căn bản nó không thể có công. Phải nói là thần công, quỷ công, ma công, yêu công mới đúng.
- Thần công: thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhân, (nghĩa là sự linh thông và sáng suốt được chân lý thì kết tụ nơi con người, câu này trích trong Hệ Từ Thượng Truyện). Dùng sức mạnh do giữ vững một chính niệm để khiến thần chế ngự cái khí, thì đó gọi là khí công. Thần công cũng do dụng công ở tâm ý. Song, vì chưa đạt tới cứu cánh nên môn này vẫn còn dính mắc vào hình tướng. Thần công là do có vị thần bên ngoài tới chi phối, không phải dùng khí lực chi phối tinh thần. Vì thần công thì văn nhã, nên khi vị thần tới nhập, người ấy không có nhảy nhót múa máy, cũng không nói lăng nhăng gì cả.
- Quỷ công thì khác: Khi quỷ tới nhập thì người ấy sẽ nhảy nhót múa máy, cười khóc, hớt hãi bất định. Ðây là một trong năm pháp điều động tụi quỷ. Pháp này phóng tụi quỷ vào thân người ta, gọi là phi tinh phú nhân, khiến kẻ ấy ăn nói bậy bạ tạp loạn. Ðó là do tụi quỷ vốn chẳng có tánh an định và định lực.
- Ma công và Yêu công thì không để ý gì tới đạo lý; chúng kiêu mạn, hại người, chuyên môn làm việc dâm dục. Tất cả khí công đều là biểu hiện của yêu ma quỷ quái.
- Những loại khí công ngày nay đều có thứ tà khí. Bản lai nó phải là thứ chính khí, lấy thiền làm thức ăn, sung mãn pháp hỉ, vì nó là một thứ công phu thiền định. Song, giờ đây nơi nào có khí công nơi đó khí thật cuồng loạn. Bạn run lẫy bẫy, tôi cũng run lẫy bẫy. Rồi nói luông tuồng lăng nhăng toàn thứ tà khí. Chẳng có chút định lực, những thứ khí (do vị thầy khí công) phóng ra là từ tâm tán loạn, nhưng y cứ cho là tự mình đã phát công, rồi có linh cảm như thế. Kỳ thật y đã điên cuồng! Chỉ có kẻ bịnh tâm thần mới nói lăng nhăng như vậy.
- Hai câu để phê bình khí công: Người chính tu tà pháp, tà pháp cũng thành chính. Người tà tu chánh pháp, chánh pháp cũng thành tà. Không chính thì là tà. Không tà tức là chính.
- Răng cứng, lưỡi mềm: răng rụng nhưng lưỡi chẳng rụng.
- Ngày nay nhiều người làm nô lệ cho cái thân: cho nó ở nhà tốt, ngồi xe sang. Họ bị vật chất chi phối như vậy thì tự tâm có thật sung sướng chăng?
- Ðối với người già, họ càng lớn tuổi, tôi càng chiếu cố chăm sóc.
- Bạn đuổi được bọn quỷ tham ăn, quỷ làm biếng, quỷ ham ngủ thì đó là công phu tọa thiền sơ bộ nhất.
- Chỉ biết người khác, quên mất mình đi: tới trình độ này thì mới đáng là hiểu biết Phật pháp.
- Phải niệm Quán Âm Bồ Tát ở mọi thời mọi chốn. Ði đứng nằm ngồi đều phải niệm. Lòng mặc niệm hay miệng niệm đều có công đức như nhau. Do vậy đừng khởi tâm so sánh (công đức của tâm niệm và miệng niệm), mà phải tùy duyên niệm.
- Chờ chết mới niệm danh hiệu đức Quán Âm thì không còn cơ hội nữa. Nên nói rằng: Hãy nhớ tới lẽ vô thường, nên chớ có buông lung.
- Mình gặp người nào thì người ấy hẳn phải có duyên với mình. Hà tất ta phải tranh chấp cải vả. Thật chẳng có nghĩa lý gì.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.