Thông tin
Các bài mới
Chiều hôm ngày 30 tháng 3, chúng tôi, 56 người, gặp nhau ở một phi trường nhỏ trong một tỉnh nhỏ, có tên là Hatyai, của nước Thái Lan. Trong 56 người, chỉ có 4 người: vợ chồng tôi, Trùng Dương, anh Michael ở Texas làm cho đài Truyền Hình Saigon-Houston không phải thuyền nhân. Số đông thuyền nhân tham gia là các anh chị đến từ Úc Châu và rất nhiều người đã từng đi Songkla và Bidong hai, ba lần. Anh chị Dương Phục và Vũ Thanh Thủy cũng là thuyền nhân nhưng đây là chuyến đi đầu tiên của anh chị đến đảo Kra.
Nếu ví cuộc đời của mỗi người như một bản trường ca có nhiều đoản khúc khác nhau, mỗi đoản khúc biểu tượng cho những diễn tiến buồn hay vui, hoan lạc hay bi đát đau thương xẩy ra trong cuộc đời của họ. VN với một dẫy dài lịch sử toàn là chiến tranh và loạn lạc, có lẽ không một ai trong chúng ta không ít hay nhiều cũng phải chịu những những khổ ải do bom đạn đem đến dù ở thị thành hay nông thôn. Cá nhân tôi cũng không ngoại lệ. Sinh ra và trưởng thành trong khói lửa của hai cuộc chiến tranh, vì vậy tôi có khá nhiều ký ức buồn đau trong cuộc đời ngay từ lúc sinh ra.
Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ngồi dưới bảy cây Sirìsaka, gần Ba-la- nại, liên hệ đến Long vương Erakapatta. Vào thời đức Phật Ca-diếp, Erakapatta là một Sa-môn trẻ. Một hôm, thầy ngồi trên thuyền bơi dọc sông Hằng. Ngang qua khu rừng cây Eraka, thầy nắm một chiếc lá, xuồng đi nhanh thầy níu lại, và chiếc lá bị rách tan. Thầy nghĩ thầm "Chuyện vặt!" Trong suốt  hai mươi năm thiền định trong rừng, thầy không sám hối lỗi này, nhưng khi gần chết, thầy có cảm giác bị một chiếc lá Eraka quấn ngang cổ. Thầy muốn thú tội, nhưng không  có vị Tỳ-kheo nào gần đó.  
Là con người, ai cũng có đủ tính tốt và xấu, nên thực tế rất khó nhận định về tính cách của chính mình, của một người khác, huống chi là nói về tính cách của cả một dân tộc. Tuy vấn đề phức tạp và đôi khi mâu thuẫn, nhưng tôi cũng xin cố gắng đưa ra một số nét tiêu biểu của người Nhật. Người Nhật là pha trộn của các dân tộc bản địa với người Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Mãn Châu, Eskimo... thuộc giống da vàng. Dáng người lùn mập, nhưng nay phát triển mạnh về chiều cao cũng như tuổi tho.. Theo thống kê năm 2000, chiều cao trung bình của phái nam là 171,3 cm và phái nữ là 158,4 cm. 
Tôi sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh đầy phong ba bão táp. Cả nhà 6 người mà chỉ có một chiếc xe đạp thay phiên nhau đi, gạo thì chạy ăn từng bữa, anh trai tôi ngày ngày cứ 5h sáng phải chạy lên Gò vấp để lấy bánh đậu xanh về đi bỏ cho các tiệm bánh rồi mới về đi học trong suốt 7 năm trời, từ năm học lớp 11 đến hết năm thứ 6 Y khoa. Khó khăn là vậy nhưng tôi vẫn trưởng thành một cách đầy kiêu hãnh. Đôi khi nhìn lại tôi tự hỏi là điều gì đã giúp tôi mạnh mẽ mỗi khi đương đầu với những khó khăn? Và câu trả lời là do trong huyết quản tôi vẫn đang mang một dòng máu nóng trong mình và tôi đã đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ người đã cho tôi dòng máu ấy: một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.
Cách đây đúng 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này. Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Ulysses Simpson Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Robert Edward Lee cầm đầu.
Một chiều cuối năm 1998 tôi vào Trường University of Washington (UW) để đón đứa con gái áp út tan giờ học. Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến Bus. Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều. Hỏi chuyện, tôi mới hay, ông cụ đã qua tuổi bảy mươi, ăn tiền hưu, và đang học môn Truyền Thông (Communication) năm Senior. Tôi chợt nghĩ, thời gian này mình cũng không bận lắm, tại sao không trở lại trường? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay. Thế là, hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College (Shoreline C. C.).
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Các bạn có thể ngày nay quy y Tam Bảo là vì các bạn đã trồng căn lành to lớn trong quá khứ. Ngày nay khi họp mặt với nhau, đại chúng nên phát lòng bồ đề, cầu đạo vô thượng. Không nên làm loài sâu bọ trong Phật giáo, không nên làm kẻ hư đốn bại hoại. Hễ bạn thấy ai hủy báng Phật giáo, bạn chớ cùng họ tranh biện. Bạn hãy tu hành với hành động chắc thật . Dùng sự tu hành để hiển minh lời Phật dạy. Ðừng nên dùng lời nói ngoài miệng (khẩu đầu thiền) để làm họ tin mình. Phải chân thật tu hành.
- Chiến tranh ở trên thế giới đều bắt đầu từ những chiến tranh nho nhỏ trong tâm mình phát khởi. Cổ nhân nói: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách (Sự thạnh suy của một nước, ngay kẻ tầm thường cũng phải có trách nhiệm). Chẳng nên nghĩ rằng: Ðó là chuyện của người khác, chẳng phải chuyện của mình. Nếu mỗi người ai cũng chẳng có chiến tranh, thì chiến tranh thế giới sẽ chấm dứt.
- Ðừng nên đem ánh sáng chiếu rọi bên ngoài. Lúc nào cũng phải biết xoay ánh sáng lại rọi lòng mình. Chiếu soi xem mình là súc vật? là quỷ? là gì?
- Thế nào là đạo đức? Tức là lấy sự lợi lạc của chúng sinh làm chủ, lấy sự không cản trở người khác làm tông chỉ. Ðạo đức cũng có nghĩa là trong lòng mình tràn ngập lòng nhân từ, nghĩa khí, lễ độ, trí huệ và thành tín.
- Vì sao mình không tương ưng với đạo? Vì tâm cuồng chưa ngừng. (tâm cuồng là tâm đầy vọng tưởng).
- Việc tốt là do tâm khởi đầu. Việc xấu cũng từ tâm khởi đầu.
- Ba thứ độc tham sân si so với nha phiến, rượu mạnh hay với độc dược cực độc, thì nó lợi hại hơn gấp bội. Những thứ thuốc, rượu, độc dược chỉ là độc tố hữu hình, hại thân thể người. Còn tham sân si thì hại pháp thân huệ mạng của ta, đó mới là thứ tối chướng ngại tu đạo.
- Tu hành pháp Phật tức là: Ðừng làm việc ác, làm toàn việc thiện.
- Nhìn xuyên thủng thì mình sáng tỏ; hễ buông bỏ thì mình giải thoát. Giải thoát là tự tại. Khi tự mình không tại (không ở đây) thì giặc cướp sẽ xâm phạm, mình sẽ bị cảnh giới lay chuyển.
- Người tu nếu không có tiền bạc gì cả thì mới tu hành được. Một khi có tiền thì tuyệt đối chẳng thể tu hành đặng. Ðó là điều tôi dám bảo chứng.
- Sự khoái lạc chân chính thì chẳng có gì mong cầu. Khi tới chỗ không còn mong cầu thì ta sẽ chẳng có âu lo. Khi bạn chẳng mong cầu điều gì thì đó mới là sự vui sướng chân chính, cũng là sự an vui yên ổn thật sự của tự tánh.
- Cái tật xấu lớn nhất của chúng sinh là lòng si ái (yêu đương si mê). Ngày đêm ở trong vòng si ái mà chẳng phút nào buông bỏ cho đặng. Nếu mình có thể đem lòng háo sắc biến thành lòng ham học Phật, giờ phút nào cũng chẳng quên học phật, thì rất mau có thể thành Phật.
- Hãy đem sự thông minh, trí huệ nhỏ bé để qua một bên. Ðừng nên nghĩ rằng chuyện gì mình cũng biết, cũng hiểu. Nếu bạn nghĩ rằng việc gì mình cũng biết thì bạn không phải là người chân chính hiểu Phật pháp.
- Ở Vạn Phật Thánh Thành, không ai được phép nịnh hót, nói những lời dua nịnh, vuốt ve kẻ khác.
- Trong chùa, nơi đạo tràng, việc xấu xa nhứt là ta chẳng chịu tu hành. Ai chẳng tu hành thì tương lai đều phải đọa lạc.
- Tu hành cần ta phải dưỡng nục, nghĩa làm ra vẻ khù khờ. Càng ngu ngơ khù khờ càng tốt. Khù khờ đến chỗ rằng một vọng tưởng cũng chẳng còn.
- Người tu hành đừng nên có cái TA. Vất cái ngã vô thùng rác. Ðến đâu cũng vì người khác, vì việc công mà phục vụ. Phải biết hòa quang (hòa đồng với mọi người), dùng sự nhượng bộ làm bước tiến. Việc gì cũng giữ gìn, chẳng đua đòi tranh giành, chơi nổi. Một khi chơi nổi thì bạn sẽ gặp rắc rối ngay.
- (Nói với người xuất gia:) Nếu đồ ăn thức uống không thanh đạm thì đừng ăn. Trách nhiệm của người tu là hoằng pháp chớ không phải đi tiếp đãi người ta. (Ðây là ý nói về chuyện người xuất gia hay đi ra tiệm ăn uống để tiếp đãi, hoặc bàn bạc chuyện đời, chuyện danh lợi, chuyện riêng tư.)
- Có người cư ngụ tại Vạn Phật Thánh Thành, nhưng chờ Sư Phụ tới mới chịu đi nghe giảng, còn bình thường thì chẳng chịu tham gia hai thời công phu sáng và chiều. Nghe giảng lại chẳng chịu tùy hỉ. Ðó thật là ích kỷ. Họ chỉ muốn tới lấy mà chẳng phải tới cho, đi ngược lại với tinh thần căn bản của chùa Vạn Phật. Ðại chúng thì là một thể, bạn không thể làm việc riêng tư ích kỷ, chẳng đếm xỉa gì tới toàn thể đại chúng.
- Ai là kẻ thù của người tu? Chẳng phải ma vương đâu, chính là lòng ích kỷ. Làm việc với lòng ích kỷ thì vạn sự chẳng thành; dẫu có thành công cũng chỉ là hư vọng.
- Người dụng công tu đạo thì một tích tắc cũng không thể khởi vọng tưởng. Rằng: Ðại sự chưa xong, khổ như có tang. Việc sinh tử đại sự chưa giải quyết xong thì cũng bi ai đau khổ hệt như người con có cha mẹ mới chết vậy.
- Phật pháp sâu rộng như biển lớn: Phải dũng mãnh tinh tấn, siêng năng tu tập thì mới có thể thành tựu được.
- Người tu đạo cần phải có sự hiểu biết đúng đắn và cái nhìn đúng đắn (chính tri chính kiến). Không nên điên đảo thị phi. Trắng đen phải phân cho rõ, chẳng thể lầm mắt cá là hạt ngọc. Chẳng thể làm qua loa, làm cho có. Nếu làm vậy thì bạn sẽ có sự hiểu biết và cái nhìn lệch lạc (tà tri tà kiến) vĩnh viễn chẳng thể thành Phật đặng.
- Suy nghĩ vẩn vơ: Nếu bạn biết chắc chuyện đó chẳng thể làm được thì sao cứ cố ý nghĩ đến nó hoài? Nếu biết đó là vọng tưởng, suy nghĩ vẩn vơ, thì sao bạn không dẹp nó qua một bên? Ðây là thói quen xấu của nhiều người: Biết là sai mà cứ cố ý làm. Nói trắng ra thì đó là bạn không nhìn thủng, chẳng buông bỏ (chấp trước). Bạn không chấp trước bên này thì cũng chấp bên nọ; không trước món này lại trước món khác; không chấp đàn ông thì cũng trước đàn bà. Thế là bạn lãng phí hết thời gian quý báu.
- Lòng từ bi bắt nguồn nơi tự tánh. Nó chẳng cần bất kỳ sự tạo tác gì mới có. Mình không cần phải nịnh hót (mới có lòng từ bi); nịnh hót là việc giả dối. Người ta từ từ trưởng thành, thế nào họ cũng sẽ hiểu đạo lý này. Khi ấy tâm họ sẽ tự nhiên phát sinh lòng từ bi, mà không cần phải cố ý làm bất kỳ việc gì. Cố ý là ra vẻ từ bi thì bạn sẽ rơi vào chỗ yếu mềm, nịnh bợ. Cố ý làm vẻ không từ bi, thì bạn sẽ trở nên rất lạnh lùng, xa cách. Làm quá mức thì cũng chẳng khác làm chưa đủ. Chuyện gì cũng phải giữ trung đạo, tức là vô tâm , vô niệm.
- Là đệ tử của Phật, mình phải cẩn thận chuyện nhân quả. Chớ tùy tiện hủy báng, chửi rủa người khác.
- Khi một niệm chẳng sinh, quỷ gì cũng chẳng có. Tới lúc chẳng còn thứ gì (hết tham sân si, vọng tưởng phiền não) thì lúc ấy, cái gì cũng có: Phật Bồ Tát đều tới. Vì sao? Vì rằng bạn chẳng có gì cả thì Phật mới tới. Nếu bạn còn có một thứ gì (phiền não, chấp trước), thì Phật sẽ chẳng đến. Lúc tới cảnh không thì bạn phải hết tuyệt tánh (phiền não, chấp trước) của mình, cũng tới tận cùng lý tánh của con người, lý tánh của vạn vật, lý tánh của trời đất. Chư phật chính là bạn, mà bạn cũng là chư Phật. Khi bốn tướng chấp trước đều hết thì còn gì để phiền não?
- Nếu bạn hiểu (giác ngộ) thì chuyện gì cũng là ý của tổ sư. Nếu bạn không hiểu thì chuyện gì cũng tức tối, nóng giận.
- Một niệm lành, trời đất kiết tường. Một niệm ác, trời đất cuồng phong bão táp. Do đó nước nào dân chúng lương thiện, biết giữ ngũ giới, tu thập thiện, thì nước ấy chẳng có việc gì (hung hiểm).
- Nếu có người chân chính tu hành thì Phật giáo mới hưng thạnh. Nếu chẳng có ai thì Phật giáo sẽ bị hủy diệt.
- Lúc tu hành, bạn đừng sợ khó, đừng sợ khổ, đừng sợ chẳng có tiền, cũng đừng sợ không có cơm ăn. Nếu có lòng sợ hãi thì bạn chẳng thể tu hành đặng. Người tu đạo thì tương phản với kẻ thế tục: Người đời cầu ngũ dục (tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ hưởng thụ), chẳng thể nào buông bỏ chúng.
- Nếu bạn có thể nhẫn dục (nhẫn nhịn không khởi dục vọng): Ðó tức là trì giới. Chẳng thể nhẫn dục thì chẳng phải trì giới.
- Trong sinh hoạt của tùng lâm thì giữ quy củ là việc trước tiên. Lên điện theo công khoá, lễ lạy, cúng ngọ, là việc nhất định bạn phải làm. Việc này quan trọng hơn tất cả việc khác. Bạn phải tùy chúng (làm theo mọi người) không được biệt chúng (làm khác hẳn đại chúng). Nếu không thì bạn không được ở chung với đại chúng.
- Khi tu hành nếu bạn không hiểu đạo, thì một mặt tu, một mặt tiêu (mất công đức). Ví như nói bạn đừng nổi lòng tham dục, bạn lại nổi tham dục nhiều hơn. Từ sáng đến chiều cứ nghĩ yêu người này, thèm khát người kia. Toàn là ý nghĩ không thanh tịnh. Trong tâm bạn nước trí huệ sẽ vẫn đục, bạn sẽ chẳng còn trí huệ nào nữa, vì sự ô trược bị quấy lên rồi. Do vì bạn chẳng hiểu đạo nên cứ tu mãi mà chẳng chứng quả, chẳng thấy đạo. Ðó là vì sao? Bởi vì bạn có lòng ái dục. Nếu không có lòng ái dục thì rất mau bạn sẽ thấy đạo.
- Khi bạn không dụng công, không tu hành thì bạn cũng giống như cục đá mài dao. Tuy không thấy cục đá bị hư hao gì, nhưng để lâu ngày, mới hay là đá ngày càng nhỏ lại.
- Vô minh là một cái phòng tối đen. Nếu có trí huệ thì phòng tối sẽ biến thành sáng sủa. Trên đời này, chữ TÀI và chữ SẮC đã hại không biết bao nhiêu người tu đạo. Người tu nếu không buông bỏ được tiền tài thì sẽ sinh lòng tham tiền tài, của cải; không buông bỏ được sắc đẹp thì sẽ háo sắc, tham dâm. Ðạo nghiệp tuyệt đối chẳng thể nào thành tựu.
- Nếu tinh đầy đủ, bạn chẳng cảm thấy lạnh; nếu khí đầy đủ, bạn chẳng thấy đói; nếu thần đầy đủ, bạn chẳng buồn ngủ. Tinh, khí, thần (theo Ðạo giáo) gọi là Tam Bảo. Lý này cũng tương tợ như Phật Pháp Tăng của nhà Phật.
- Sai một ly, đi một dặm, khi tu đạo mình không được bê bối tùy tiện. Nếu bạn khởi vọng tưởng, không tu luật nghi, không nghiêm chỉnh học đạo, thì có thể bạn sẽ lập tức chiêu cảm quả báo hay sự trừng phạt vô cùng nghiêm trọng.
- Xuất gia là vì muốn tu hạnh thanh tịnh. Nếu sau khi xuất gia rồi, lại chẳng muốn xuất trần, tới đâu cũng giao tế, đãi đằng, thù tạc thì làm sao gọi là người xuất gia?
- Bạn chớ nên quá chấp trước, cứ đeo trên người mấy thứ gồng gánh mãi. Gồng gánh gì? Tức là những thứ thói hư tật xấu. Nếu bạn có những thứ luộm thuộm đó thì chẳng thể nào rút chân ra khỏi bùn lầy, chẳng thể nào tới đặng bờ bên kia.
- Người tu đạo chân thật thì đi tới đâu cũng chẳng mong người ta cúng đồ ăn ngon, có nhà ở tốt. Mình chẳng nên có tư tưởng như thế vì nó là hạt giống làm ta đọa lạc. Tới đâu, hễ có đồ vật bình thường là đủ rồi, chớ nên tham cầu hưởng thụ. Chớ nên có thái độ vui vẻ với người đối xử tốt với mình, còn đối với kẻ đối xử không tốt với mình thì chẳng vui lòng chút nào.
- Hễ ai không nổi nóng tức giận thì người ấy sẽ tương ưng với đạo lý Phật dạy, và sẽ thành Phật rất dễ dàng.
- Con người mình ai cũng bỏ gốc theo ngọn: Ðem việc tu hành sắp tại hạng nhì, còn việc kiếm tiền thì nâng lên hạng nhất, quên mất đạo lý căn bản làm người, chỉ dụng công nơi cái ngọn. Lo làm ăn kiếm tiền thì chỉ duy trì sinh hoạt cuộc sống. Còn học tập Phật pháp thì nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng, tăng trưởng trí huệ của mình. Mình nên chọn một bộ kinh thích hợp với mình nhất để học hỏi, chớ nên ngày ngày chỉ chuyên tâm làm tiền.
- Học trì chú, trước hết phải cần tâm ngay thẳng, lòng chân thành. Nếu tâm không ngay thẳng thì học chú gì, mình cũng biến thành tà. Khi tâm ngay thẳng, học trì chú mới có cảm ứng.
- Trong tự tánh quang minh của mình, chẳng hề có chút tham lam. Mà trong sự linh cảm, trong trí huệ cũng không hề tồn tại mảy may tham lam. Do đó khi mình nổi lòng tham thì cũng như nơi mặt gương bổng hiện lên một lớp bụi. Vì vậy chúng ta những kẻ dụng công tu hành phải luôn ghi nhớ: Chớ tham nhiều, chớ tham mau, chớ tham tiện nghi, dễ chịu.
- Nếu trong tâm người ta có quỷ thì người mới sợ quỷ. Nếu trong tâm người ta không có quỷ thì quỷ sẽ sợ người.
- Bây giờ mình đắc được thân người, nếu không mượn nó để tu hành thì mình chờ tới lúc nào? Chờ tới lúc thân này mất rồi, lúc ấy muốn tu thì đã quá trễ.
- Các bạn chẳng nên tìm cầu ở chỗ xa xôi, chẳng cần phải tìm pháp môn cao thâm làm gì. Khi bạn nghe đọc tới câu Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp thì bạn nghĩ phải tìm pháp môn vi diệu thậm thâm vô thượng. Sự thật thì pháp cao sâu vô thượng cách bạn quá xa, mà bước đầu tiên bạn chưa bước gì cả. Vì sao mình phải bỏ cái gần, chạy theo cái xa xôi? Vì sao bỏ gốc, theo ngọn? Tại sao mình không dụng công tu hành ở nơi chỗ gần kề nơi thân, chỗ mình sinh hoạt hàng ngày. Vì sao cứ chạy theo truy tìm thứ quá xa xăm diệu vợi? Người xưa nói: Ðạo ở cạnh bên nhưng cứ cầu ngoài xa; việc vốn dễ nhưng cứ tìm cái khó.
- Nếu bạn thật sự không nói dối trá thì bạn gọi trời, trời liền đáp; bạn gọi đất, đất trả lời.
- Không tranh, không tham, không truy cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối: Ðây là phương pháp tu hành hữu hiệu nhất.
- Một khi phạm giới dâm, bạn sẽ rất dễ phạm giới sát, cũng dễ dàng phạm giới trộm cắp, và vọng ngữ. Bởi vậy, phạm giới dâm thì các giới sát sinh, trộm cắp, dối trá đều bao hàm trong đó.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa chia làm bảy quyển, tổng cộng có hai mươi tám phẩm. Mười bốn phẩm trước, là nói về nhân của một thừa. Mười bốn phẩm sau là nói về quả của một thừa. Cũng có thể nói mười bốn phẩm trước là khai quyền hiển thật (Mở bày phương tiện, để hiện ra tướng chân thật), mười bốn phẩm sau là khai cận hiển viễn (Mở bày gần để biết xa), đều nói pháp tối thượng thừa. Phẩm này thuật lại vô lượng vô biên đại Bồ Tát, trụ ở trong hư không, ở thế giới phương dưới, các Ngài từ dưới đất vọt lên. Tại sao ? 
Sau khi nói xong Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương, thì khi sắp nói Phẩm Bồ Tát Diệu Âm, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở trong hội Pháp Hoa trên núi Linh Thứu, phóng ra đại quang minh từ nhục kế (chỗ cao nhất trên đỉnh đầu) tướng đại nhân, chiếu sáng hết thảy thế giới. Lại từ giữa chặng mày, phóng ra tướng hào quang trắng. Nhục kế biểu thị cho quả tròn. Phật viên mãn quả giác đã đến cực điểm. Hào quang trắng biểu thị cho nhân tròn. Trung đạo nhân cũng tròn mà quả cũng tròn, nhân quả không hai, tức nhân tức quả; tức quả tức nhân.