Thông tin
Các bài mới
Có một hôm, lúc Hòa Thượng ngồi thiền thì thấy Lục Tổ Đại Sư Huệ Năng. Lục Tổ bảo Hòa Thượng rằng trong tương lai Hòa Thượng sẽ đến Tây phương hoằng dương Phật pháp, năm tông sẽ chia thành mười tông, sẽ gặp vô số người, giáo hóa chúng sanh nhiều như cát sông Hằng, không thể tính đếm được; lúc đó là bắt đầu Phật giáo chân chánh ở phương Tây. Nói xong Ngài biến mất, khi ấy Hòa Thượng mới chợt nghĩ ra: “Ồ! Phải chăng Lục Tổ là người ở đời Đường?” (Ghi chú: Lục Tổ Đại Sư nhập Niết Bàn vào năm 713 Tây lịch) Như nay lời tiên đoán của Lục Tổ đã ứng nghiệm, Hòa Thượng đã đem đại pháp truyền sang Tây phương, giáo hóa rất nhiều người Tây phương xuất gia tu đạo. Hòa Thượng là vị đầu tiên kiến lập Tam Bảo tại Tây phương.
Trên sườn núi lửa Haleakalā, giữa lòng đảo Maui, có một loài cây kỳ lạ tên silversword. Nó không vội vàng xanh tươi, không tranh giành ánh nắng với rừng nhiệt đới. Hai mươi năm, có khi bốn mươi năm, nó chỉ lặng lẽ ôm lấy đá đen, hứng những giọt sương hiếm hoi, để dành từng tia sáng mặt trời như người thợ kim hoàn mài giũa viên ngọc quý. Rồi một ngày hè bất chợt, từ tâm lá bạc dựng lên một cột hoa tím cao hơn đầu người, nở bung hàng trăm bông rực rỡ. Vài tuần sau, hoa tàn, cây chết. Chỉ còn lại hàng nghìn hạt giống lấp lánh bay theo gió núi lửa, gieo mầm trên những vách đá mới.
Ngày 12 tháng 8, trường Tiểu học Wat Don Phut, Nakhon Pathom, nắng gắt đến nhòe mắt. Nong Plai ngồi ở hàng ghế đầu, hai tay đan chặt, mắt dán xuống đôi giày trắng đã sờn mũi. Mười một năm qua, cứ đến Ngày của Mẹ là con bé lại tự nhủ: “Năm nay mình sẽ không khóc.” Và năm nào cũng thất hứa với chính mình. Mẹ bỏ đi từ khi Plai còn chưa biết gọi “mẹ”. Chỉ còn lại người cha lưng còng vì chạy xe ôm từ 4 giờ sáng đến khuya, người mà mỗi tối đều lặng lẽ giặt sạch đồng phục con, phơi dưới ánh đèn đường, rồi ngồi chờ con ngủ say mới dám ngả lưng trên chiếc ghế nhựa cũ.
Ngày nay, khi được khuyên răn về nhân quả báo ứng, nhiều người thường đáp lại rằng “Tôi nghĩ mình cứ sống tốt là được”. Có đúng như vậy không? Đúng thế. Vậy như thế nào là “sống tốt”? Điều này thì không phải ai cũng hiểu, nên nhiều người vẫn lầm tưởng mình đang sống rất tốt đẹp, tử tế. Thực tế thì không phải vậy. Bản thân Tuấn cũng đã từng lầm tưởng. Tuấn yêu thương gia đình, vợ con. Tuấn hiếu thuận với cha mẹ. Tuấn chăm chỉ làm việc kiếm sống. Tuấn quý mến anh em, bạn bè, hàng xóm. Chắc hẳn trong quan điểm của rất nhiều người, Tuấn rõ ràng sống rất tốt. Nhưng hóa ra như vậy chưa phải. Vì sao? Vì Tuấn phạm tội sát sinh.
Hỏi: Xin hỏi về thọ U minh giới. Nếu 1 bài vị thì làm sao có thể có lợi ích cho nhiều người như thế này được không? Và có nhiều người đang phân vân liệu người nhà đã mất, lúc sống không biết Phật Pháp thì mình đại điện họ thọ giới cho họ, liệu có khi nào họ từ chối hay khó khăn cho họ không, vì các giới này phải là người phát tâm mới thọ được? Đáp: U Minh giới là gì? U Minh giới là giới pháp dành để gieo duyên cho các vong linh – tức là những người đã mất nhưng chưa có đủ phước để sinh vào đường lành, còn trôi nổi trong cảnh tối tăm.
1. Đạt được phước lành và trí tuệ, thoát khỏi đau khổ: Pháp của Bồ Tát Địa Tạng là đọc tụng “Kinh Bổn Nguyện của Bồ Tát Địa Tạng”, tụng danh hiệu "Nam Mô Địa Tạng Bồ Tát", Cúng dường chiêm ngưỡng lễ lạy Bồ Tát Địa Tạng, tụng thần chú và chân ngôn diệt định nghiệp của Địa Tạng Bồ Tát, và thực hành theo những gì đã nói trong Kinh. Đạt được phước lành, trí tuệ và thoát khỏi đau khổ, thể hiện đầy đủ tinh thần cứu khổ vĩ đại của Bồ tát Địa Tạng. 2. Pháp Địa Tạng có thể cứu độ những người đang chịu nhiều đau khổ: Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát, Đức Phật nói với chúng ta rằng số người đến tham dự Pháp hội này thậm chí không thể đếm được bằng Phật Nhãn.
Nhiều người tu tập đã nhiều năm, nhưng vẫn chưa thành tựu được nhiều. Tại sao vậy? Đó là bởi vì lúc chúng ta lạy Phật, chúng ta không làm như mình đang lạy Phật, và khi chúng ta niệm danh hiệu Phật, thì chúng ta không như đang niệm Phật. Hành động của chúng ta luôn bị chút ô nhiễm. Ví dụ như khi chúng ta đang tụng kinh, chúng ta không nên bị chi phối bởi bất cứ những gì xảy ra chung quanh mình. Nếu có tiếng gõ cửa, chúng ta không nên quay lại nhìn để xem ai đến. Hoặc chúng ta cũng không nên nhìn coi là ai đang bước xuống lầu.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Chớ lãng phí thời gian. Có giờ thì hãy dụng công. Các bạn hãy nỗ lực, siêng năng tinh tấn.
- Hộ pháp tức là đừng làm cho pháp diệt vong.
- Bất kỳ người nào thuyết pháp, hay hoặc dở, bạn cũng không nên sinh lòng chán ghét, phiền não, khó chịu.
- Trẻ không tu, chờ tới lúc bạc đầu mới tu, thì sẽ chẳng kịp.
- Khi trong tâm mình không chấp trước, thì tượng Phật lúc nào cũng khai quang. Nếu tâm mình chấp trước, dù tượng Phật đã được khai quang, cũng chẳng khác gì chưa khai quang.
- Ăn bớt chút thịt thì sẽ bớt chút quái bịnh.
- Phép tắc ở đời là mình phải biết nguồn biết cội; hết lòng lo lắng, một mực hiếu thảo với cha mẹ, cung kính với sư trưởng. Ðó là lý tất nhiên của trời đất vậy.
- Nếu bạn không nghe giảng kinh thuyết pháp, chỉ cắm đầu tu hành thì đó gọi là tu mù, luyện bậy. Dù có tu đến số kiếp nhiều như bụi bặm, bạn cũng chẳng thể thành công.
- Người thiện thì có hào quang trắng sáng. Người ác thì có khí đen đúa hắc ám. Do đó làm thiện làm ác đều tự nhiên hiện ra nơi hình tướng. Bạn có thể che mắt người, nhưng không thể che mắt Phật Bồ Tát và quỷ thần.
- Bạn không nghe giảng kinh thuyết pháp, nhưng lại coi sách báo nhảm nhí khác thì tức là không giữ quy củ rồi đấy.
- Vì bạn nghe giảng mà chẳng hiểu nên bạn phải cần nghe. Nếu nghe mà hiểu thì bạn chẳng cần nghe làm gì.
- Thế nào là núi? Tức là lòng cống cao ngã mạn của mình. Thế nào là biển? Tức là tâm tự ty, cho mình là thấp kém. Vì bạn có lòng tự cao nên có núi cao. Vì bạn có lòng tự ty nên có biển sâu.
- Vì sao mình cần phải thâu hồi ánh sáng, không chiếu rọi ra ngoài? Lấy cây đèn dầu làm ví dụ: Ðốt đèn, ánh sáng tỏa. Nhưng thắp hoài thì dầu cạn, đèn tắt. Nếu lúc cần mới thắp, không dùng thì tắt, đèn sẽ còn dùng rất lâu. (Ðừng đem ánh sáng, trí huệ, tài năng, ra phung phí; phải biết giữ gìn. Tránh bị danh lợi dẫn dụ làm tiêu hao tiềm năng của mình.)
- Phật phóng quang là để phá trừ vô minh của chúng sinh.
- Hoằng dương Phật pháp là việc của mọi người, ai ai cũng nên chia xẻ gánh nặng. Có tiền thì đóng tiền, có sức thì góp sức. Mình phải nỗ lực đoàn kết nhất trí thì mới có thể làm Phật giáo hưng thịnh được.
- Ăn thịt thì dục niệm sẽ nhiều, vọng tưởng cũng nhiều, rất khó nhập định. Không ăn thịt thì dục vọng mới nhẹ, lòng sẽ biết đủ, cũng sẽ bớt vọng tưởng. Ðó là do khí huyết mình nhẹ nhàng, không hỗn trược.
- Người biết tụng kinh thì chẳng những biết tụng kinh có chữ, còn biết tụng cả kinh không chữ. Người biết tụng kinh không chữ mới là người chân chính hiểu Phật pháp.
- Rốt ráo, thế nào là kinh không chữ? Chính là lúc bạn không sinh ra một ý niệm nào. Khi không sinh ý niệm, lúc ấy bạn sẽ quay về với không tịch.
- Người đời có câu nghe rất khắc bạc: Người xuất gia không ham tiền, nhưng càng nhiều càng tốt! Người xuất gia nghe vậy phải phản tỉnh, tự kiểm điểm, phải chăng mình có ý nghĩ như thế? Có thì sửa, không có thì ngừa.
- Niệm Phật một tiếng, sen nở lớn chút. Niệm niệm đều là Nam Mô A Di Ðà Phật thì sen nở lớn như bánh xe. Chờ tới khi bạn vãng sinh thế giới Cực Lạc thì linh tánh của bạn sẽ an trú nơi hoa sen ấy.
- Thế giới Ta Bà thì vạn khổ trùm bủa, vạn ác dẫy đầy. Ai cũng tranh chấp lẫn nhau, chẳng có lúc bình an yên ổn. Ở Cực Lạc thì chẳng có phiền não, chẳng rắc rối gì cả. Vì vậy mình phải cầu sinh tịnh độ, hóa sinh từ hoa sen, diện kiến đức Di Ðà, đạt tới quả vị không còn thụt lùi đọa lạc nữa.
- Nhiều người làm tôi tớ cho thân xác này, thức khuya dậy sớm, là vì sao? Cứu cánh vì mình mà bận rộn? Hay vì bạn? Hay vì người khác mà bận rộn? Tôi tin rằng nhiều người không sao giải đáp vần đề này.
- Nên biết: Người quân tử chỉ lo nghĩ về Ðạo, không lo nghĩ về ăn uống.
- Trong đạo Phật, xử thế với người hay xử lý công việc, mình đều phải dựa vào lòng từ bi hỷ xả, bốn tâm thái không giới hạn. Chớ nên mượn chuyện công để trả thù riêng. Không nên vì mối bất hòa mà mình vạch lông tìm vết, cố ý kiếm lỗi của người. Nhất định mình phải dùng lòng thẳng thắn, không thù oán, không thiên vị để giải quyết việc công.
- Gõ mỏ theo đúng nhịp thì sẽ có công đức. Vừa gõ mỏ vừa tức giận, nên gõ ầm ĩ, hoặc gõ nhẹ hìu đều là lỗi lầm.
- Bởi vì đời trước có tạo nghiệp chướng nên đời này, sẽ có lúc, quỷ tới đòi nợ. Cũng là lúc mà dương khí người này không đủ, âm thịnh dương suy nên quỷ mới thừa dịp tới tìm. Nếu bạn thường thường không chút phiền não, trí huệ hiện tiền, thì quỷ sẽ chẳng tìm thấy sơ hở để nhảy vào phá hại.
- Chân thật niệm Phật tức là đi đứng nằm ngồi gì bạn cũng chỉ biết Nam Mô A Di Ðà Phật, sáu chữ hồng danh. Nếu bạn nhìn nước chảy, biết rằng nước chảy; nhìn gió thổi biết rằng gió thổi, hết nhìn đông lại ngó tây, xem xét động tịnh khắp nơi, thì bạn chẳng chân thật niệm Phật.
- Nếu cứ lộ liễu khoe khoang (tài năng, trí huệ) thì đó thật là hành vi ngu si.
- Sinh mạng không phải là tiền bạc, mà là vô giá bảo. Sinh mạng chẳng thể dùng tiền bạc mua bán. Song có người ở trên đời bán rẻ sinh mạng của mình, cam tâm tình nguyện hy sinh thân mạng để đổi lấy đồng tiền. Trong xã hội, (bất kỳ là người ở trong) tam giáo cửu lưu, ngũ phương bát đức, vì đồng tiền họ có thể bán đứt linh hồn và sinh mạng.
- Ðại công vô tư nghĩa là không ích kỷ, không tự lợi, không có dục vọng. Ðối với tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ thì hoàn toàn không dính mắc, chẳng tham chẳng ái.
- Do kiếp trước tu hành nên kiếp này chuyện gì cũng suông sẽ. Nếu kiếp này tu hành thì kiếp sau còn tốt hơn nữa. Nếu không tu thì tương lai tuyệt đối sẽ không thể như đời này. Ðời sau thuận hay nghịch đều hoàn toàn do mình quyết định. Phật Bồ Tát không thể giúp gì mình được.
- Một tô canh đầy thịt cá (tuy nhỏ), song chứa đựng lòng oán hận, thù hằn sâu như biển. Nói chẳng hết nổi oán thù ấy.
- Trong thịt có chứa một thứ khí ô trược. Ðó là vì nó phát xuất từ vật ô trược mà ra. Vì thế người ăn thịt thì khó có thể trì giới, khó khai trí huệ, khó đắc tam muội.
- Có bạn không xem việc học Phật pháp là trọng yếu, chuyện gia đình mới quan trọng. Họ nói rằng: Tôi phải làm tròn trách nhiệm của tôi đã. Ðến khi y chết, ai gánh trách nhiệm đây? Rõ là y không biết tính toán!
- Không phải chỉ có làm hai thời công phu sáng và tối rồi gọi là tu. Bình thường, nhất cử nhất động, mỗi lời mỗi việc, mình phải tuân theo tiết tấu, quy luật. Bởi vì mỗi người ai cũng có âm nhạc của tự tánh.
- Vì tâm không bình an nên mình mới cần âm nhạc bên ngoài giúp điều hòa tâm thái bên trong. Nếu tâm bạn lúc nào cũng yên ổn bình hòa, tràn ngập một không khí hòa điệu an lạc, thì đó mới chân chính là âm nhạc.
- Các bạn đã tới núi châu báu, chớ nên ra về tay không.
- Ðừng nên vì bị chửi rủa, sàm báng mà khởi lòng oán hận. Hãy xem kẻ oán người thân giống nhau, dùng lòng nhân đối đãi. Nếu chẳng thế, làm sao bạn có thể diễn bày sức mạnh của lòng từ bi phát sinh từ vô sinh pháp nhẫn (Tính nhẫn nại do chứng ngộ sự không tịch của cái ngã, của người và vạn pháp).
- Mỗi ngày mình phải phản tỉnh: Thời gian suy nghĩ, tính toán cho mình nhiều hay cho kẻ khác nhiều? Hay cho chùa nhiều? Phản tỉnh như vậy bạn sẽ biết mình có phá sự chấp ngã (chấp trước vào cái tôi) hay không.
- Hãy phản tỉnh, xem công phu nhẫn nhục ra sao? Nếu bị người ta vô duyên vô cớ nhục mạ, đánh đập, mình nhẫn nhục được chăng? Nổi giận chăng? Sinh tâm báo thù chăng? Nếu có thì chấp ngã vẫn còn, chưa trừ.
- Xin khuyên các vị giàu có: Hãy làm việc công ích, đạo đức, tế thế cứu đời. Ðó mới là công đức vô lượng!
- Có người nghĩ như vậy: Khi tôi già, không biết có chết đói, chết lạnh chăng? Ý nghĩ này thật kém cõi.
- Các bạn biết chăng: Vì chẳng chịu buông bỏ, chẳng chịu bố thí, chẳng có lòng đồng tình, không biết thương xót mà mình phải luân chuyển không ngừng trong vòng sinh tử.
- Kinh Kim Cang dạy: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (đừng trụ tâm vào bất kỳ thứ gì). Hễ có một chỗ (một đối tượng, một ý niệm, một cảm giác) thì tức là còn trụ. Vô sở trụ tức là không nghĩ thiện cũng không nghĩ ác. Bạn hãy dụng công ngay nơi đây. Nếu tâm chú ý vào chuyện gì đó, nghĩ tốt hay xấu về nó thì tức là chấp trước, là dính mắc rồi đó.
- Có tôn giáo chủ trương rằng mọi sự đều do thần chi phối. Nếu do thần chi phối thì làm thiện làm ác chẳng có liên can gì tới mình. Nhưng tới khi chịu quả báo thì mình phải gánh, thần chẳng giúp gì được. Ðây là chỗ chẳng hợp lý.
- Tâm của chúng sinh thì như cái nút bật đèn: Mở nút thì ánh sáng của Phật chiếu sáng. Tắt đi thì hào quang Phật chẳng thể chiếu rọi.
- Người xuất gia nên cùng nhau ở trong một đại tùng lâm (chùa lớn) để cùng nhau tu đạo, khuyến khích và cảnh tỉnh lẫn nhau. Khi ở đơn độc trong một ngôi nhà (tịnh xá) nhỏ, nếu bạn không dụng công tu hành, cũng chẳng ai kiểm soát. Bạn muốn ăn ngon, cũng chẳng ai nói. Bạn muốn ăn thịt, uống rượu, đều chẳng rắc rối gì. Người cư sĩ cho rằng (ở đơn độc) như vậy là công đức lắm, kỳ thật họ chỉ giúp cho những người xuất gia ấy đọa địa ngục mà thôi.
- Thịt gì ăn vào, thịt ấy sẽ duy trì mạng sống của thân bạn. Trải qua thời gian lâu lâu, khí chất thân bạn toàn do khí chất của những thứ thịt ấy làm ra: Nào là khí của heo, khí của bò... Máu của bạn cũng là máu của chúng. Do đó thịt của bạn cũng biến thành thịt của chúng. Xin các bạn có trí huệ hãy suy nghĩ thâm sâu về việc này.
- Chớ nên đi đâu cũng nói lỗi người: Y làm vậy sai, làm kia trật. Làm vậy là bạn trồng nhân đau khổ (sai trái với luật nhân quả) đấy.
- Thử hỏi rằng tâm bồ đề thì ra sao? Tâm ấy vô hình vô tướng, chỉ là sự giác ngộ.
- Các bạn hãy thành thật nghĩ xem: Mọi chuyện rắc rối, phiền não từ đâu ra? Ðều là do chấp trước (dính mắc) vào cái tôi mà ra.
- Người xuất gia cần có nhân cách cao thượng, xuất sắc. Không nên a dua, chạy theo thói đời, ăn no ngồi rồi, làm Phật giáo khí độ trầm trệ u ám, chẳng chút sáng lạn.
- Vì sao người tại gia không được nhận đồ cúng dường? Vì không xuất gia thì bạn không phải là một trong Tam Bảo (chỉ có Tam Bảo thì mới thọ cúng dường). Bạn không thể tự mình sáng lập ra cái bảo thứ tư (Tứ Bảo).
- Nhiều người không hiểu Tam Bảo là gì. Lại còn có cư sĩ muốn lập ra Tứ Bảo. Thế là không phải cư sĩ cúng dường Tam Bảo, mà là Tam Bảo phải cúng dường cư sĩ! Chẳng mấy chốc có lẽ sẽ sản sinh ra Ngũ Bảo, Lục Bảo, Thất Bảo...! Nếu đây không phải là biểu hiện của thời Mạt Pháp thì là gì?
- Không nên sát sinh! Tất cả chúng sinh từ kiếp vô thủy đến nay, đều là cha mẹ, thân bằng quyến thuộc của ta cả. Ðời trước có thể là cha mẹ tạo tội nghiệp nên kiếp này họ đọa làm heo, bò, dê, ngựa... Nếu bạn mặc tình sát hại súc vật, thì gián tiếp giết hại cha mẹ mình rồi đó.
- Hãy thuận theo tự nhiên, theo quy luật sinh lý mà phát triển (vì thiên nhiên rất điều độ, quy củ, hài hòa). Không nên ăn uống bất thường, nói năng loạn xạ. Hoặc uống rượu, hút thuốc, xì ke ma túy, cho tới lạm dụng trong cái nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, và suy tư. Những việc ấy đều tổn hại đến thân thể và linh tánh của bạn.
- Khi gặp kẻ nói thị phi, chuyên môn đặt điều, bêu xấu về bạn: Bất luận là oan uổng tới đâu, bạn phải nhẫn nhục. Ðó đều là nợ nghiệp từ kiếp trước, đời này tới đòi. Do đó bạn chẳng thể chống đối không trả. Nợ trả hết rồi thì trời xanh trong vắt, không còn phiền não, hết âu lo.
- Sáu tông chỉ: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối là pháp bảo cắt đứt dục vọng, khiến bạn hoạch đặng trí huệ chân chính.
- Không phải chỉ có ngồi thiền, lạy Phật mới là tu. Ăn uống, mặc áo quần, nhất cử nhất động đều là tu cả.
- Người tu phải: Chỉ biết việc cày cuốc, chớ hỏi chuyện thu hoạch. Bất luận làm gì, cũng phải hết lòng hết sức, đừng suy tính tới kết quả sẽ hưởng được lợi ích gì.
- Nếu suốt ngày bạn không phí phạm lời nói, không nghĩ chuyện vô vị; bạn điều hòa tâm tình khiến cho yên ổn thái nhiên, không buộc trói, không quái ngại, không nhân ngã, không thị phi thì đó không phải là âm nhạc rồi sao?
- Chữ Tự và chữ Ðại hợp lại thành chữ Xú (hôi thối). Bạn mà cao ngạo tự đại thì hôi thối rùm trời, không ai dám tới gần. Ai cũng muốn bịt mũi chạy trốn, không dám gần gũi.
- Lăng Nghiêm đại định không phải do ngồi thiền luyện thành. Trong lúc đi đứng nằm ngồi, nếu bạn không bị cảnh giới bên ngoài làm tâm động, không bị vọng tưởng quấy nhiễu thì đó mới là định.
- Mình không nên sợ nghèo cùng. Nghèo cùng không chướng ngại đạo. Chỉ sợ ma: Ma tức là tà tri tà kiến (kiến giải và cái nhìn sai lầm lệch lạc về chân lý). Hễ có tà tri tà kiến thì tu pháp môn gì cũng sẽ không được tương ưng.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.