Thông tin
Các bài mới
Từ lúc lấy chồng, tôi theo đạo Công Giáo. Tôi đi nhà thờ mỗi tuần và tin Chúa nên về chuyện phong thủy thì đạo Công Giáo cho là dị đoan và không được tin nhưng tôi thiết nghĩ "có tin có lành" và những chuyện này đã xảy ra cho chính bản thân và trong gia đình nên tôi xin kể, tin hay không là tùy ở mỗi người. Lúc ở VN, quê ngoại của tôi ở tận Kiên Giang. Ông ngoại tôi là điền chủ nên khi Má tôi có ý định làm ăn nên ông ngoại chia cho Má tôi một phần đất trong tỉnh để xây rạp hát. Ba tôi lúc đó đang làm cho hãng Hàng Không VN còn Má tôi thì làm cho hãng Hàng Không Pháp. Ba tôi quyết định nghỉ việc để trông coi việc xây cất rạp hát.
Ngày xưa nhà tôi nghèo lắm, đến bữa ăn gia đình thường quây quần bên mâm cơm đạm bạc, không có người ăn trước người ăn sau, bởi nếu như vậy thức ăn sẽ không đủ cả cho gia đình mười người con. Anh em có một thông lệ ngầm là mỗi tháng phải nấu hai lần canh chua, đó là ngày Ba tôi lãnh lương và ngày anh em chúng tôi đề nghị. Mỗi lần nghe Ba tôi nói với Má: “Bà ơi mai nấu canh chua nghe bà” dường như đêm đó tôi không ngủ được, thử hỏi một thằng con trai còn non và chưa xanh vừa tròn mười lăm tuổi… ngày mai xách giỏ lẽo đẽo đi chợ với Má, thì ôi thôi “còn có danh gì với núi sông“ nữa.
Mỗi người có tên và họ là chuyện bình thường. Dù vậy ngày nay vẫn còn có nơi con người không có tên và họ như ở Buthan, xứ sở hạnh phúc nhất trần gian. Ở đây, trẻ sơ sinh được cha mẹ bế đến trình diện với một ông Lạt Ma cao cấp nhất trong vùng gọi là Thầy Cả (Je Khenpo). Thầy sẽ cho một cái tên, tên thôi không có họ. Ngay cả vua và hoàng hậu cũng phải bế hoàng thái tử đến để ông Thầy Cả đặt tên cho. Thầy Cả là thầy đứng đầu các Lạt Ma và chia quyền cai trị nước với thủ tướng.
Tôi nhớ căn phòng này anh hai tôi nằm. Tấm màn xanh che ngang, phía trong là chiếc giường chị hai tôi, kề cận... để hai vợ chồng có thể trông nom nhau trong những đêm hôm vắng lặng, nơi khu nursing home cổ kính này. Tôi nhớ số phòng, tất cả con số cộng lại bằng con 3. Đây là second floor. Vậy chỉ có phòng 201 hay 210 mà thôi. Phòng 201 tôi đã đến rồi. Đó là phòng có hai ông già Mỹ ốm nhách ốm nhom, vừa thấy tôi bước vô, hai ông đã vội vàng xổ một tràng ho xù xụ để chào mừng. 
MÂM là tiếng lóng để chỉ các chuyến tàu vượt biên bị bắt vào Trại Côn Đảo , và Mâm của tôi là thứ 100. Trong cuốn BÊN THẮNG CUỘC của Huy Đức ở phần " Vượt biên " có kể sơ qua về 1 chuyến vượt biên đầy bão táp phong ba chính là MÂM 100 , tuy có vài chi tiết nhỏ không quan trọng chưa chính xác nhưng không làm thay đổi bản chất tang thương của chuyến đi . Đây cũng là chuyến đi ám ảnh tôi suốt đời . Thú thật , thỉnh thoảng ngủ vẫn mơ thấy , giẫy dụa đấm đá chửi thề, giật mình thức giấc nước mắt vẫn đầm đề . Tôi đã muốn viết lại chuyện này lâu rồi nhưng sợ độ dài + tay chân mắt mũi lọng cọng nhiều rồi .... Xin vào chuyện !
Trong năm qua, tôi có gặp lại người đã về hưu từ mấy năm trước. Tay bắt mặt mừng giữa chợ vì thường đâu gặp lại những người đã về hưu, hơn nữa bà chị là người Việt nên tình nghĩa đậm đà hơn sự xã giao đơn thuần với đồng nghiệp thuộc những dân tộc khác. Chị tôi đã về hưu năm bảy mươi tuổi, và đã ba năm rồi mới gặp lại chị hôm trước Giáng sinh. Những lời thăm hỏi không phải nghĩ suy nhiều cũng nói ra được trong đời sống văn minh, nhưng những gì lắng đọng lại không dễ tiêu hoá…
Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây? Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Nhiều người làm đồ chay như thịt gà, vịt hay thịt cá, là vì họ chưa quên được mùi vị của thịt thà. Cứ muốn nếm nó. Họ nói rằng ăn thịt giả như vậy để đở thèm, lừa cái khẩu vị. Trong Phật giáo, nhất định phải sửa đổi thói xấu này. Nếu không sửa đổi, trãi qua thời gian lâu dài, e chẳng còn người xuất gia nào ăn chay nữa.
- Tôi nghĩ rằng đã ăn chay thì ngay cả tên món ăn cũng không nên đặt tên gà vịt gì đó vào. Tôi hy vọng rằng mỗi người tín đồ Phật giáo cần có con mắt hiểu biết chân lý (trạch pháp nhãn). Mình phải hiểu nhân quả, chớ lầm lẫn trong quá trình gieo nhân, thọ quả.
- Ăn chay thì ăn cho thanh tịnh, đừng nhớ mãi mùi vị thịt. Người ta làm đồ ăn theo hình dáng con chim con cá, (tuy giả), thì chẳng khác gì làm nhục đạo Phật. Người tín đồ không quan sát rõ ràng, tùy tiện cho là được. Căn bản làm vậy là thiếu trí huệ, không có mắt nhận biết chân lý, không thấu suốt nhân quả, chỉ mơ hồ mê muội mà thôi.
- Khi động vật bị giết, trong tâm chúng chất chứa lòng oán độc. Ngay lúc lâm chung, lòng chúng sợ hãi, thù hằn, muốn báo thù. Tâm lý oán độc căm thù ấy sản sinh ra độc tố khiến người ăn thịt nó sẽ ăn độc tố ấy.
- Người ta gặp tai nạn họa hoạn bất ngờ, đều do nói lời loạn xạ (vô trách nhiệm, ác độc, lếu láo...) mà ra.
- Mọi chuyện trên đời đều hết sức vi diệu, nhưng ít người nhận ra. Vì như, bán thuốc giả thì làm ăn khá lắm, còn bán thuốc thiệt thì lại ế ẫm. Vì sao? Bởi vì không mấy người thật sự nhận thức giá trị của thuốc thiệt.
- Nếu mình dịch hết kinh điển ra mọi thứ tiếng, đem Phật pháp tới tâm mỗi người thì đó mới là việc vĩnh cửu.
- Tại sao ở chùa nhỏ thì không tốt? Bởi ở đó, bạn sẽ chẳng có gì ràng buộc. Tha hồ ăn mặc, ngủ nghỉ, đi đứng; rất dễ quên mất việc tu đạo. Mỗi ngày chỉ biết có phan duyên. Thói quen này là đòn phá hoại đạo Phật đến chí mạng.
- Có người nghi: Thiệt có vua Diêm La và quỷ Vô Thường chăng?
- Xem thử bạn có chết hay không? Nếu bạn chẳng chết thì sẽ chẳng có quỷ vô thường. Nếu bạn khẳng định tự tin, cho rằng chẳng thọ quả báo, thì chẳng có vua Diêm La.
- Có định lực thì động tỉnh đều không hai (không có khác biệt). Như lúc trong cảnh động, bạn không bị cảnh ấy chi phối, đó tức là tỉnh. Trong cảnh tỉnh, bạn không bị vọng tưởng quấy nhiễu, đó tức là động. Nếu bạn tu sao cho động và tỉnh như nhau, công phu sẽ đúc kết như thành một khối. Lúc ấy cũng không phải là động, cũng chẳng phải là tỉnh, chẳng phải không, chẳng phải có. Ðó chính là trung đạo.
- Mình đừng nên vui thích nghe lời khen ngợi tán thán. Ðừng nên tự mình say sưa, tự quảng cáo mình.
- Nếu bạn biết sám hối, sửa mình thành người mới, biết lỗi lầm mình làm, giải kết tội nghiệp đã tạo thì tội sẽ tiêu trừ hết sạch. Như bịnh mà toát mồ hôi rồi thì bịnh sẽ từ từ thuyên giảm rồi lành hẳn.
- Thời đại này người ta gọi là thời đại thái không. Rốt ráo thế nào là thái không? Thái không nghĩa là nhìn xuyên vạn sự, buông xả mọi thứ, đạt tới tự tại.
- Khi bạn chấp trước vào vật chất, tài sản, thậm chí vào ăn mặc, thì tức là bạn chấp trước vào tài sắc danh thực thùy rồi. Vậy tức không còn là thái không mà là thái hữu! (chữ thái còn có nghĩa là quá, quá mức: Không còn quá không mà là quá có!)
- Tới chỗ bạn chẳng còn gì cả thì bạn mới khôi phục lại bản lai diện mục.
- Vì sao bạn chẳng có trí huệ, thần thông? Bởi vì bạn cứ chạy khắp nơi lượm lặt rác rưởi. Ngọc ngà châu báu bạn chẳng thèm, thứ quý báu sẵn có không ham, lại đem vất đi. Vậy mà bạn vẫn cho rằng mình thông minh lắm! Thật thì ngu si quá vậy.
- Có tội lỗi mà không sửa đổi, lại che dấu nó đi, khiến người không biết: Ðó chính là tội đội thêm tội.
- Không có chú Lăng Nghiêm trên đời thì ma quỷ yêu quái tha hồ thao túng, chẳng chút úy kỵ, mặc tình hoành hành. Nếu còn có chú Lăng Nghiêm thì những thứ bàng môn tả đạo, ly mỵ vọng lượng, sơn yêu thủy quái vẫn còn sợ hãi, không dám công nhiên xuất hiện trên đời.
- Tu nhưng không phát nguyện thì cũng như cây khai hoa nhưng không kết trái. Chẳng thể được.
- Những đều mình gặp và trãi qua trong đời đều là do nghiệp lực kiếp trước tạo thành. Nếu muốn sửa đổi vận mạng của mình thì bạn phải làm thật nhiều việc công đức.
- Phật không có lòng sân giận. Ma mới có.
- Ma do đâu mà thành? Do có năm thứ độc: Hận thù, oán ghét, phiền não, tức giận, phiền muộn tạo thành.
- Bạn cần lập đại chí, làm đại sự. Ðừng nên nghĩ chuyện làm quan, kiếm nhiều tiền. Ðó chỉ là để mình hưởng thụ, không có cống hiến gì đến nhân loại.
- Có người tới chùa cho rằng thắp càng nhiều nhang thì càng được nhiều công đức. Ðây là quan niệm sai lầm. Thắp nhang cúng Phật là biểu lộ lòng thành, nên một nén là đủ. Sao cần dùng cho nhiều? Nếu tâm không thành khẩn thì thắp nhiều cũng chẳng cảm ứng. Phật không đến để ngửi mùi hương đâu.
- Ðạo Phật không chủ trương đốt tiền giấy, (giấy vàng mạ, hình nộm xe cộ, tàu bè; áo quần giấy, dày dép vật dụng bằng giấy).
- Các bạn xem xét, chỉnh đốn lại những kinh điển mà mình đã phiên dịch trước kia. Cần chính xác, trung thật, khế hợp với ý Phật. Ðó là nguyện vọng của tôi, hy vọng các bạn cùng nhau nỗ lực hoàn thành sứ mạng này.
- Sân giận thì như nước bị đông cứng thành băng. Mình cần đem băng làm tan thành nước, vì nước thì lợi ích vạn vật.
- Người xuất gia thì phải nghiêm trang trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi. Rằng: Ði nhẹ như gió thoảng, ngồi yên như chuông đồng, đứng thẳng như cây tùng, nằm gọn như cây cung.
- Tu hành thì phải tu trung đạo. Quá lố: Không phải trung đạo. Quá ít: Cũng không là trung đạo. Ðức Phật dạy nghĩa rốt ráo của trung đạo thì không rơi vào không cũng chẳng nghiêng về có.
- Không có giới lực thì sẽ chẳng có định lực. Thiếu định lực thì chẳng thể sinh huệ lực. Khi nền móng không vững thì cột trụ dựng lên không thể chắc chắn, tường vách sẽ xiêu vẹo gãy đổ. Giới định huệ, là ba môn học vô lậu, thiếu một, không xong. Các bạn hãy chú ý điểm này.
- Niệm Nam mô A Di Ðà Phật! Nam mô A Di Ðà Phật! Chỉ một tiếng Nam mô A Di Ðà Phật, đừng có vọng tưởng gì khác: Ðó gọi là dùng độc để trị độc. Nếu bạn có quá nhiều vọng tưởng thì tức là có quá nhiều độc. Nhất định phải chết thôi!
- Mình phải dưỡng khí, không nên sinh khí (nổi giận)!
- Các bạn cho rằng xem truyền hình, nghe điện thoại, nghe radio, chơi computer là tốt lắm, nhưng các bạn nào biết rằng chúng làm tổn thương tâm can tỳ phế thận của mình. Tương lai chúng sẽ làm mình, người không ra người, quỷ không ra quỷ. Nếu đến độ như vậy thì thế giới này hủy hoại mất. Do vậy, chúng ta sinh vào thời đại mà chúng sinh vô phước, khó điều phục này thì thật không dễ gì giáo hóa.
- Ngũ ấm chỉ là một thứ âm khí. Âm khí này có thể biến thành dương khí. Âm quỷ cũng có thể biến thành dương quỷ. Xem thử bạn có biết biến đổi hay không.
- Nhất định mình phải giữ giới luật cho thật tinh nghiêm. Ðây là điều vô cùng trọng yếu, hết sức quan trọng.
- Giảng kinh thì phải giảng điều cốt yếu, không nên rườm rà. Phải giảng điều quan hệ tới kinh văn.
- Bây giờ trên toàn cầu, ai cũng nói về khí công. Ðúng là một thứ phong trào. Trong khí công cũng có nhiều loại khác nhau: có thật, có giả, có chính, có tà. Nếu gặp tà thì bạn có thể bị điên loạn; điên đến độ bác sĩ tâm thần cũng bó tay không thể chữa.
- Ðừng lầm rằng ai học khí công thì cũng là kẻ chính phái. Ai học khí công vì muốn kiếm tiền, muốn phát tài, thì đều là tà. Họ chẳng khác gì những kẻ đầu óc tràn ngập lợi dục.
- Chữ khí công: tên và sự thật không phù hợp. Vì khí thì chẳng có tri giác, nên căn bản nó không thể có công. Phải nói là thần công, quỷ công, ma công, yêu công mới đúng.
- Thần công: thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhân, (nghĩa là sự linh thông và sáng suốt được chân lý thì kết tụ nơi con người, câu này trích trong Hệ Từ Thượng Truyện). Dùng sức mạnh do giữ vững một chính niệm để khiến thần chế ngự cái khí, thì đó gọi là khí công. Thần công cũng do dụng công ở tâm ý. Song, vì chưa đạt tới cứu cánh nên môn này vẫn còn dính mắc vào hình tướng. Thần công là do có vị thần bên ngoài tới chi phối, không phải dùng khí lực chi phối tinh thần. Vì thần công thì văn nhã, nên khi vị thần tới nhập, người ấy không có nhảy nhót múa máy, cũng không nói lăng nhăng gì cả.
- Quỷ công thì khác: Khi quỷ tới nhập thì người ấy sẽ nhảy nhót múa máy, cười khóc, hớt hãi bất định. Ðây là một trong năm pháp điều động tụi quỷ. Pháp này phóng tụi quỷ vào thân người ta, gọi là phi tinh phú nhân, khiến kẻ ấy ăn nói bậy bạ tạp loạn. Ðó là do tụi quỷ vốn chẳng có tánh an định và định lực.
- Ma công và Yêu công thì không để ý gì tới đạo lý; chúng kiêu mạn, hại người, chuyên môn làm việc dâm dục. Tất cả khí công đều là biểu hiện của yêu ma quỷ quái.
- Những loại khí công ngày nay đều có thứ tà khí. Bản lai nó phải là thứ chính khí, lấy thiền làm thức ăn, sung mãn pháp hỉ, vì nó là một thứ công phu thiền định. Song, giờ đây nơi nào có khí công nơi đó khí thật cuồng loạn. Bạn run lẫy bẫy, tôi cũng run lẫy bẫy. Rồi nói luông tuồng lăng nhăng toàn thứ tà khí. Chẳng có chút định lực, những thứ khí (do vị thầy khí công) phóng ra là từ tâm tán loạn, nhưng y cứ cho là tự mình đã phát công, rồi có linh cảm như thế. Kỳ thật y đã điên cuồng! Chỉ có kẻ bịnh tâm thần mới nói lăng nhăng như vậy.
- Hai câu để phê bình khí công: Người chính tu tà pháp, tà pháp cũng thành chính. Người tà tu chánh pháp, chánh pháp cũng thành tà. Không chính thì là tà. Không tà tức là chính.
- Răng cứng, lưỡi mềm: răng rụng nhưng lưỡi chẳng rụng.
- Ngày nay nhiều người làm nô lệ cho cái thân: cho nó ở nhà tốt, ngồi xe sang. Họ bị vật chất chi phối như vậy thì tự tâm có thật sung sướng chăng?
- Ðối với người già, họ càng lớn tuổi, tôi càng chiếu cố chăm sóc.
- Bạn đuổi được bọn quỷ tham ăn, quỷ làm biếng, quỷ ham ngủ thì đó là công phu tọa thiền sơ bộ nhất.
- Chỉ biết người khác, quên mất mình đi: tới trình độ này thì mới đáng là hiểu biết Phật pháp.
- Phải niệm Quán Âm Bồ Tát ở mọi thời mọi chốn. Ði đứng nằm ngồi đều phải niệm. Lòng mặc niệm hay miệng niệm đều có công đức như nhau. Do vậy đừng khởi tâm so sánh (công đức của tâm niệm và miệng niệm), mà phải tùy duyên niệm.
- Chờ chết mới niệm danh hiệu đức Quán Âm thì không còn cơ hội nữa. Nên nói rằng: Hãy nhớ tới lẽ vô thường, nên chớ có buông lung.
- Mình gặp người nào thì người ấy hẳn phải có duyên với mình. Hà tất ta phải tranh chấp cải vả. Thật chẳng có nghĩa lý gì.
- Người chân chính tham thiền thì cũng là chân chính niệm Phật. Người chân chính niệm Phật, cũng là người chân chính tham thiền.
- Người có tánh nóng, dễ giận dữ, thì từ sáng tới tối đầu như bốc khói, nộ khí xung thiên. Ðó cũng là biểu hiện của sự thiếu đức hạnh.
- Thiện và ác hai con đường: Tu thì cứ tu, mà tạo tội thì vẫn tạo tội. Nếu là đạo thì hãy tiến bước, nếu không phải là đạo thì hãy lùi lại. Hãy chọn nẻo lành mà theo. Trong nồi lửa bỏng mà rèn luyện thành thân kim cang bất hoại.
- Nếu bạn muốn lập công, lập đức, lập ngôn thì bạn phải dựa vào lục độ. Lục độ tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ bát nhã.
- Thế giới này là thế giới của tiền giấy: Chỉ vì tham tờ giấy lộn này mà người ta quên lãng mất nhân nghĩa đạo đức rồi. Cho rằng đồng tiền là thật: bạn nghĩ như vậy có ngu si chăng?
- Tọa thiền tức là thu hồi cái tâm hướng ngoại, tán loạn. Tức là tâm này chạy đi đâu mất, bây giờ mình tìm nó về lại.
- Người tu nào chú trọng đến thần thông, người ấy là kẻ không có tri thức.
- Nếu người ta không sinh phiền não thì họ sẽ thu hoạch được bảo bối.
- Bạn phải canh chừng lửa vô minh trong lòng. Lửa vô minh này cũng như con cọp khi nổi giận, cũng chính là gốc tội nghiệp của đời trước.
- Ðề phòng lửa vô minh bên trong: trong không có lửa thì ngoài không lửa gì đốt được bạn.
- Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gọi là sáu tên giặc. Không biết xử dụng sáu căn thì chúng biến thành sáu tên giặc. Biết xử dụng chúng thì chúng biến thành hộ pháp.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa chia làm bảy quyển, tổng cộng có hai mươi tám phẩm. Mười bốn phẩm trước, là nói về nhân của một thừa. Mười bốn phẩm sau là nói về quả của một thừa. Cũng có thể nói mười bốn phẩm trước là khai quyền hiển thật (Mở bày phương tiện, để hiện ra tướng chân thật), mười bốn phẩm sau là khai cận hiển viễn (Mở bày gần để biết xa), đều nói pháp tối thượng thừa. Phẩm này thuật lại vô lượng vô biên đại Bồ Tát, trụ ở trong hư không, ở thế giới phương dưới, các Ngài từ dưới đất vọt lên. Tại sao ? 
Sau khi nói xong Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương, thì khi sắp nói Phẩm Bồ Tát Diệu Âm, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở trong hội Pháp Hoa trên núi Linh Thứu, phóng ra đại quang minh từ nhục kế (chỗ cao nhất trên đỉnh đầu) tướng đại nhân, chiếu sáng hết thảy thế giới. Lại từ giữa chặng mày, phóng ra tướng hào quang trắng. Nhục kế biểu thị cho quả tròn. Phật viên mãn quả giác đã đến cực điểm. Hào quang trắng biểu thị cho nhân tròn. Trung đạo nhân cũng tròn mà quả cũng tròn, nhân quả không hai, tức nhân tức quả; tức quả tức nhân.