|
|
|
|
|
|
|
Mùa thu năm ấy, Đức Phật trở lại thăm Ca Tỳ La Vệ sau mùa an cư kiết hạ tại tinh xá Trúc Lâm (Veluvana). Khi hoàng tộc nhận được tin Đức Thế Tôn đã về đến khu rừng gần kinh thành, ai nấy đều vui mừng. Vua cha Tịnh Phạn và nhà vua Nan Đà lập tức ra ngoại thành nghênh đón Người. Nơi không gian mát lành của khu rừng, Vua cha Tịnh Phạn nắm tay Đức Thế Tôn rồi bật khóc, đôi mắt già nua trào ra những giọt lệ nhớ thương, chảy xuống chòm râu đã bạc. Ngài Nan Đà quỳ xuống bên cạnh, ôm chân Đức Thế Tôn thật lâu. Thế Tôn khẽ đặt tay lên đầu Ngài, ánh nhìn từ ái. Ngài ngước lên rưng rưng xúc động, lặng lẽ ghi nhớ những lời dặn dò của Thế Tôn để trở về chuẩn bị chu đáo.
Đức Phật: Thời tiết đã hết mùa mưa, những con đường đã bắt đầu khô ráo dễ đi, các ông đã chứng A La Hán, được giải thoát hoàn toàn, các ông không nên tập trung ở đây trong khi khắp nơi còn rất nhiều chúng sinh si mê tăm tối. Này các Tỳ Kheo, hãy cất bước ra đi, hãy đi khắp nơi để truyền bá đạo lý giác ngộ này cho chúng sinh, hãy đi khắp mọi hướng, và đừng đi hai người chung một đường, hãy lên đường vì lợi ích của Chư Thiên và loài người.
Câu chuyện diễn ra trong một lần vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) tổ chức một buổi diễu hành cho dân chúng được dịp chiêm ngưỡng sự giàu sang của hoàng gia. Vào đời xưa nhiều khi một năm một lần hay vài lần, vua sẽ ngồi trên lưng voi, có kiệu, có lính hầu, có kèn trống, cờ hoa, có các cung nữ đi hai bên cùng diễu hành qua những đường phố chính cho người dân rải hoa và tung hô. Sở dĩ có tục lệ này là vì nếu vua ở trong cung mãi thì người dân với vua dường như có khoảng cách quá xa, nhưng nếu vua đi dạo lững thững một mình thì không an toàn, cũng không đúng kiểu cách long trọng.
Vào năm 2012, tình trạng cấm biên ở cửa khẩu quốc tế Móng Cái diễn ra từ tháng 3 đến tháng 10, chưa bao giờ lâu đến như vậy. Hàng ngàn container, phần lớn là hàng đông lạnh bị ách lại tại đây. Các cơ quan chức năng tìm mọi cách để đưa hàng hóa sang các lối cửa khẩu khác, nhưng chỉ giải quyết được 1/30 số hàng đang lưu kho. Ngoài ra toàn bộ các dịch vụ lo giấy tờ xuất nhập khẩu ở Móng Cái – nguồn sinh kế của nhiều người dân ở thành phố này bị đình trệ.
Ngài là một trong 4 Đại A La Hán tôn giả được Đức Phật yêu cầu không nhập Niết Bàn ở lại thế gian đến đời vị lại để truyền bá Phật pháp. Vị Tôn giả này cho đến nay vẫn còn ở trên thế gian này chớ chưa vào Niết-bàn, cho nên ngài được coi là Bậc Phước điền bậc nhất, làm phước điền cho mọi chúng sanh. Khi Phật còn tại thế, các vị A-la-hán đều có thần thông nhưng không được phép tùy tiện hiển lộ thần thông của mình. Một lần nọ, có vị Trưởng giả dựng một cây cờ, rồi đặt trên đầu cây cờ một cái bát bằng gỗ Chiên-đàn và nói rằng: “Ai có thể dùng thần thông đem bát ấy xuống tôi sẽ tặng cho người ấy.” Tôn giả Tân-đầu-lô-phả-la-đọa bèn dùng thần thông lấy bát xuống.
“Kiều” đây không phải nàng Kiều của Nguyễn Du, mà là chữ Kiều trong “Việt kiều”. Chữ Kiều 僑 nầy có nhiều nghĩa: – Khi là động từ, Kiều là ăn nhờ ở đậu. Thí dụ: “Kiều cư” là ăn nhờ ở đậu nơi đất khách; – Là danh từ, Kiều chỉ người sống nhờ làng nước khác. Thí dụ: “Hoa kiều” là người có quốc tịch Tàu sống ở nước ngoài[1] – Là phó từ, thì nghĩa là tạm thời. Thí dụ: “Kiều trí” là mượn tên đất này đặt cho đất khác[2]. Dù thuộc từ loại nào, “Kiều” cũng hàm ý tạm bợ, trôi nổi bềnh bồng. Trở lại với “Việt kiều”, lâu nay người ta vẫn dùng danh từ này để gọi chung những người Việt Nam sống ngoài đất nước, cách gọi này vừa hàm hồ vừa bất cập. “Việt kiều” là ai? Hiểu cho đúng nghĩa thì đó là những người có quốc tịch Việt Nam nhưng sống ở nước khác.
Như thật tôi nghe, một thời Đức Phật ở thành Câu-thi-na. Như Lai sẽ nhập niết-bàn trong vòng ba tháng nữa, nên các tỷ-khưu, tỷ-khưu ni cũng như vô số các loài hữu tình đến để cung kính đảnh lễ. Thế tôn tĩnh lặng , ngài không nói một lời và hào quang không xuất hiện. Ngài A-nan cung kính đảnh lễ và hỏi: - Bạch Thế tôn, từ trước đến nay khi nào Thế tôn thuyết pháp, ánh sáng oai nghi của Thế tôn đều tự nhiên xuất hiện, nhưng hôm nay trong đại chúng, không thấy ánh hào quang ấy từ Thế tôn tỏa ra nữa, chắc hẳn có nhân duyên gì, chúng con mong muốn nghe Đức Thế tôn giảng giải.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Ở đời, nếu bạn không vất bỏ được cái giả thì không thể thành tựu được cái chân thật. Không xả bỏ đặng cái chết (vọng tưởng, chấp trước), thì không đổi được cái sống (trí huệ, tự tại). Nếu muốn mình không chết, thì phải làm người chết giả. Nghĩa là nếu bạn tuy sống nhưng xem mình hệt như người chết (không còn tranh giành, tham lam...) thì bạn sẽ chân chính hiểu rõ:
- Tất cả pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng;
như sương, như điện chớp,
phải quan sát như vậy.
- Tham sân si của mình rất khó dập tắt, khó diệt trừ, do đó mình càng phải dập tắt và diệt trừ. Nếu trừ nó quá dễ thì mình đâu có phải mất sức phí lực.
- Bố thí thì phải bố thí Tam Bảo. Không phải là để Tam bảo bố thí cho mình.
- Vọng tưởng là cục đá buộc chân người tu hành, chướng ngại sự thành tựu đạo nghiệp.
- Tiền bạc, bất quá chỉ là một tờ giấy, trên đó in hình ảnh màu mè. Thế mà tờ giấy màu ấy làm mê hoặc người ta khiến họ quên mất nhân nghĩa đạo đức. Ðó cũng chỉ vì tham mấy tấm giấy này cho rằng nó là chân thật. Bạn ngu si hay không?
- Sân là nóng giận, cũng là phiền não. Khi có lòng sân giận thì bạn thấy ai cũng không tốt. Nếu có một người làm lỗi với tôi thì tôi nổi giận đối với tất cả mọi người. Thật là giống như xem phiền não là cơm. Ăn một chén rồi lại ăn tiếp một chén. Ăn xong lại ăn tiếp chén nữa. Vĩnh viễn không bao giờ ăn thấy no.
- Si là tâm ngu dốt, vọng tưởng, ngu si. Không được lấy mà cứ lấy, đó là ngu si. Không được ăn mà cứ ăn, đó là ngu si. Không được có mà cứ muốn có, đó là ngu si. Không được làm mà cứ làm, đó là ngu si.
- Người có đẹp lộng lẫy đến đâu, cũng chỉ là bọc da thối. Người xấu xí tới đâu cũng chỉ là bọc da thối. Bên ngoài tuy không giống nhau nhưng bên trong thì một thứ, chẳng gì đẹp đẽ hay xấu xí. Nếu càng tìm bên trong càng thấy toàn là máu, mủ, đờm, dãi, nhớp nhúa. Xét đến năm tạng, thì toàn là phân và nước tiểu. Bên ngoài đẹp đẽ, bên trong thối không thể chịu được, có gì khác đâu? Cần gì mình phải chấp trước vào cái thân này chớ! Người ngu si thì chú ý vẻ đẹp bên ngoài, chấp trước vào cái tướng đẹp đẽ mỹ miều, rồi ghét bỏ cái tướng xấu xí. Ðây chẳng phải là ngu si sao?
- Người tu phải nhớ đừng ham ăn uống đồ ngon, ham hưởng thụ. Lúc nào mình cũng phải lấy đạo hạnh của đức Thích Ca Mâu Ni làm gương để tự khuyến khích, tự cảnh giác. Bất kỳ lúc nào cũng không được buông lung.
- Nam hay nữ, khi tu thì phải dứt sạch thất tình. Thất tình là gì? Là vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, dục vọng. Bị bảy thứ này khống chế thì định lực của bạn sẽ tiêu tan mất. Khi bị gió của cảnh thổi đến, tâm bạn dao động, không thể tự chủ, như nhà không chủ, lúc ấy thì là điên đảo.
- Ở trên đời nếu mình làm gì không đúng thì cũng giống như sống trong địa ngục vậy. Làm chuyện gì không đúng đạo lý, có lòng ích kỷ tự lợi thì là ở tại địa ngục rồi. Cứ vui việc này việc kia, giận chuyện này chuyện nọ, cứ dùng tình cảm giải quyết vấn đề, thì cũng như là ở trong địa ngục vậy.
- Thế nào là điên đảo? Tức là cho khổ là sướng, cho đúng là sai, trắng đen chẳng phân, chân giả không rõ, cho vô thường là hằng thường.
- Người tu phải thành thật với nhau, khuyến khích lẫn nhau, dạy nhau tiến tới chỗ quang minh. Không thể đồng lõa làm xấu, che chở chuyện xấu, hoặc giả nịnh hót người, vuốt ve người, làm tôi tớ cho người.
- Biển khổ mênh mông, quay đầu là bến. Chớ nên tại trong biển khổ chìm xuống nổi lên trôi dạt mãi mãi. Thế thì chẳng có ngày giải thoát xuất ly.
- Thân của mình ô uế vô cùng. Nhưng người ta cứ xem nó như bảo bối, đeo vào nó nào là hột xoàn, châu báu lại xức dầu thơm, đánh son phấn. Chẳng phải đó là đem bảo vật, hương hoa tới trang điểm cái cầu tiêu sao?
- Người tu đạo nhất định phải trừ sạch những vọng tưởng về thất tình, lục dục. Quét cho thật sạch sẽ.
- Tại sao nói không thể nắm bắt được ba tâm? Không thể nắm bắt được tâm quá khứ; không thể nắm bắt được tâm hiện tại; không thể nắm bắt được tâm vị lai. Quá khứ thì đã qua rồi, qua rồi thì còn gì nữa đâu. Không có quá khứ thì ta nghĩ về nó cũng không thể có. Hiện tại thì không dừng trụ, niệm niệm trôi qua, niệm niệm di động, niệm niệm chẳng hề ngừng nghỉ đi qua, do đó tâm hiện tại cũng chẳng thể nắm bắt. Vị lai thì chưa tới, thì mình làm được gì nó? Do đó tâm vị lai cũng không thể nắm bắt. Nếu bạn có thể không nắm bắt ba tâm, chẳng sinh bốn tướng chấp trước (vào cái ngã, vào người, vào chúng sinh, vào thọ mạng), thì có thể hợp nhất với tự tánh, viên mãn bồ đề, về chỗ không sở đắc.
- Khi tu hành, bạn có tư tưởng ý niệm gì thì sẽ có thứ quỷ tương ứng. Quỷ là một thứ âm khí. Khi bạn có tư tưởng tốt lành thì âm khí tiêu mất. Nếu bạn sửa đổi nề nếp suy nghĩ, để cho ánh sáng chiếu rọi thì sẽ có trí huệ.
- Tuy rằng chúng sinh ai cũng miệng nói là tìm cầu an lạc, nhưng bất hạnh thay, càng tìm càng đau khổ.
- Con người sửa ác làm lành thì thế giới không còn tam tai bát nạn. Người hiền lành thân mến đối xử với nhau, không tranh không tham thì thế giới sẽ biến thành thế giới đại đồng.
- Người học Phật tu đạo không nên tính toán nhiều quá. Ai đó chửi tôi, nhưng tôi là ai? Ai đó đánh tôi, nhưng tôi là ai? Tự hỏi xem, bạn sẽ chẳng tìm thấy một cái tôi nào đâu. Như vậy thì tại sao không buông bỏ nó chớ.
- Tu thì phải xoay trí huệ tự chiếu lòng mình, tự hỏi mình có lòng tham chăng? Có thì chẳng phải là tu. Không có thì tức là tu. Tự hỏi mình có lòng sân hận không? Có thì chẳng phải là tu. Không có thì chứng minh rằng cái ngã đã bớt một chút. Bị đánh thì bạn coi như không thấy biết; bị chửi thì bạn dùng đạo lý để thấu triệt. Nếu trong lòng sinh phiền não, nổi sân giận thì sẽ chẳng thể tu hành được. Tự hỏi mình có ngu si không? Phải chăng mình thông đạt một thứ thì thông đạt mọi thứ, chẳng hề chướng ngại? Rằng: chân không thì chẳng có nhân ngã; đại đạo thì chẳng hình tướng.
- Kẻ thiện căn sâu dày thì nghe lời thiện. Kẻ tội nghiệp nặng nề thì nghe lời phỉ báng.
- Nếu không vất bỏ thứ hư vọng, thì thứ chân thật vĩnh viễn không thể đạt được. Vì sao? Bởi vì mình cứ chạy theo sau đuôi cái hư vọng thì làm sao nhận thức được diện mục của cái chân thật.
- Có phiền não thì có nóng bức. Không phiền não thì sẽ mát dịu. Ai bảo bạn sinh phiền não?
- Buông bỏ thân tâm thì Phật tự thành.
- Phải phát tâm bồ đề, phải lợi ích chúng sinh. Không nên học tác phong nhỏ hẹp của hàng nhị thừa, chỉ tự lo thân mình một cách ích kỷ, không chịu độ kẻ khác.
- Nhẫn là vật vô giá, nhưng người dùng không tốt. Nếu biết dùng lòng nhẫn, chuyện gì cũng tốt đẹp.
- Nếu bạn không chấp trước, việc tới thì ứng phó, việc đi rồi thì an tĩnh. Giống như mặt gương: Vật để trước gương thì hiện bóng, vật đi thì bóng lặng, ánh sáng vẫn phản chiếu. Nếu được như vậy thì bạn sẽ vô tư vô lự, không hay không biết, cũng không phiền não, cũng không rắc rối.
- Năm mới tới, mình hãy tiếp đón thần tài, thần hỉ, thần quý. Sao gọi là thần tài? Nếu bạn đừng đem tinh khí vất đi thì đó là thần tài. Sao gọi là thần quý? Nếu một năm bạn không nổi nóng, đó là thần quý. Nếu bạn phát tâm, rằng: Sang năm mới tôi không nổi giận nữa, tôi phải sửa đổi tính tình của tôi, thì đó là thần quý. Nếu bạn lúc nào cũng vui vẻ, thì đó là bạn tiếp đón thần hỉ rồi. Ba vị thần này đều tại nơi ta. Bất quá bạn không biết nó, nên phải chạy đi cầu thần ở bên ngoài.
- Nếu bạn làm một con giòi lười biếng không chịu tu hành thì tôi sẽ không chờ bạn đâu.
- Trên đời đầy dẫy chuyện hư vọng không thật. Mỗi người đều có tri kiến nhân ngã bất đồng. Do vậy hoặc là họ tranh ngoài mặt hoặc dấu sau lưng; mỗi người mỗi dạng ích kỷ. Mây đen tham sân si của họ trùm phủ bầu trời khiến người ta không còn thấy ánh sáng, không còn được tưới mát nữa. Chỉ có Bồ Tát là vất bỏ sạch hết hư danh, giả lợi, vất bỏ vòng sinh tử hư ngụy, buông xả ngũ dục cột trói. Vì thế nên trí huệ chân thật của ngài mới hiện ra.
- Có người nói: Bây giờ lò sát sinh khác hơn khi xưa lắm. Họ dùng súng bắn hoặc điện giựt cho chết. Do đó, bò dê chết nhưng không có cảm giác gì. Bạn cho rằng như vậy là đúng sao? Vậy thì sao bạn không chết như thế đi? Sự thật thì phương pháp này còn tàn nhẫn hơn trước kia, lòng oán hận của con thú vẫn nghiễm nhiên tồn tại. Có lẽ hận thù còn sâu hơn xưa. Hễ sát sinh là tội nghiệp rồi.
- Cái lưỡi có công đức thuyết pháp, mà cũng có tội nghiệp nói thị phi. Nếu nó không thuyết pháp thì nó sẽ nói thị phi, hoặc lời tà vạy, vô nghĩa. Tức là một vạn hai ngàn thứ tội.
- Giới là thước đo cho người xuất gia.
- Không nên tìm chuyện rắc rối vào thân, cũng đừng sợ việc rắc rối.
- Muốn thành Phật thì người học Phật phải tham thiền tỉnh tọa. Mỗi ngày đều phải ngồi thiền, đừng sợ chân đau, gối mỏi, lưng nhức thì mới thành tựu được. Người xưa nói: Không qua một lần lạnh thấu xương, làm sao hoa nở thơm ngát hương?
- Trên đời chẳng có thứ gì đáng gọi là báu quý, chẳng có thứ gì là khó tìm khó gặp. Chỉ có kẻ biết thuyết giảng chánh pháp là khó tìm khó gặp.
- Mình có chuyện đau khổ là vì chấp trước chưa phá trừ. Chấp trước một khi xả bỏ thì không còn gì khổ đau nữa. Cũng chẳng còn gì gọi là khoái lạc.
- Trong đời Mạt Pháp, tất cả thiên ma ngoại đạo, ly mỵ vọng lượng, sơn yêu thủy quái đều sợ nhất là chú Lăng Nghiêm. Bởi vì chú Lăng Nghiêm là chú phá tà, hiển chánh.
- Tu là hàng phục thân tâm, rèn luyện thân thể cho thành chất kim cang. Lúc bạn mệt mỏi cũng phải hướng về phía trước tiếp tục tu trì, đoạn trừ tất cả vọng tưởng.
- Tâm tánh của chúng sinh vốn là quang minh lỗi lạc. Chẳng qua nó bị vô số tội chướng, vọng niệm che phủ mà thôi.
- Niệm danh hiệu đức Bồ Tát có thể làm ta minh tâm kiến tánh.
- Bạn hãy xem ngày bạn quy y như là ngày sinh nhật của mình. Xem quãng đời tu hành của mình bắt đầu từ ngày này.
- Kinh Lăng Nghiêm là cốt tủy của đạo Phật. Người không có xương cốt thì hẳn phải chết. Ðạo Phật mà thiếu Kinh Lăng Nghiêm thì có thể nói rằng không có Phật pháp.
- Bạn ăn chúng sinh nào nhiều thì bạn có nhiều chủng tử của chúng sinh đó trong người mình. Tức là bạn thành bà con với chúng. Khi nhân duyên với chúng quá sâu thì sự gắn bó sẽ không thể nào tách rời được.
- Ăn thịt heo nhiều thì bạn có cơ hội rất lớn sẽ làm heo. Ăn thịt bò nhiều thì bạn cũng sẽ có nhiều cơ hội làm bò. Ăn nhiều cơm, phải chăng biến thành gạo? Gạo là loài vô tình, còn chúng sinh là loài hữu tình. Nếu ăn chúng sinh hữu tình thì mình sẽ sinh làm loài chúng sinh hữu tình ấy. Ăn thứ vô tình, chẳng những mình không biến thành gạo, thành rau, thành cỏ, mà thật sự nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng đúng đắn nhất.
- Kinh Lăng Nghiêm là bảo giám của người tham thiền. Ai tu đạo cũng nên nghiên cứu sâu xa kinh này.
- Không nên xía vào chuyện người khác. Cứ nói: Cô ta không tốt, anh ta ác lắm! Ðừng tìm lỗi lầm của người khác, mà nên trừ vọng tưởng thành kiến trong đầu mình. Dù là chuyện xứng tâm duyệt ý đi nữa, nó cũng chỉ là một vọng tưởng vui sướng trong đầu. Do đó phải nhìn cho thủng, buông xả nó, để chứng đắc trung đạo liễu nghĩa.
- Ðời mạt Pháp, căn tánh của chúng sinh rất thấp kém, không thích hợp với nhiều pháp môn. Chỉ có pháp Niệm Phật là thích hợp với hết thảy căn cơ. Ba hạng căn cơ (cao, vừa, thấp) đều hợp, kẻ ngu người trí đều được.
- Ðôi khi chúng ta cho mình là làm việc tốt, nhưng kỳ thật thì không phải như vậy. Ðó là vì sao? Vì chủng tử (của việc mình làm) là bất tịnh.
- Vì sao có sinh tử? Vì có vọng tưởng.
- Khi bạn lạy đức Quan Âm, Niệm danh đức Quan Âm, bạn hãy phản tỉnh xem mình có tánh nóng giận không? Phải chăng thói hư tật xấu của mình chưa trừ? Nếu như vậy thì dù mình lạy tới kiếp vị lai, niệm danh hiệu đến hết kiếp thì cũng không sao gặp đức Quan Âm đâu.
- Nếu bạn hiểu giới luật thì sẽ thâm nhập vào mọi pháp Phật. Nếu bạn không hiểu giới luật thì bạn cũng giống như mây phiêu dạt trên trời, chẳng chút nền tảng cơ bản gì hết.
- Vì sao bây giờ thế giới vấn đề của em trẻ rắc rối tràn lan như vậy? Vì cha mẹ sinh con mà không biết dạy con.
- Nếu bạn có đầy lòng nhân, nghĩa, lễ, trí thì mặt bạn sẽ hiện ra một thứ đức tướng, một thứ công đức.
- Trí huệ bát nhã của người ngu và kẻ trí thì chẳng khác nhau. Cái khác là một người thì biết dùng, một người thì chẳng biết dùng (trí bát nhã).
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|