Thông tin
Các bài mới
Sau khi xuất gia, thân quyến và bè bạn vẫn đến thăm hỏi Ngài thường xuyên. Họ cúng dường lên những món ăn thơm ngon, đồ dùng hảo hạng và chăm sóc Ngài không khác lúc còn tại gia được hưởng cuộc sống sang quý. Vì thế, để quyết tâm tu hành, Tôn giả rời đến khu nghĩa địa trong rừng Sitavana, chuyên chú trong công phu thiền định. Rừng Sitavana là một nơi vắng vẻ và ghê rợn. Những tử thi được đặt trơ giữa các khu đất trống, mặc cho sự tàn hoại của nắng, gió, sương đêm, rắn rết, côn trùng. Nền đất phủ dày lá khô và gai nhọn. Mùi xác thối rữa bốc lên nồng nặc.
Tuổi già là đoạn đường mà ai rồi cũng sẽ đến, nếu may mắn được sống đủ lâu. Có người đến đó trong an yên, có người đến trong cô độc. Có người hạnh phúc nhìn lại đoạn đời đã qua, có người lặng lẽ ôm những ân hận không thể sửa. Nhưng dầu là ai, ở tuổi già, ai cũng cần một điều – ấy là được sống như chính mình. Cả một đời người, ta đã quen sống vì người khác. Hồi trẻ, cha mẹ lo cho con, rồi đến lúc làm cha mẹ, ta lại sống vì con cái. Mỗi ngày là một guồng quay – cơm áo, gạo tiền, trách nhiệm, bổn phận, hy sinh. Ta cặm cụi gây dựng cuộc sống cho gia đình, cho người thân, cho con cái có chỗ đứng trong đời.
Con xin phép cúi đầu trước linh cữu Mẹ bày tỏ lòng tri ân sinh dưỡng và nói đôi lời tiễn biệt. Tuần vừa qua, khi tiếng chuông trường vang lên báo hiệu một năm học mới, lòng con bỗng bồi hồi nhớ đến đoạn văn trong truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh — tác phẩm mà mỗi mùa khai giảng Mẹ vẫn ân cần đọc cho học trò nghe. Câu văn ấy giờ lại vang lên trong ký ức: “Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.”
Đêm xuống trong rừng tĩnh mịch, Tôn giả Asaji đưa tay lên, một phiến đá rộng và to từ đằng xa lập tức bay về gần khu chòi, và rơi xuống dưới gốc cây. Tôn giả Asaji lại tiếp tục đưa tay lên điều khiển, 6 phiến đá khác bay lên, và xếp thành hình vòng cung. - Con kính thỉnh Thế Tôn ngồi lên phiến đá lớn để chúng con được quây quần hầu chuyện với Thế Tôn ạ. - Bạch Thế Tôn, khi lần đầu nghe Thế Tôn giảng về Tứ Diệu Đế, con được khai ngộ, thấy được pháp. Sau này khi nghe Thế Tôn giảng về Vô Ngã Tướng, con chứng được giải thoát hoàn toàn, tự biết mình đã giải thoát, hết vô minh.
...Trong căn chòi nhỏ, Tôn giả Anuruddha vẫn ngồi im bất động. Từ nơi gương mặt Ngài, ánh sáng chiếu lòa khắp đất trời, xuyên qua lòng đất chiếu sâu thăm thẳm xuống tận địa ngục, nơi có các chúng sinh bị giam cầm hành hạ. - Ngươi chặt chém bao nhiêu người không chút thương xót. Ai trách ngươi thì ngươi chửi mắng lại. Ngươi ngang bướng kiêu mạn không biết lỗi của mình. Bây giờ ngươi thấu hiểu nỗi đau để biết lỗi hay chưa?
Xưa đức Phật dạy: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”. Nếu muốn tâm không phóng dật thì nên phòng hộ sáu căn cho chặt chẽ. Trong nhà Phật, dù pháp môn tu nào, cũng phải chú trọng đến lục căn, vì từ lục căn có giao tiếp với lục trần mới sanh ra lục thức. Từ cơ bản đó, hành giả muốn bớt bị chi phối bởi ngoại cảnh, nên chọn đời sống độc cư. Vậy độc cư là gì? Theo cái hiểu đơn giản, độc cư là ở một mình, sống một mình để tránh giao tiếp, đó là cách mà Phật dạy: Phòng hộ sáu căn chặt chẽ thì chỉ có hạnh độc cư là đệ nhất pháp.
Vào thời Đức Phật Sumedha, Tôn giả Sobhita khi đó tái sinh trong một gia đình dòng dõi Bà la môn cao quý. Ngài thông tuệ, tài năng xuất chúng và thành tựu tất cả các học nghệ của Bà La Môn. Danh tiếng của Ngài vang xa, đến đâu cũng được người đời kính ngưỡng. Thế nhưng, bởi thiện căn đã gieo trồng sâu dày từ nhiều kiếp, vị Bà La Môn ấy chỉ nghĩ đến hạnh xuất ly giải thoát cao thượng. Không lâu sau, Ngài đến ẩn cư tại một khu rừng phía nam dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya) quanh năm tuyết phủ. Trong rừng già hoang sơ, Ngài dựng lên một thảo am bằng cỏ tranh và vách nứa, ngày đêm tu đạo.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Khi tu hành nếu bạn không hiểu đạo, thì một mặt tu, một mặt tiêu (mất công đức). Ví như nói bạn đừng nổi lòng tham dục, bạn lại nổi tham dục nhiều hơn. Từ sáng đến chiều cứ nghĩ yêu người này, thèm khát người kia. Toàn là ý nghĩ không thanh tịnh. Trong tâm bạn nước trí huệ sẽ vẫn đục, bạn sẽ chẳng còn trí huệ nào nữa, vì sự ô trược bị quấy lên rồi. Do vì bạn chẳng hiểu đạo nên cứ tu mãi mà chẳng chứng quả, chẳng thấy đạo. Ðó là vì sao? Bởi vì bạn có lòng ái dục. Nếu không có lòng ái dục thì rất mau bạn sẽ thấy đạo.
- Khi bạn không dụng công, không tu hành thì bạn cũng giống như cục đá mài dao. Tuy không thấy cục đá bị hư hao gì, nhưng để lâu ngày, mới hay là đá ngày càng nhỏ lại.
- Vô minh là một cái phòng tối đen. Nếu có trí huệ thì phòng tối sẽ biến thành sáng sủa. Trên đời này, chữ TÀI và chữ SẮC đã hại không biết bao nhiêu người tu đạo. Người tu nếu không buông bỏ được tiền tài thì sẽ sinh lòng tham tiền tài, của cải; không buông bỏ được sắc đẹp thì sẽ háo sắc, tham dâm. Ðạo nghiệp tuyệt đối chẳng thể nào thành tựu.
- Nếu tinh đầy đủ, bạn chẳng cảm thấy lạnh; nếu khí đầy đủ, bạn chẳng thấy đói; nếu thần đầy đủ, bạn chẳng buồn ngủ. Tinh, khí, thần (theo Ðạo giáo) gọi là Tam Bảo. Lý này cũng tương tợ như Phật Pháp Tăng của nhà Phật.
- Sai một ly, đi một dặm, khi tu đạo mình không được bê bối tùy tiện. Nếu bạn khởi vọng tưởng, không tu luật nghi, không nghiêm chỉnh học đạo, thì có thể bạn sẽ lập tức chiêu cảm quả báo hay sự trừng phạt vô cùng nghiêm trọng.
- Xuất gia là vì muốn tu hạnh thanh tịnh. Nếu sau khi xuất gia rồi, lại chẳng muốn xuất trần, tới đâu cũng giao tế, đãi đằng, thù tạc thì làm sao gọi là người xuất gia?
- Bạn chớ nên quá chấp trước, cứ đeo trên người mấy thứ gồng gánh mãi. Gồng gánh gì? Tức là những thứ thói hư tật xấu. Nếu bạn có những thứ luộm thuộm đó thì chẳng thể nào rút chân ra khỏi bùn lầy, chẳng thể nào tới đặng bờ bên kia.
- Người tu đạo chân thật thì đi tới đâu cũng chẳng mong người ta cúng đồ ăn ngon, có nhà ở tốt. Mình chẳng nên có tư tưởng như thế vì nó là hạt giống làm ta đọa lạc. Tới đâu, hễ có đồ vật bình thường là đủ rồi, chớ nên tham cầu hưởng thụ. Chớ nên có thái độ vui vẻ với người đối xử tốt với mình, còn đối với kẻ đối xử không tốt với mình thì chẳng vui lòng chút nào.
- Hễ ai không nổi nóng tức giận thì người ấy sẽ tương ưng với đạo lý Phật dạy, và sẽ thành Phật rất dễ dàng.
- Con người mình ai cũng bỏ gốc theo ngọn: Ðem việc tu hành sắp tại hạng nhì, còn việc kiếm tiền thì nâng lên hạng nhất, quên mất đạo lý căn bản làm người, chỉ dụng công nơi cái ngọn. Lo làm ăn kiếm tiền thì chỉ duy trì sinh hoạt cuộc sống. Còn học tập Phật pháp thì nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng, tăng trưởng trí huệ của mình. Mình nên chọn một bộ kinh thích hợp với mình nhất để học hỏi, chớ nên ngày ngày chỉ chuyên tâm làm tiền.
- Học trì chú, trước hết phải cần tâm ngay thẳng, lòng chân thành. Nếu tâm không ngay thẳng thì học chú gì, mình cũng biến thành tà. Khi tâm ngay thẳng, học trì chú mới có cảm ứng.
- Trong tự tánh quang minh của mình, chẳng hề có chút tham lam. Mà trong sự linh cảm, trong trí huệ cũng không hề tồn tại mảy may tham lam. Do đó khi mình nổi lòng tham thì cũng như nơi mặt gương bổng hiện lên một lớp bụi. Vì vậy chúng ta những kẻ dụng công tu hành phải luôn ghi nhớ: Chớ tham nhiều, chớ tham mau, chớ tham tiện nghi, dễ chịu.
- Nếu trong tâm người ta có quỷ thì người mới sợ quỷ. Nếu trong tâm người ta không có quỷ thì quỷ sẽ sợ người.
- Bây giờ mình đắc được thân người, nếu không mượn nó để tu hành thì mình chờ tới lúc nào? Chờ tới lúc thân này mất rồi, lúc ấy muốn tu thì đã quá trễ.
- Các bạn chẳng nên tìm cầu ở chỗ xa xôi, chẳng cần phải tìm pháp môn cao thâm làm gì. Khi bạn nghe đọc tới câu Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp thì bạn nghĩ phải tìm pháp môn vi diệu thậm thâm vô thượng. Sự thật thì pháp cao sâu vô thượng cách bạn quá xa, mà bước đầu tiên bạn chưa bước gì cả. Vì sao mình phải bỏ cái gần, chạy theo cái xa xôi? Vì sao bỏ gốc, theo ngọn? Tại sao mình không dụng công tu hành ở nơi chỗ gần kề nơi thân, chỗ mình sinh hoạt hàng ngày. Vì sao cứ chạy theo truy tìm thứ quá xa xăm diệu vợi? Người xưa nói: Ðạo ở cạnh bên nhưng cứ cầu ngoài xa; việc vốn dễ nhưng cứ tìm cái khó.
- Nếu bạn thật sự không nói dối trá thì bạn gọi trời, trời liền đáp; bạn gọi đất, đất trả lời.
- Không tranh, không tham, không truy cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối: Ðây là phương pháp tu hành hữu hiệu nhất.
- Một khi phạm giới dâm, bạn sẽ rất dễ phạm giới sát, cũng dễ dàng phạm giới trộm cắp, và vọng ngữ. Bởi vậy, phạm giới dâm thì các giới sát sinh, trộm cắp, dối trá đều bao hàm trong đó.
- Vì sao bạn khởi phiền não? Bởi vì lòng tham lam của bạn chưa ngừng. Bạn chưa buông xả. Rằng: Chốn nào cũng gai góc, nơi nào cũng đụng tường. (Gai góc là ví dụ cho phiền não. Có phiền não thì có chướng ngại, giống như ta đi đụng vào tường vậy). Khi bạn không còn bốn tướng (bốn sự chấp trước vào quan niệm về cái tôi, về người khác, về chúng sinh và về thọ mạng) thì ai chịu đau khổ? Nếu người đau khổ chẳng tồn tại thì phiền não từ đâu mà sinh ra chứ?
- Bạn nên làm long tượng (đại nhân tài) trong pháp môn; chớ nên làm chuột nhắt trong đạo pháp.
- Trên trời có tám vạn bốn ngàn ngôi sao, người ta thì có tám vạn bốn ngàn sợi lông. Con người và thế giới đều có điểm tương thông. Nguyên do thế giới hủy diệt là vì con người có vô minh. Không khí trong trời đất và không khí nơi mỗi người cũng tương thông, bởi vì hai thứ không khí ấy không thể nào tách rời. Không khí của mỗi cá nhân đều có nguồn gốc của nó. Khi người ta lòng giữ niệm thiện thì nó sẽ giúp vào cái chính khí của trời đất. Khi một người nổi nóng tức giận, sinh ra một niệm phiền não, thì làm tăng thêm khí ô trược trong vũ trụ. Nếu cứ toàn dùng lòng tham lam, sân giận, ngu si để hành sự thì trong trời đất sẽ có rất nhiều tai nạn. Một người là thế, mà nhiều người cũng vậy. Nơi nào kẻ ác tụ tập thì nơi ấy tai ương hoạn nạn nhiều một chút. Do đó trong thế giới chỗ này tốt, chỗ kia xấu không thể tách rời với tình trạng của mỗi người chúng ta đặng.
- Niềm vui ở trên đời thì ngắn ngủi, khoái lạc cứu cánh thì mới vĩnh cửu: Vì thế nên ta phải tu đạo.
- Học Phật thì cần phải học lòng từ bi, đạo đức, biết tha thứ cho kẻ khác. Chẳng nên sinh lòng so sánh, hơn thua, chẳng nên cùng người tranh chấp cải vã.
- Lòng cung kính sẽ biến tánh cang cường, ngang ngạnh thành tánh ôn hòa, nhũn nhặn. Lạy Phật là lạy Phật trong tự tánh. Thành Phật cũng là thành Phật của tự tánh.
- Người xưa nói: Bậc quân tử có năng lực cải tạo vận mạng. Người có đạo đức, bậc chính nhân quân tử thì có thể sửa đổi cuộc đời của họ, nhảy ra khỏi vòng số mạng. Vì sao có chuyện bất hạnh, chẳng lành? Là vì trong tâm mình có ý nghĩ xấu ác, chẳng lành. Một khi đã gieo xuống hạt giống xấu ác, thì đương nhiên sẽ gặt quả báo xấu ác. Nếu mình biết sửa lỗi, làm lành thì sẽ gặp chuyện tốt, tránh hẳn việc xấu.
- Vì sao người ta gặp phải ma nghiệp? Bởi vì khi xưa họ không chịu nghe lời dạy bảo của bậc thiện tri thức, không chịu tiếp thu lời dạy dỗ của bậc thiện tri thức. Họ cứ mặc sức dấy khởi vọng tưởng, tạo đủ ác nghiệp. Do vậy giờ đây họ thường thọ ma nghiệp quấy rối triền nhiễu. Chuyện gì làm ra cũng không được toại tâm mãn nguyện.
- Tôi muốn xin bạn một cái duyên lớn: Hãy bố thí cho tôi lòng nóng giận, cũng như lòng vô minh mê muội, phiền não, bực dọc của các bạn.
- Vạn Phật Thành là thành phố đại bi, là thành Lăng Nghiêm, là thành có Vạn Phật, là thành kiên cố, là thành Thủ Nhãn, là thành mà chánh pháp cửu trụ, là thành phố châu báu. Nó cũng là thành phố của kẻ muốn tu hành, cầu phước cầu huệ, là nơi mà mười phương chư Phật tới tụ hội.
- Khi dụng công tu hành, nếu mệt mỏi tới đâu mình cũng chịu đựng, nhẫn nại được hết thì đó là một thứ thành tâm.
- Khi tu hành, mình không nên lãng phí tiền tài của thí chủ, phải tận lực tiết kiệm. Nếu mình lãng phí vật chất, tham lam hưởng thụ thì mình vĩnh viễn chẳng bao giờ thành tựu. Bởi vì mình chẳng chịu tu phước tu huệ.
- Thế nào là trí? Là không ích kỷ. Thế nào là vọng tưởng? Chính là lòng ích kỷ. Hễ ích kỷ thì vọng tưởng sẽ dấy khởi.
- Bản thân mình trong tận hư không biến pháp giới là cái thứ gì? Nó vốn chẳng có xưa có nay, chẳng có trên có dưới, chẳng có mình, chẳng có người, chẳng có chúng sinh, chẳng có thọ giả. Con người ta vốn từ trong tạng đại quang minh biến hiện mà ra.
- Muốn Phật giáo rạng rỡ, mình phải cần nhìn xa nhìn rộng. Phải làm sao truyền bá phật giáo tới mỗi quốc gia, tới mỗi thôn xóm, thậm chí tới cả mỗi hạt bụi. Ở nơi ấy mình chuyển đại pháp luân, giáo hóa chúng sinh, khiến cho mỗi chúng sinh ai nấy đều được rời khổ, vui sướng, thoát vòng sinh tử.
- Tu hành là tu cái gì? Là tu sao cho hết vọng tưởng. Hết dục vọng. Ðó chính là công phu đấy.
- Vì sao con người có âu lo, buồn bã hay sợ hãi? Là vì người ta còn có ái dục. Khi ái dục đoạn dứt thì chẳng còn âu lo buồn bã, sợ hãi nữa.
- Trai gái yêu nhau, ráo ráo có ý nghĩa gì? Tướng mạo dù có đẹp bao nhiêu cũng chỉ là da bọc đồ thối: Trong ấy nào là phân, nước tiểu... Chín lỗ trong thân thường lưu những thứ bất tịnh: Mắt thì có ghèn, tai thì có ráy tai, mũi thì có dãi mũi, miệng thì có nước miếng, thêm đại tiểu. Bạn nghĩ rằng cứu cánh thân này có sạch sẽ chăng?
- Nếu như bạn chẳng tu hành thì dù đức Thích Ca Mâu Ni Phật có làm Sư phụ của bạn thì cũng chẳng có ích lợi gì.
- Khi mình niệm danh hiệu đức Quán Âm Bồ Tát, chớ nên thấy ai mình cũng nhìn lỗi lầm của họ. Nếu mình cứ chuyên môn tìm chuyện xấu của người thì cái khổ của mình chưa trừ hết. Gốc khổ chưa dứt tận.
- Lòng ham tiền làm người ta điên đảo. Lòng háo sắc cũng làm người điên đảo. Tham danh cũng làm họ điêu đứng. Tham ăn càng làm người ta đảo điên. Mà tham ngủ nghỉ hưởng thụ cũng làm người ta quay cuồng. Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ hưởng thụ là năm cái gốc của địa ngục. Song le chúng ta ai ai cũng chôn cái gốc ấy sâu trong lòng. Gốc lành thì mình chẳng trồng nó cho sâu trong khi lại trồng thật sâu năm thứ dục vọng. A! Nghĩ rằng nó chưa đủ sâu, mình cứ tiếp tục chôn nó sâu thêm!
- Vì sao thế giới sẽ có ngày bị hủy diệt? Vì người ta có tâm niệm thiện thì ít, mà tâm niệm ác thì nhiều. Sinh một ý niệm tốt thì trời đất sinh thêm chính khí. Khởi một niệm ác thì trời đất tăng thêm độc khí. Mình phải biến khí xấu thành khí tốt lành.
- Tu hành thì nơi nào mình cũng phải có đạo đức. Lấy sự không ngăn ngại đạo đức là căn bản của việc trì giới.
- Những ai đối với mình không có thái độ từ bi, hoặc không nói chuyện đàng hoàng, đều là thiện tri thức của mình. Nếu bạn có gặp điều nghịch ý mà vẫn nhẫn chịu, tức là gặp chuyện trái ý khó chịu vô cùng mà bạn vẫn có thể an nhiên xử lý thì mới thấy được công phu nhẫn nhục của bạn. Ðừng nên vì một lời nói mà tâm mình liền bị dao động. Nếu bạn tu tới chỗ chẳng bị dao động, rằng có thể nhẫn nại điều người khác khó nhẫn nại, thì đó mới chính thật là công phu chân chính. Nếu chẳng được như vậy, bạn phải làm lại từ đầu.
- Người tu đạo thì giống như nước, lúc nào cũng có lòng khiêm tốn hạ mình, chẳng tranh công, chẳng tham đức. Chuyện gì tốt thì nhường người khác, việc gì xấu thì mình nhận hết.
- Vì sao người ta sinh làm người? Bởi vì có ái (lòng yêu đương) nên mới đầu thai vào thế giới năm trược này. Nếu lòng yêu đương ấy mà giảm thiểu thì mình mới sinh tới nơi khác được, ví như cõi Cực Lạc, cõi Lưu Ly hay thế giới khác. Người xưa nói rằng: Ái không nặng, không sinh Ta Bà; Nghiệp chẳng hết, chẳng sinh Tịnh Ðộ.
- Tinh tấn là thân tinh tấn và tâm tinh tấn. Thân tinh tấn thì phải tụng kinh, lễ lạy, tọa thiền, trì chú, nghĩa là cần phải dùng thân thể để tu hành. Tâm tinh tấn thì trong mọi nơi mọi lúc, bạn phải siêng tu giới định huệ, ngừng bặt tham sân si. Ngày cũng tinh tấn mà đêm cũng tinh tấn, lúc nào cũng nhắm về phía trước mà tiến bước, chẳng hề lười biếng. Ðối với người tu, tinh tấn là yếu tố vô cùng quan trọng. Mình chẳng thể nào không tinh tấn, vì không tinh tấn thì chẳng thể thành Phật. Muốn thành Phật thì phải tinh tấn.
- Thân thể của mỗi người chúng ta là một địa ngục, chẳng qua mình không biết đó thôi.
- Quán Thế Âm Bồ Tát thì nhìn vào trong, còn mình thì nhìn ra ngoài. Quán Thế Âm Bồ Tát thì nhìn vào tự tánh; tự tánh của ngài và của mỗi chúng sinh thì như có nối giây điện: Chúng sinh nào khởi vọng tưởng gì, ngài đều biết cả.
- Người trì giới thì làm tự tánh thanh tịnh: Quét sạch mọi thứ đen đủi xấu xa trong tự tánh đi.
- Khi dụng công, mình đừng sợ khổ, sợ khó, sợ mệt mỏi, thì mới thành công đặng.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.