|
|
|
|
|
|
|
1. “Già khú” là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú… đế”. Khú, Từ diển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. Khú đế là “vua” của khú, hơn hẳn các khú! Thật là một sai lầm lớn khi ta nghĩ rằng già sẽ đến từ từ, cứ từ từ mà thích nghi, mà giải quyết mọi chuyện lần lượt. Không đâu. Già nó xồng xộc trên trời rơi xuống, dưới đất vọt lên. Không những xồng xộc nó còn gia tốc, tàn bạo như cơn sóng vỗ vào bờ đá, vội vã để mau chóng nhập vào dòng nước cuồn cuộn đuổi theo sau. Nó mạnh mẽ và tàn nhẫn, tung tóe, tan tác, lắng chìm, không một chút xót thương.
− Khi Đức Phật Padumuttara (Thắng Liên Hoa) xuất hiện cách đây một trăm ngàn đại kiếp, tiền thân Ngài Mahā Kassapa (Đại Ca Diếp) là trưởng giả Vedeha vô cùng giàu có và tịnh tín nơi Tam bảo. − Ngày nọ, Đức Phật tán dương một vị tỳ-khưu đệ nhất hạnh đầu đà, trưởng giả nghe thấy liền hoan hỷ. Ngài sửa soạn đại thí cúng dường, phát nguyện được như vậy trong tương lai và được thọ ký. − Thời Phật Vipassasī (Tỳ-bà-thi) Ngài tái sanh trong gia đình Bà-la-môn nghèo, hai vợ chồng chỉ có một chiếc áo khoác dùng chung để mặc khi ra ngoài.
− Trong thời kỳ của Đức Phật Padumuttara (Thắng Liên Hoa), tiền thân Trưởng lão Anuruddha (A-na-luật) là một gia chủ nghe Đức Phật tán dương cho vị tỳ-khưu có Thiên nhãn đệ nhất, Ngài sanh tâm hoan hỷ thực hành đại thí cúng dường cho Phật và Thánh chúng, phát nguyện địa vị như vậy trong tương lai và được thọ ký. − Khi Phật Padumuttara nhập Niết-bàn, Ngài xây dựng bảo tháp bằng vàng cao bảy do tuần, và cho trồng hàng ngàn cây xanh gắn hàng ngàn ngọn đuốc lên đó để thắp sáng xung quanh bảo tháp.
Trong lịch sử Phật giáo có một câu chuyện rất đáng suy ngẫm. Đó là câu chuyện về **ngài Giới Hiền** – vị thầy của ngài Đường Huyền Trang. Ngài Giới Hiền (Śīlabhadra) là một bậc cao tăng nổi tiếng. Ngài từng làm **trụ trì học viện Phật giáo Na Lan Đà**, trung tâm Phật học lớn nhất Ấn Độ thời bấy giờ. Ngài tinh thông giáo lý **Duy Thức**, trí tuệ uyên thâm, danh tiếng lẫy lừng khắp nơi. Ai cũng kính trọng. Nhưng đến khi tuổi đã cao… trên người ngài bỗng nổi ghẻ lở khắp nơi. Bệnh ghẻ lan đầy thân. Đau đớn. Hôi tanh. Người xung quanh bắt đầu **chê bai, xa lánh, thậm chí ghê sợ**.
Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ! Đó là điều mơ ước cháy bỏng của tôi từ khi biết nhận thức sau khi rời rung Học để bước vào đời. Vì sao ư? Để tôi tìm hiểu về nền văn hóa, chính trị, giáo dục, kinh tế của nước này. Để tôi tự trả lời cho nhiều câu hỏi cứ thôi thúc trong đầu mình bao nhiêu năm qua từ khi tôi biết nhận thức về đời sống. Tôi muốn đến Mỹ, để tôi hỏi vì sao đồng bào tôi có mặt ở đây, và sự ra đi này kéo dài hơn một thế hệ rồi, mà đến bây giờ hằng ngày đi ngang Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn lũ lượt người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ, dù đất nước Việt tôi đã im tiếng súng đã lâu, từ khi tôi chưa chào đời.
− Thời Đức Phật Padumuttara (Thắng Liên Hoa) tại thế, khi Ngài quán chiếu thế gian thấy một con sư tử dưới chân một ngọn núi có khả năng đắc quả. − Trong khi sư tử đi tìm mồi, Ngài vào hang động của nó và nhập thiền diệt bảy ngày. − Sư tử trở về thấy người lạ nhưng đầy oai lực vĩ đại, nó sanh lòng tôn kính, mang những bông hoa thơm rải xung quanh Đức Phật và canh giữ ngoài cửa hang động.
− Thời Phật Padumuttara (Thắng Liên Hoa) tại thế, Trưởng lão Bhaddhiya được sinh ra trong một gia đình trưởng giả, hoan hỷ khi thấy một vị tỳ-khưu Đệ nhất trong những người thuộc gia đình quý tộc. Ngài mong muốn thành đạt địa vị ấy nên dâng cúng chiếc ghế bành bằng vàng phủ thảm lông cừu êm đẹp cho Đức Thế Tôn cùng những món ăn thượng hạng đến Phật và Thánh Tăng. − Sau khi được thọ ký, Ngài tiếp tục những công việc phước thiện đến hết cuộc đời. Ngài thường cúng dường chỗ ngồi, đồ phủ lên chỗ ngồi, các loại đèn sáng và tất cả mọi thứ để tỏ lòng tôn kính đến các vị giảng sư. Cứ như thế, sau khi mạng chung Ngài sanh về Thiên giới cai quản Thiên quốc 74 lần, làm vua ở cõi người trong 500 kiếp.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Bất cứ tu pháp môn gì, phải có tâm nhẫn nại thì sự tu hành mới mong thành tựu. Bằng ngược lại thì không thể thành tựu bất cứ pháp môn gì.
- Tại sao chúng ta không nhận ra cội gốc và bộ mặt thật của chính mình ? Vì chúng ta chưa xả bỏ tâm chấp cái ta, và tâm ích kỷ của chính mình.
- Người chân chánh tham thiền là người chânà chánh niệm Phật. Ngược lại người chân chánh niệm Phật cũng là người tham thiền. Người chân chánh trì giới cũng là người chân chánh tham thiền.
- Cờ bạc thì tạo nghiệp nặng. Bố thí thì tích luỹ công đức. Ngồi thiền thì trừ ngu si, phát sinh trí huệ.
- Thọ khổ thì hết khổ, hưởng phước thì hết phước.
- Chủ yếu chúng ta nghiên cứu Phật Pháp là gì ? Cần nhất là không khởi vọng tưởng, thu nhiếp thân tâm. Thu nhiếp thân tâm lại với nhau, không tưởng đông, không nghĩ tây, không nghĩ về quá khứ, cũng không nghĩ hiện tại, cũng không nghĩ về vị lai. Một lòng một dạ nghiên cứu Phật pháp. Như thế thì bạn chẳng có phiền não gì cả, chẳng có lo âu gì cả. Tại sao bạn có phiền não ? Vì việc gì bạn cũng nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng, thấy việc nầy cũng quan trọng, thấy việc kia càng quan trọng hơn. Sự quan trọng đó sẽ sinh ra tâm chấp trước. Có tâm chấp trước thì có phiền não sinh ra. Do đó chúng ta là người nghiên cứu Phật pháp thì đừng có tâm chấp trước, đừng có tâm chấp trước nào cả.
- Người tu hành mà không thể nhẫn nại, chẳng có công phu nhẫn nại thì tất cả các pháp môn, bất cứ tu hành đến trình độ nào cũng sẽ không thành tựu, đồng thời sẽ càng biến thành ngu si.
- Trẻ con không phải sinh ra là hư hỏng đâu. Chỉ bởi vì chúng không được dạy dỗ mà ra. Vì thế, bậc làm cha mẹ phải coi việc giáo dục con cái là cấp thiết quan trọng nhất. Cho dù kiếm được bao nhiêu tiền cũng không có giá trị bằng dạy dỗ con cái cho tốt.
- Phá thai là việc rất nghiêm trọng. Phá thai là một trong những nguyên nhân tạo ra nhiều chứng bệnh khó trị và những tai nạn khủng khiếp thời nay. Bạn nghĩ xem : Một sinh mạng chưa ra đời mà đã biến thành oan hồn. Con quỷ nhỏ ấy tới đâu cũng đòi mạng thì xã hội làm sao an ninh đặng ? Những con quỷ nhỏ ấy chỉ có các vị đạo hạnh không tham tiến tài mới có thể siêu độ được chúng.
- Bạn dụng công tu hành, bất cứ tu đến trình độ nào cũng đừng sinh tâm hoan hỉ, cũng đừng sinh tâm sợ hãi. Ðây là biện pháp cơ bản quan trọng nhất của người tu đạo để giải quyết ma chướng.
- Nếu hết thảy mọi người trên thế gian không ăn thịt chúng sinh ; đều ăn chay, không giết hại mà phóng sinh. Ðược như vậy thì tai nạn của thế giới sẽ tiêu diệt ư vô hình, sẽ vãn hồi được kiếp vận.
- Khi giết hại súc sinh thì trong tâm súc sinh sẽ tồn tại một thứ oán độc. Lúc chúng chết thì trong tâm sinh ra tâm sợ hãi, cừu hận, báo thù. Trong tính tình đó sẽ vọt ra sự oán hận, phẫn uất, và sẽ sinh ra một thứ độc.
- Rau cải là thực vật thiên nhiên, vốn có một sức lực giải độc, cho nên bất cứ yêu ma quỷ quái vẩy độc gì, thì chẳng bao lâu sẽ tự nhiên giải độc. Cho nên ăn rau cải nhiều là bảo đảm cho sức khoẻ sống lâu trường thọ tốt nhất.
- Nếu muốn cho thế giới nầy chân chánh tiêu độc thì mọi người nên ăn chay đừng ăn thịt. Vì thịt chúng sinh đều có độc. Thứ độc nầy rất vi tế vi tế. Khi bạn ăn thì chẳng cảm giác và xét nghiệm được, nhưng dần dần thì sẽ trúng thứ chất độc nầy.
- Có người muốn xuất gia, nếu khuyên họ đừng xuất gia, thì đây là khiến cho họ mất đi tâm bồ đề, dứt căn lành của họ, đây là sai nhân quả, tương lai phải đoạ vào địa ngục vô gián, thọ tội nghiệp không kỳ hạn. Có người chẳng phát tâm bồ đề (chẳng xuất gia), thì nên tìm cách khuyên họ pháp tâm bồ đề, đây là trực tiếp trợ giúp họ thành Phật đạo, tức cũng là gián tiếp trợ giúp mình thành Phật đạo.
- Người tu hành, nếu hay tu, thì tu thiện trong thiện. Không hay tu, thì tu ác trong thiện. Hay tu thì ở trong ác cũng có thiện. Chẳng hay tu, thì ở trong thiện cũng có ác. Cho nên có thiện trong thiện, ác trong thiện ; thiện trong ác, ác trong ác -- có bốn thứ phân biệt nầy. Người tu hành, trước hết phải hiểu rõ pháp thiện. Làm việc thiện trồng nhân thiện, đây là thiện trong thiện. Làm việc thiện trồng nhân ác, đây là ác trong thiện. Làm việc ác trồng nhân thiện, đây là thiện trong ác. Làm việc ác trồng nhân ác, đây là ác trong ác.
- Chúng ta người tu đạo, phải giữ bổn phận. Hãy buông xả tâm ích kỷ, hãy đề khởi tâm đạo đức, tất cả đều nghĩ về đại chúng (mọi người). Phàm là có việc lợi ích cho đại chúng thì tận lực mà làm, đừng có so sánh lợi hại, được mất. Có một phần sức lực, thì tận một phần sức lực, có mười phần sức lực thì tận mười phần sức lực. Lấy việc công làm việc tư, ai ai cũng làm được như thế, thì gia đình đều hoà khí, xã hội được an ninh, quốc gia được giàu mạnh, thế giới được hoà bình. Do đó có thể thấy, ích kỷ là đứng đầu của vạn điều ác. Nhất định phải tiêu diệt nó, đừng để nó làm sóng làm gió, làm cho thiên hạ đại loạn.
- Người tu đạo, đừng có tư tưởng "hoạch thiện kỳ thân" (pháp tiểu thừa), phải có hành vi "kiêm thiện thiên hạ" (pháp đại thừa). Kiêm thiện thiên hạ, tức là vì lợi ích chúng minh mà làm Phật sự. Tóm lại, đừng vì mình mà làm việc, phải vì đại chúng mà làm việc. Do đó "Tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha". Ðây là tinh thần đại công vô tư, ai ai làm được, thì ai ai cũng có thể tự tại. Ðộc thiện kỳ thân, tức là vì mình chẳng vì người. Vì mình làm việc, mà chẳng chịu vị đại chúng mà làm việc. Do đó "Tự lợi chẳng lợi tha, tự giác chẳng giác tha, tự độ chẳng độ tha". Ðây là tà kiến ích kỷ.
- Chúng ta người tu đạo, phải giữ bổn phận. Hãy buông xả tâm ích kỷ, hãy đề khởi tâm đạo đức, tất cả đều nghĩ về đại chúng. Phàm là có việc lợi ích cho đại chúng thì tận lực mà làm, đừng có so sánh lợi hại được mất. Có một phần sức lực, thì tận một phần sức lực, có mười phần sức lực thì tận mười phần sức lực. Lấy việc công làm việc tư, ai ai cũng làm được như thế, thì gia đình đều hoà khí, xã hội được an ninh, quốc gia được giàu mạnh, thế giới được hoà bình. Do đó có thể thấy, ích kỷ là đứng đầu của vạn điều ác. Nhất định phải tiêu diệt nó, đừng để nó làm sóng làm gió, làm cho thiên hạ đại loạn.
- Người tu đạo, nếu chẳng có tâm ích kỷ tư lợi, thì sẽ hàng phục được thiên ma, chế phục được các ngoại đạo.
- Người tu đạo thì giống như nước, lúc nào cũng có lòng khiêm tốn hạ mình, chẳng tranh công, chẳng tham đức. Chuyện gì tốt thì nhường người khác, việc gì xấu thì mình nhận hết.
- Vì sao thế giới sẽ có ngày bị hủy diệt? Vì người ta có tâm niệm thiện thì ít, mà tâm niệm ác thì nhiều. Sinh một Ỷ niệm tốt thì trời đất sinh thêm chính khí. Khởi một niệm ác thì trời đất tăng thêm độc khí. Mình phải biến khí xấu thành khí tốt lành.
- Nếu như bạn chẳng tu hành thì dù đức Thích Ca Mâu Ni Phật có làm Sư phụ của bạn thì cũng chẳng có ích lợi gì.
- Khi mình niệm danh hiệu đức Quán Âm Bồ Tát, chớ nên thấy ai mình cũng nhìn lỗi lầm của họ. Nếu mình cứ chuyên môn tìm chuyện xấu của người thì cái khổ của mình chưa trừ hết. Gốc khổ chưa dứt tận.
- Vì sao con người có âu lo, buồn bã hay sợ hãi ? Là vì người ta còn có ái dục. Khi ái dục đoạn dứt thì chẳng còn âu lo buồn bã, sợ hãi nữa.
- Vì sao thế giới sẽ có ngày bị hủy diệt? Vì người ta có tâm niệm thiện thì ít, mà tâm niệm ác thì nhiều. Sinh một Ỷ niệm tốt thì trời đất sinh thêm chính khí. Khởi một niệm ác thì trời đất tăng thêm độc khí. Mình phải biến khí xấu thành khí tốt lành.
- Thân thể của mỗi người chúng ta là một địa ngục, chẳng qua mình không biết đó thôi.
- Tham thiền hay niệm Phật đều tốt cả. Chỉ cần mình chân thật tu hành thì có thể vượt qua được cửa sinh tử. Ưến khi lâm chung sẽ chẳng có thống khổ, lòng không tham luyến, như nhập thiền định, tươi cười mà vãng sinh.
- Tu Ðạo là cần phải "quay trở lại." Nghĩa là gì? Tức là phải nhường cho người việc tốt lành, còn mình thì nhận phần hư xấu--xả tiểu ngã để thành tựu đại ngã.
- Ðối với ma đừng khởi tâm thù nghịch. Hãy xem chúng như các bậc Thiện-tri-thức trợ đạo cho mình.
- Từ vô lượng kiếp đến nay, hết đời này sang đời khác, mỗi người tạo bao nghiệp không đồng, nên vọng tưởng cũng không đồng. Nghiệp nặng thì vọng tưởng nhiều, nghiệp nhẹ thì vọng tưởng ít.
- Người tu hành phải vì cắt đứt dòng sanh tử luân hồi, vì độ chúng sanh, chứ không vì cầu cảm ứng mà tu Ðạo.
- Người tu Ðạo phải luôn luôn hồi quang phản chiếu, không nên hướng ngoại truy cầu. Tìm cầu bên ngoài không thể có được, quay về tự tánh thì đầy đủ cả.
- Ðối với kẻ mới phát tâm tu, điều chướng ngại nhất khi dụng công là lòng tham đắm sắc dục giữa nam và nữ. Ðây là vấn đề căn bản nhất.
- Người tu Ðạo nên chú ý! Chớ gieo duyên nhiễm ô với người khác. Sợi dây trói buộc bất tịnh này sẽ làm chúng ta đọa lạc.
- Hiện tại chúng ta may mắn có được thân người. Nếu không biết dùng thân người để tu hành, thì đợi đến khi nào mới tu? Chỉ e đến lúc mất thân này rồi, dẫu có muốn tu hành thì đã quá trễ!
- Học Phật Pháp, điều thiết yếu là phải chân thật. Mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều phải chân thật.
- Ở chùa, chúng ta phải biết tiết kiệm mọi vật dụng. Rằng:
- "Thương tiếc vật của chùa
Như bảo vệ tròng con mắt."
- Không thương, không ghét là Trung Ðạo.
- Tu Ðạo là tu đạo gì? Tức là tu theo Trung Ðạo--với ai cũng phải đối xử bình đẳng, lấy lòng từ bi làm căn bản, và khi hành sự phải cẩn thận, chớ đi lạc vào lưới rọ tình ái.
- Chẳng hề có đạo lý "ngày nay tu Ðạo, ngày mai thành Phật." Mới cuốc một nhát đâu thể có giếng nước ngay được. Tu hành là đem khối sắt mài thành cây kim, công đủ tự nhiên sẽ thành tựu.
- Việc đầu tiên khi học mật chú là phải chánh tâm thành ý. Nếu tâm không chân chánh thì khi học, mật chú nào cũng thành tà. Tâm nếu chân chánh thì học mật chú mới được cảm ứng.
- Vô minh có hai đồng lõa. Hai đồng lõa ấy là gì? Tức là tham ăn và tham sắc dục. Cả hai việc này trợ giúp vô minh tạo vô số nghiệp xấu.
- Có câu rằng:
"Khi muốn làm người tốt thì nghiệp báo hiện,
Khi muốn thành Phật thì ma đến thử thách."
- Nếu không muốn trở thành người tốt thì nghiệp báo không tìm đến. Càng quyết chí làm người tốt bao nhiêu thì nghiệp báo càng đến tới tấp bấy nhiêu, đòi mình thanh toán nợ nần cho minh bạch.
- Phật và ma chỉ khác nhau ở một tâm niệm--Phật thì có tâm từ bi, còn ma thì có tâm tranh hơn thua.
- Người thực sự biết cách tu hành thì nhất cử nhất động đều là tu cả.
- Người tu Ðạo không nên đi khắp nơi quảng cáo sự tu hành của mình. Ai thường quảng cáo sự tu hành của mình thì nhất định sẽ đọa lạc vào đường ma.
- Người tu Ðạo ở bất cứ nơi nào cũng đều phải che giấu và tẩy xóa tông tích, đừng nên để lộ diện.
- Tâm của chúng ta thường trú tại những nơi khác chứ không trú tại trong tâm mình. "Trú tại những nơi khác" nghĩa là có thân mà không có tâm.
- Giảng Kinh thuyết Pháp là tu Huệ. Ngồi Thiền là tu Ðịnh. Không nói lời tạp nhạp là tu Giới.
- "Phiền não tức Bồ-đề." Nếu biết dùng thì phiền não tức là Bồ-đề. Nếu không biết dùng thì Bồ-đề biến thành phiền não.
- Tu Ðạo cần phải tập dại khờ. Càng "dại khờ" bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. "Dại khờ" cho đến mức cái gì cũng không biết cả thì vọng tưởng sẽ không còn.
- Vô minh nghĩa là không hiểu rõ. Gốc rễ của vô minh là ái dục.
- Mục đích chủ yếu của tu hành là cắt đứt dòng sanh tử, chứ không phải cầu cảm ứng.
- Tu hành thì cần phải giữ mình cho trong sạch, như giữ đôi mắt không để dính một hột cát vậy.
- Cờ bạc thì tạo nghiệp nặng. Bố thí thì tích lũy công dức. Ngồi Thiền thì trừ ngu si, sanh trí huệ.
- Người tu hành nên cẩn thận lời nói nơi chỗ đông người và canh giữ tâm khi ngồi một mình. Lúc giữa đại chúng đừng nên nói nhiều. Khi riêng một mình nên đề phòng tâm ích kỷ và vọng tưởng. Như thế thì chẳng bao lâu sẽ được chuyên nhất thấy rõ tâm mình.
- Thọ khổ thì dứt khổ.
Hưởng phước thì hết phước.
- Người chân chánh tu Ðạo phải xem xét mọi hành vi, cử động của chính mình. Ði, đứng, nằm, ngồi, chớ rời chánh niệm. Ðừng như cái gương--chỉ biết soi mặt người mà không tự soi lại mặt thật của mình.
- Nếu còn chấp trước thì đó là tâm người thường. Nếu không chấp trước, đó là tâm Ðạo.
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|