|
|
|
|
|
|
|
Một ngày nọ, biến cố xảy đến thức tỉnh mạnh mẽ tâm hồn Ngài Sona. Trong một chuyến đi trao đổi hàng hóa ở xứ khác, thương gia Sona tận mắt chứng kiến những câu chuyện kinh hoàng. Bên gốc đa, một ngạ quỷ thân hình to lớn đang ngồi dựa vất vưởng, gương mặt thiểu não u tối, hai hốc mắt trũng sâu đục ngầu. Bàn tay ngạ quỷ loang lổ vết lở lói, đang chầm chậm bòn rút miếng thịt trên cơ thể của chính mình để ăn. Cách đó không xa, có hai ngạ quỷ khác bị thương trong miệng, vết thương không ngớt rỉ máu, gương mặt họ nhăn nhúm lại vì đau đớn, nước mắt trào ra đầm đìa.
Tôn giả Câu Ma La Ca Diếp được sinh ra ngay trong Tăng đoàn với tướng mạo vô cùng khôi ngô và cao quý. Ngài đến với thế gian trong sự thanh tịnh hoàn toàn. Bởi vì, ngay khi Ngài còn nằm trong bào thai thì thân mẫu đã sống cuộc đời của một vị Tỳ kheo Ni. Bà luôn nghiêm trì giới đức, tinh cần trong chánh hạnh. Lúc Ngài chào đời, sự thanh tịnh hiện ra một cách tự nhiên. Từ gương mặt hiền hòa, dáng ngủ bình yên đến từng cử chỉ đều toát lên vẻ nhẹ nhàng, đĩnh đạc. Đặc biệt, từ khi còn bé, Ngài đã không muốn gần người nữ. Ngài không để người nữ chạm vào thân thể cả khi đó là thân mẫu Sohati.
Trời tối dần...Một vị Tôn giả nói: - Này các hiền giả, sau lùm cây đó có một căn nhà hoang, đó là nơi chúng ta sẽ ngụ qua đêm nay. Bình minh lên...Chợt có một gia chủ đến thưa: - Thưa các vị Sa môn, nhà tôi ở gần đây, nhìn thấy năm vị Sa môn phong cach đĩnh đạc uy nghi, tôi sinh lòng cảm mến. Tôi xin thỉnh năm vị đến nhà tôi thọ thực. Một khu nhà khang trang. Người cư sĩ hối thúc người hầu bưng dọn thức ăn ra cúng dường rất chu đáo...Sau khi năm Tôn giả thọ thực xong, người cư sĩ gọi cả nhà ra đảnh lễ các Tôn giả. - Thưa năm vị Sa môn, xin cho con hỏi năm vị tên gì, quê quán ở đâu, thờ ai làm Thầy, tu hành với đạo lý nào. Còn đây là gia đình của con. Hai người vợ của con, mười đứa con trai và gái, và các tôi tớ trong nhà.
...Nếu ai muốn đắc đạo mà chỉ tập trung vào tinh tấn mà không làm bất kỳ công đức nào khác trên đời, thì người đó đã phạm sai lầm lớn. Để đắc đạo, ta cần phải chú ý đến nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm cả việc tu hành và tạo phước. Chúng ta cần phải tạo phước bởi vì khi thiếu phước đời sống của ta sẽ chật vật và khó khăn, lúc đó, chúng ta phải tất tả ngược xuôi lo chuyện cơm áo không thể nói đến tu hành. Nếu thiếu phước, tâm linh của chúng ta cũng sẽ không được mở ra và cũng không thể nhiếp tâm vào định được. Ta phải biết cân đối giữa tu hành và tạo phước.
Tại Vesali, Tôn giả Moggallana (Mục Kiền Liên) cùng chư Tăng đi khất thực. Một số người dân cúng dường vật thực. Một người đàn ông ngồi với một cô gái xinh đẹp bên gốc cây. Người đàn ông chỉ về phía chư Tăng đang đi và nói: - Này Vimala, người Sa môn đi đầu đó là Moggallana, một đệ tử Thượng thủ của Sa môn Gotama. Lúc trước hắn trông coi tinh xá Veluvana Trúc Lâm ở Vương xá thành Rajagaha. Bỗng nhiên mấy tháng qua hắn lại giao cho Sariputta trông coi rồi đi nơi này nơi kia. Có nhiều Tỳ kheo cũng đi theo với hắn. Ta cần cô quyến rũ hắn. Chúng ta phải phá hết các đệ tử của Sa môn Gotama để cho Tăng đoàn của hắn suy yếu đi.
Trong cuộc sống, bạn không cần để tâm quá nhiều đến những chuyện thị phi ngoài xã hội, cũng không nên bình phẩm hay phán xét, làm tốt bản thân mới là quan trọng nhất, còn người ta nói ra sao thì cứ mặc kệ họ đi thôi. Một con cá hỏi con rùa: “Tại sao cứ gặp chuyện thì bạn lại lẩn tránh, co vào trong mai? Rùa nói : “Người ta bình luận mình có quan trọng không?” Cá nói: ” Nhưng bị mắng chửi mà cũng mặc kệ được sao?” Rùa chậm rãi: “Đó chính là nguyên nhân tại sao tôi sống lâu hơn bạn rất nhiều. Trong cuộc sống, làm tốt bản thân mới là quan trọng nhất, còn người ta nói ra sao thì cứ mặc họ nói thôi.”
Một hôm, trưởng giả Visakha đến tinh xá Trúc Lâm nghe Pháp và chứng được Tam quả A Na Hàm. Khi trở về, phu nhân Đàm Ma Đề Na niềm nở ra đón. Thế nhưng, Ngài không đỡ lấy tay phu nhân như thường ngày, chỉ lặng lẽ bước lên lầu rồi tìm một nơi an tĩnh tọa thiền. Tới giờ cơm, Ngài cũng không nói một lời. Phu nhân lấy làm lạ, liền đến bên chồng ân cần thưa hỏi: - Thưa phu quân, hôm nay Ngài không nói chuyện, phải chăng thiếp đã làm điều gì sai khiến Ngài phiền lòng?
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Ở đời này, kẻ muốn cái giả thì vất bỏ cái thật đi. Bạn muốn tìm cái thật thì phải buông bỏ cái giả. Chẳng thể muốn tu pháp xuất thế mà chẳng buông bỏ pháp thế gian.
- Phật pháp là tôn giáo đề xướng lý vô ngã, không tán thành việc xem tướng, coi tử vi, bói toán, càng không tin vào phong thủy. Bởi vì những thứ ấy đi ngược lại với Phật pháp, ngược với đạo. Do đó mới cấm chỉ không phổ biến trong đạo. Khi mình tin vào những thứ ấy thì sẽ tồn tại cái ngã. Từ đó tất mọi chuyện đều từ cái ngã này có, đều vì cái ngã này mà tính toán. Có ngã, không có người, là lý chẳng phù hợp với Phật pháp.
- Pháp mà tôi thuyết thì giản dị nông cạn lắm. Pháp gì? Là pháp ăn uống, mặc áo quần, ngủ nghỉ. Do đó có người tới cầu pháp, tôi liền dạy họ nên ăn ít một chút, mặc ít một chút, ngủ ít một chút. Bởi vì: Bớt mặc thì tăng phước, bớt ăn thì tăng thọ, bớt ngủ thì tăng lộc. Nếu ba ngôi sao này (phước lộc thọ) cùng chiếu vào, chẳng phải đó cũng là Phật pháp sao?
- Trong gan nếu không lửa, (không nổi giận)
Bịnh gì cũng tránh thoát.
Ðây là thuốc nhiệm mầu,
Lại bị cất một xó. (không chịu dùng)
Ta bà ha!
- Chấp trước nghĩa là gì? Khi không tin vào nhân quả bạn sẽ sinh lòng chấp trước sâu dày. Thứ chấp trước này đưa tới việc hủy báng, cho rằng chẳng có lý nhân quả. Do vậy người Phật tử phải nhận diện rõ lý nhân quả. Vì sao cần tin sâu nhân quả? Không tin nhân quả, bạn khó làm người Phật tử. Không đọc tụng đại thừa kinh điển, thì sẽ không khai trí huệ.
- Thế nào là vọng tưởng? Tức là dục vọng tràn ngập.
- Siêng năng trì giới cần thực hành ở chỗ người ta không thể thấy. Không phải là siêng năng trước mặt kẻ khác, giữ giới trước mặt người ta. Phải tại nơi một mình bạn đơn độc, mà siêng năng trì giới.
- Hôm nay tu, nghĩ rằng mai thành Phật! Vừa cuốc đất đã tưởng đào xong giếng! Không có việc đó đâu! Tu hành thì như mài sắt thành kim, công phu đầy đủ thì tự nhiên thành tựu.
- Tôi sửa chữ Phật giáo thành Tâm giáo vì rằng ai ai cũng có tâm. Tu hành là bỏ vọng tâm, tồn chân tâm. Còn vọng tâm thì còn là phàm phu, có chân tâm thì là Phật.
- Khi tham thiền tới chỗ chín mùi thì chẳng những không còn vọng tượng mà tánh nóng cũng tiêu tan, phiền não giảm bớt, nhân phẩm sẽ cao vút, khí độ cũng thêm vĩ đại.
- Tông chỉ của Phật giáo là ai cũng có thể thành Phật. Những chúng sinh trong hiện tại là cha mẹ của mình trong quá khứ, đồng thời cũng là chư Phật trong tương lai. Nếu mình sinh lòng sân hận với chúng sinh thì cũng chính là sinh lòng sân hận cha mẹ và chư Phật vậy. Mình sẽ trở thành kẻ đại bất hiếu.
- Khi mình đang ở trong thời tai nạn bịnh hoạn nhiễu nhương, mình nên chân thật, thành khẩn dụng công tu hành thì mới biến khí xấu xa thành kiết tường, tai kiếp hóa ra bình an.
- Khi ở trong vòng sinh tử, mình muốn thoát sinh tử thì phải bỏ ra chút sức lực. Chẳng dễ dàng thoát sinh tử đâu. Dùng sức lực nghĩa là sao? Tức là làm bất kỳ chuyện gì mình phải chân thật làm nó. Gặp phải nghịch cảnh, càng khó khăn trắc trở, càng phải không động tâm, không nổi giận nóng nảy. Ðó tức là chăm sóc miếng đất trong tâm mình, hàm dưỡng bầu trời của tự tánh. Làm như vậy thì mình thêm vào chính khí giữa trời đất. Mình mới đúng là người chân chính tu đạo, thật sự tin Phật.
- Nhìn thủng tức là hiểu suốt; buông xả tức là giải thoát. Có giải thoát thì bạn mới tự tại. Không thể giải thoát thì bạn không thể tự tại. Tự chẳng tại là vậy.
- Tu hành chẳng phải chuyện gì khác đâu: Ngay nơi thân tâm tính mạng này mà dụng công phu.
- Pháp này là trừ tham sân si, tu giới định huệ. Bạn muốn đi tìm thứ huyền diệu, thì chỉ đi ngược lại với đạo. Ðạo này là: Tâm bình thường là đạo, tâm chính trực là đạo tràng.
- Người tu phải nhớ: Chẳng nên có nhân duyên quan hệ ô nhiễm với kẻ khác. Vì như vậy sẽ sinh triền nhiễm, trói buộc, rối bù, rốt cuộc sẽ làm bạn đọa lạc.
- Tôi chỉ hóa duyên lớn, không hóa duyên nhỏ (hóa duyên tức là đi xin). Thế nào là hóa duyên lớn? Tức là tôi muốn xin vô minh, sân giận, phiền não của các bạn. Khi các bạn không có ba thứ vô minh, sân giận, phiền não thì sẽ hưởng kiết tường như ý. Nếu có ba thứ ấy thì có hung thần, việc xấu. Do vậy các bạn à! Hãy buông xả chuyện bạn chẳng thể buông xả, việc bạn vất bỏ được càng nên vất bỏ gấp! Vất bỏ vô minh, nóng giận, phiền não thì bạn sẽ tốt thôi.
- Mục đích chủ yếu của tu hành là để liễu thoát sinh tử, không phải vì cầu cảm ứng.
- Người tham thiền cần nhận thức vấn đề căn bản. Ðó là gì? Tức là thói quen tật xấu. Khi mình đả thất, tức là đả (nghĩa là đánh) bẹp thói hư tật xấu.
- Bất kỳ việc gì nếu bạn xem nó thật bình thường, chẳng có gì quan trọng lắm thì bạn sẽ chẳng có gì rắc rối. Khi bạn cho chuyện này việc nọ là trọng yếu, là quan trọng lắm thì nó sẽ rắc rối.
- Tu đạo thì phải tu đạo đức chân chính, không trở ngại kẻ khác, cũng chẳng lo sợ kẻ khác trở ngại mình.
- Việc khó khăn nhất trong lúc tu là chặt đứt phiền não. Chặt đứt có nghĩa là biến, biến phiền não thành bồ đề.
- Xem nhẹ tài sắc danh thực thùy, coi nó chẳng có gì, quên nó đi, đó mới chính thật là người tu hành.
- Thế giới Cực Lạc là do tâm hiện ra. Tự tánh của ta là Tịnh Ðộ, tự tánh của ta là đức A Di Ðà. Khi không có vọng tưởng, thì tâm đó chính là Tịnh Ðộ. Khi không có phiền não, thì tâm ấy chính là A Di Ðà.
- Ðạo quý tại tâm chuyên nhất. Cũng như dụng binh quý ở tinh luyện, không phải ở số đông. Mỗi cử chỉ hành vi của mình không được rời xa tự tánh. Khi ở trong đại chúng thì phải giữ gìn lời lẽ, đề phòng sáu tên giặc (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý). Ðừng để sáu tên giặc lôi đi.
- Tin Phật thì mình chớ chia rẽ, coi (tôn giáo mình) là hơn hết, cho rằng mình đúng (kẻ khác sai), mình thì hay ghê lắm, đặc biệt lắm. Khi có một ý niệm như vậy thì mình chẳng kham việc tạo dựng. Mỗi người con Phật, mình cần nên có lòng rộng rãi bao dung mọi sự, đùm bọc mọi loài. Trong phạm vi của đạo Phật, mình không có kẻ thù.
- Khi niệm danh hiệu đức Quan Thế Âm Bồ Tát, mình (chỉ mấy người tu ngụ trong chùa) không nên ngày đêm cứ khởi vọng tưởng, rằng: Sáng ra chưa ăn gì cả, tối lại cũng chẳng có trà uống, khổ quá, chịu hết được rồi. Phải chạy đi thôi!
- Thiếu nhẫn nại thì pháp gì tu cũng không thành. Không có lòng nhẫn nại thì thường cảm thấy việc này không đúng, chuyện kia không tốt. Việc gì cũng trái ý mình. vậy thì bạn có thể tu gì được? Ðạo thì chẳng có ngã kiến, cũng chẳng có ngã chấp.
- Người tu hành phải tu vô ngã tướng. Nếu không có ngã tướng, thì có thể chịu đựng mọi chuyện; mọi cảnh giới tới, mình không động tâm, vì mình xem mình như là hư không. Cảnh giới tới cũng phải tu hành, nghịch cảnh tới, cũng phải tu hành. Thuận cảnh tới, không sinh vui mừng, nghịch cảnh lại, chẳng sinh lo buồn. Cảnh nghịch hay thuận mình phải biết rõ ràng. Nếu có thể như như bất động thì mình không bị cảnh giới nào lay chuyển. Nếu mình liễu liễu thường minh thì mới chuyển xoay cảnh giới.
- Người tu không đắp y thì cũng như đã hoàn tục, chẳng khác gì người phàm tục. Cũng không phải mặc áo tràng, đeo ... thì chứng minh rằng mình là kẻ xuất gia. Ngay như dù có đắp y, mà ngày ngày cứ phạm giới, hoàn toàn chẳng chân thật tu hành, thì cũng không đáng gọi là xuất gia. Hà huống nếu bạn không đắp y, thì đã không có tướng Tỳ kheo rồi.
- Ma là thứ giúp đỡ mình tu đạo. Ma giúp mình ở mặt trái, xem mình có chí nguyện kiên cố hay chăng. Nếu bạn thật kiên cố thì dù có ngàn con ma hại, bạn cũng không thay đổi, vạn con ma phá, bạn cũng không thối sụt. Cái gì bạn cũng không sợ, vì bạn không có gì mong cầu.
- Muốn dưỡng khí, bạn không nên nói chuyện nhiều quá. Người tu nếu không biết ít lời thì sẽ chẳng thể tu đặng. Không nuôi dưỡng cái khí lực thì chẳng có pháp. Cứ nói chuyện hoài thì pháp sẽ mất hết. Bấy giờ xem bạn còn tu đạo gì nữa?
- Kỳ thật vạn sự vạn vật đều thuyết pháp. Cái bàn nói cái pháp của cái bàn. Cái ghế nói pháp của cái ghế. Việc gì chuyện gì cũng chuyển pháp luân. Người chuyển pháp luân của người. Con mèo chuyển pháp luân của con mèo. Nếu bạn hiểu rõ, thì bạn sẽ nghe được cái pháp hiểu rõ. Nếu bạn không hiểu rõ thì bạn chỉ nghe cái pháp ngu si.
- Ðừng để danh lợi làm đầu óc mê muội. Tới chết thì vẫn hai tay trắng. Rằng: Ðừng để tới già mới học đạo, mộ phần đầy dẫy đám thiếu niên.
- Tật xấu của tín đồ Phật giáo là ai cũng cho mình đúng, chẳng quan tâm đến ai khác; không có người nào tự nhận mình là sai lầm, ngược lại, bài xích lẫn nhau, dèm pha nói xấu lẫn nhau.
- Trong quá trình tu hành không có lúc nào mình được lười biếng. Tu đạo thì phải kiên trì hoài hoài, không để gián đoạn. Nếu không thì tu hằng hà sa số kiếp mà cũng như nấu cát mà đòi có cơm. Chẳng thể có chuyện đó.
- Có chân chính biện tài vô ngại thì không cần nói lời chải chuốt. Bởi vì lời lẽ phát xuất từ tự tánh quang minh, trong kho tàng trí huệ của Như Lai. Dùng lời chọn lọc, chải chuốt, lại có phản tác dụng, biến tốt thành xấu. Người xưa nói:
Thông minh là do làm âm đức. (Âm đức là việc tốt mình làm trong im lặng, không cho ai biết)
- Âm đức dẫn vào đường thông minh.
Không làm âm đức để thông minh.
Thông minh sẽ bị thông minh lừa.
Thương thân: đừng để thân mình phạm pháp.
Thương nhà: đừng để gia đình bị tan nát.
Thương nước: hãy hy sinh cho đất nước.
- Không phải rằng ăn chay là giữ giới sát đâu. Cũng chớ nói rằng: Tôi không có chính tay giết chúng sinh nào, rồi cho rằng không phạm giới sát. Giới sát cần phải trong tâm mình không khởi lòng sân hận đối với chúng sinh.
- Khi bạn có lòng lo sợ thì dù bạn không muốn ma lại, ma cũng sẽ tới. Bạn không có tâm lo sợ, thì dù ma muốn tới cũng không thể nào tới. Ðây là bí quyết quan trọng nhất: đừng có sợ hãi. Khi bạn không sợ hãi thì tâm sẽ chính. Chính thì có thể hàng phục mọi thứ, bởi vì tà bất thắng chính. Vì thế ma sợ nhất chính là bốn chữ: Chính đại quang minh.
- Người minh tâm thì không ngu si. Kẻ kiến tánh thì không âu sầu. Tâm như gương sáng, lại cũng như nước lặng.
- Các bạn nên: Tùy duyên để tiêu nghiệp cũ, chớ tạo thêm tội mới.
- Kẻ tự mãn, (kiêu ngạo, cho mình quá tốt quá giỏi quá đủ) thì tuyệt đối chẳng thành tựu được gì cả. Mình phải học: Có mà dường như không, thật mà dường như giả. Có đạo đức cao thượng thì dường như chẳng có vẻ gì cả. Kẻ chân chính có tài hoa, thì y có vẻ như chẳng có tài gì cả.
- Sau đây là Sáu cái đừng:
Khi ngồi đừng đu đưa chân, rung đầu gối.
Khi đứng, đừng rung quần.
Khi đi đừng ngoái đầu.
Khi nói đừng lộ lưỡi.
Khi cười đừng cười lớn tiếng.
Khi nóng giận đừng la hét.
- Phải tập: Suy nghĩ chín chắn rồi hãy nói, lòng vui rồi mới cười, thấy việc ấy có nghĩa mới làm.
- Tất cả pháp hữu vi ở cõi đời này, thật sự là hết sức mỏng manh, không chắc chắn gì hết. Chẳng có chuyện gì vĩnh viễn không biến hoại. Tất cả mọi sự mọi vật không thứ gì kiên cố cả.
- Chúng ta ai mà thường thường cứ nổi nóng tức giận, nổi lửa vô minh, thì chính là đang ở trong lưới của ma. Làm sao thoát lưới ma? Rất dễ dàng: Ðừng nóng giận. Không nổi dóa, không có lửa vô minh, không sân giận thì sẽ thoát lưới ma ngay.
- Thân thể của mình là giả, thế sao mình cứ chấp trước nó hoài vậy? Vì sao mà cứ vì nó mà tạo tội nghiệp, chẳng thể buông bỏ.
- Người tu đạo phải tu hạnh viễn ly: Viễn ly tài sắc danh thực thùy, viễn ly mọi thứ xấu ác. Gần gũi mọi thứ thiện.
- Ai có thể hàng phục sáu căn, sáu trần, sáu thức khiến chúng nghe lời, không tạo phản, kẻ ấy là Bồ Tát.
- Ai có thể quét sạch tình cảm, lòng không còn rác rưởi dơ bẩn, kẻ ấy là Bồ Tát.
- Các vị phải thức tỉnh, giác ngộ đời người là vô thường. Con quỷ vô thường không biết lúc nào sẽ tìm mình. Lúc ấy: Ngàn thứ chẳng đem theo đặng, chỉ có nghiệp theo thân. Nếu bây giờ không dụng công thì đợi đến lúc nào, đến kiếp nào mới tu đây?
|
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân, tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật.Bèn nghĩ như vầy: Thiện tri thức nầy xa lìa thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ. Lìa tất cả chấp trước. Biết đạo vô ngại, đủ tịnh pháp thân. Dùng nghiệp như huyễn mà hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ thân Phật. Thân tuỳ ý sinh, thân không sinh diệt, thân không đến đi, thân chẳng hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận, thân hết thảy tướng đều một tướng, thân lìa hai bên, thân không y xứ, thân vô cùng tận, ...
Tôi tin rằng bộ Kinh nầy được giảng lần đầu tiên tại nước Mỹ, các vị cũng là những người đầu tiên được nghe. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, là vua trong các Kinh Phật, cũng là vua trong vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các Kinh, nhưng không thể gọi là vua trong vua. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là vua trong vua, là bộ Kinh dài nhất trong Kinh điển đại thừa mà đức Phật nói, nhưng thời gian nói không dài quá, chỉ trong hai mươi mốt ngày, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ làm tên. Cứu kính thì diệu pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ? Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận, không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến được sự diệu của nó.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có. Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng tri kiến của Như Lai. Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Quyển Ý Nghĩa Đời Người này rất thâm thuý, tuy cố H.T Tuyên Hoá thuyết giảng lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng nghĩa lý rất cao thâm huyền diệu, đi vào tâm người. Nếu người tu học, đọc hết quyển sách này, y theo trong đó mà thực hành, thì sẽ giác ngộ được ít nhiều ngay trong đời này, không cần phải tìm cầu đâu xa vời. Đặc biệt cố Hoà Thượng nhấn mạnh về Sáu Đại Tông Chỉ của Vạn Phật Thành đó là : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối. Sáu đại tông chỉ này cũng có thể nói là kim chỉ nam của người tu hành, dù xuất gia, hay tại gia, đều lợi lạc vô cùng, nhất là thời đại ngày nay.
|
|
|