Thông tin
Các bài mới
Đến nay, thuật ngữ tâm linh (心靈;  E: spirituality; F: spiritualité) có nhiều cách hiểu khác nhau. Nay tạm có 3 cách hiểu sau: Cách hiểu 1:  Theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân giải thích: Vốn từ tiếng Việt từ xưa (được ghi trong các từ điển của A. de Rhodes năm 1561, của P. de Béhaine năm 1772, của J. L. Taberd năm 1838) có “hồn”, “tâm”, “linh hồn”, nhưng không có “tâm linh”. Đến nửa đầu thế kỷ XX, mới thấy một số nhà soạn từ điển ghi từ “tâm linh”, nhưng nội hàm lại mang nhiều khác biệt. Đào Duy Anh (Hán - Việt từ điển, năm 1932) định nghĩa tâm linh/ 心靈là “cái trí tuệ tự có trong lòng người”, và đối chiếu nó với một từ tiếng Pháp tương đương là “intelligence” mà ngày nay được hiểu là trí tuệ, trí năng. Thiều Chửu (Hán -Việt tự điển, năm 1942) không ghi từ “tâm linh” nhưng có một sự xác định rất hay là “thần” 神và “linh” 靈như cặp đối lập âm dương: tinh anh của khí dương là “thần”, tinh anh của khí âm là “linh”.
- Ngày nọ, tôn giả Mục Kiền Liên vừa đắc Lục thông, đang rời núi Kỳ-xà-quật về chùa Trúc Lâm thành Vương xá, thì gặp các ngạ quỷ(nhờ có Thiên nhãn thông nên ngài thấy chúng rất rõ). Buổi chiều, lúc đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngài Mục Kiền Liên kể lại rằng sáng nay mình đã nhìn thấy đủ loại ngạ quỷ. Nhân cơ hội này, Phật bảo đại chúng: - Nầy chư Tỳ kheo! Các ngạ quỷ này, Như Lai cũng thấy rất nhiều lần, nhưng không kể cho ai nghe, vì sợ người khó tin, bởi họ chẳng thấy được nên khó tưởng tượng rằng có những loài ngạ quỷ như vậy. Nhưng quỷ dù có lạ lùng mấy, thì cũng do biệt nghiệp xấu từ tâm tạo nên. 
Cổ nhân thường dạy: “Bệnh từ miệng vào – Họa từ miệng ra”, một người số mệnh có tốt hay không chỉ cần anh ta mở miệng là có thể biết. Do vậy khẩu nghiệp rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Những việc làm tổn đức cả trong cuộc đời người ta không phải ngày nào cũng có thể làm, nhưng những lời nói làm tổn đức, những lời nói khó nghe, những lời nói bất chính rất có thể được nói ra hằng ngày. Thuận theo thời gian khi việc tổn đức do khẩu nghiệp gây ra tích tụ lại càng nhiều, phúc báo sẽ đều từ cái miệng này mà biến mất. Vì vậy, những người mà lời nói gây tổn đức, cả đời sẽ lao đao vất vả cực khổ. Khẩu đức đến và đi với bất kỳ ai cũng đều như nhau, có rất nhiều phúc báo đều thông qua những lời nói từ miệng mà mất đi.
Ông Raymond là một người nhập cư gốc Hoa ủng hộ Tổng thống Trump trong nhiều năm, ông đã bảo vệ các giá trị truyền thống của nước Mỹ bằng hành động của mình, từ nhập cư, nhập tịch cho đến gửi con vào các học viện hải quân hàng đầu ở Hoa Kỳ. Một trong những điều khiến ông tự hào chính là sự ủng hộ hết mình của ông đối với Tổng thống Trump trong bốn năm với tư cách là Hoa kiều ở Mỹ. Nhớ lại chiến dịch tranh cử đầu tiên của Tổng thống Trump, ông Raymond nói rằng một người bạn của ông cho hay, hễ ai trong cộng đồng ông ấy cắm biển quảng cáo ủng hộ ông Trump, công nhân thu gom rác đều sẽ không đến thu gom rác tại nhà họ. Ông cảm thấy nước Mỹ vào thời điểm đó đã bị xâu xé đến mức khiến người ta phải sống trong nỗi sợ hãi.
Con tàu TGV nối liền thành-phố Dijon-Paris ngừng tại điểm đến ga Lyon. Phú xuống xe, kéo va-li đi dọc theo hành lang ga, xuống hầm xe điện ngầm để đón xe về khách-sạn. Chiều thứ sáu, đang là giờ cao-điểm cuối tuần nên hành khách đi lại rất đông. Phú chen đi trong dòng người vội vã, vừa ra khỏi cầu thang cuốn, anh thoáng nghe có tiếng đàn guita hòa lẫn giọng ca nam nhẹ vang lên trong góc hầm, giọng ca tiếng Việt buồn não, lời bài ca đã lâu lắm anh mới có dip nghe lại: Người hát rong trong hầm xe điện ngầm. Trời đêm dần tàn, em đến sân ga tiễn người trai lính về ngàn.
Đó là một câu khẳng định chắc như cây đinh đóng cái cột nhà. Gia phả là gì?家譜 gia phả  hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ, gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó. Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói "lũy tre làng", có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức. Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là "Tổ tiên đại bác thụt chưa tới." Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.
Con người có nguy cơ mang những cơn đau do bệnh hoạn kinh niên hoặc do thương tích, giải phẫu. Cơn đau sau có thể làm giảm đi bằng thuốc gây tê mê. Cơn đau trước như nhức đầu, đau xương khớp cần sự trị liệu bằng các thuốc giải đau, để người bệnh có thể tiếp tục sinh hoạt, sản xuất. Aspirin là một trong các thuốc giải đau lâu đời đó. Tự điển Webster's Dictionary đã định nghĩa Aspirin như sau: “Một hợp chất kết tinh từ salicylic acid, có mầu trắng và có công dụng bớt đau nhức và hạ nhiệt độ”. Nhưng trong tương lai, định nghĩa trên chắc phải kèm thêm một số chữ nữa, chẳng hạn: “và có công dụng giúp phòng ngừa các chứng đột tim”. Thực vậy, tin tức y học quan trọng này đã được công bố trên tạp san Y Học uy tín New England Journal of Medecine, số ngày 28 tháng Giêng năm 1988.
Pháp âm
Pháp thoại
TÌM KIẾM
- Cái lưỡi có công đức thuyết pháp, mà cũng có tội nghiệp nói thị phi. Nếu nó không thuyết pháp thì nó sẽ nói thị phi, hoặc lời tà vạy, vô nghĩa. Tức là một vạn hai ngàn thứ tội.
- Giới là thước đo cho người xuất gia.
- Không nên tìm chuyện rắc rối vào thân, cũng đừng sợ việc rắc rối.
- Muốn thành Phật thì người học Phật phải tham thiền tỉnh tọa. Mỗi ngày đều phải ngồi thiền, đừng sợ chân đau, gối mỏi, lưng nhức thì mới thành tựu được. Người xưa nói: Không qua một lần lạnh thấu xương, làm sao hoa nở thơm ngát hương?
- Trên đời chẳng có thứ gì đáng gọi là báu quý, chẳng có thứ gì là khó tìm khó gặp. Chỉ có kẻ biết thuyết giảng chánh pháp là khó tìm khó gặp.
- Mình có chuyện đau khổ là vì chấp trước chưa phá trừ. Chấp trước một khi xả bỏ thì không còn gì khổ đau nữa. Cũng chẳng còn gì gọi là khoái lạc.
- Trong đời Mạt Pháp, tất cả thiên ma ngoại đạo, ly mỵ vọng lượng, sơn yêu thủy quái đều sợ nhất là chú Lăng Nghiêm. Bởi vì chú Lăng Nghiêm là chú phá tà, hiển chánh.
- Tu là hàng phục thân tâm, rèn luyện thân thể cho thành chất kim cang. Lúc bạn mệt mỏi cũng phải hướng về phía trước tiếp tục tu trì, đoạn trừ tất cả vọng tưởng.
- Tâm tánh của chúng sinh vốn là quang minh lỗi lạc. Chẳng qua nó bị vô số tội chướng, vọng niệm che phủ mà thôi.
- Niệm danh hiệu đức Bồ Tát có thể làm ta minh tâm kiến tánh.
- Bạn hãy xem ngày bạn quy y như là ngày sinh nhật của mình. Xem quãng đời tu hành của mình bắt đầu từ ngày này.
- Kinh Lăng Nghiêm là cốt tủy của đạo Phật. Người không có xương cốt thì hẳn phải chết. Ðạo Phật mà thiếu Kinh Lăng Nghiêm thì có thể nói rằng không có Phật pháp.
- Bạn ăn chúng sinh nào nhiều thì bạn có nhiều chủng tử của chúng sinh đó trong người mình. Tức là bạn thành bà con với chúng. Khi nhân duyên với chúng quá sâu thì sự gắn bó sẽ không thể nào tách rời được.
- Ăn thịt heo nhiều thì bạn có cơ hội rất lớn sẽ làm heo. Ăn thịt bò nhiều thì bạn cũng sẽ có nhiều cơ hội làm bò. Ăn nhiều cơm, phải chăng biến thành gạo? Gạo là loài vô tình, còn chúng sinh là loài hữu tình. Nếu ăn chúng sinh hữu tình thì mình sẽ sinh làm loài chúng sinh hữu tình ấy. Ăn thứ vô tình, chẳng những mình không biến thành gạo, thành rau, thành cỏ, mà thật sự nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng đúng đắn nhất.
- Kinh Lăng Nghiêm là bảo giám của người tham thiền. Ai tu đạo cũng nên nghiên cứu sâu xa kinh này.
- Không nên xía vào chuyện người khác. Cứ nói: Cô ta không tốt, anh ta ác lắm! Ðừng tìm lỗi lầm của người khác, mà nên trừ vọng tưởng thành kiến trong đầu mình. Dù là chuyện xứng tâm duyệt ý đi nữa, nó cũng chỉ là một vọng tưởng vui sướng trong đầu. Do đó phải nhìn cho thủng, buông xả nó, để chứng đắc trung đạo liễu nghĩa.
- Ðời mạt Pháp, căn tánh của chúng sinh rất thấp kém, không thích hợp với nhiều pháp môn. Chỉ có pháp Niệm Phật là thích hợp với hết thảy căn cơ. Ba hạng căn cơ (cao, vừa, thấp) đều hợp, kẻ ngu người trí đều được.
- Ðôi khi chúng ta cho mình là làm việc tốt, nhưng kỳ thật thì không phải như vậy. Ðó là vì sao? Vì chủng tử (của việc mình làm) là bất tịnh.
- Vì sao có sinh tử? Vì có vọng tưởng.
- Khi bạn lạy đức Quan Âm, Niệm danh đức Quan Âm, bạn hãy phản tỉnh xem mình có tánh nóng giận không? Phải chăng thói hư tật xấu của mình chưa trừ? Nếu như vậy thì dù mình lạy tới kiếp vị lai, niệm danh hiệu đến hết kiếp thì cũng không sao gặp đức Quan Âm đâu.
- Nếu bạn hiểu giới luật thì sẽ thâm nhập vào mọi pháp Phật. Nếu bạn không hiểu giới luật thì bạn cũng giống như mây phiêu dạt trên trời, chẳng chút nền tảng cơ bản gì hết.
- Vì sao bây giờ thế giới vấn đề của em trẻ rắc rối tràn lan như vậy? Vì cha mẹ sinh con mà không biết dạy con.
- Nếu bạn có đầy lòng nhân, nghĩa, lễ, trí thì mặt bạn sẽ hiện ra một thứ đức tướng, một thứ công đức.
- Trí huệ bát nhã của người ngu và kẻ trí thì chẳng khác nhau. Cái khác là một người thì biết dùng, một người thì chẳng biết dùng (trí bát nhã).
- Nếu bạn thường hồi quang phản chiếu, thấy tự tánh, thường sinh trí bát nhã thì đó là công. Bạn dùng trí bát nhã ấy ứng dụng khắp nơi, biến hóa vô cùng, nhưng không bị nhiễm trước, không làm việc bất tịnh, thì đó là đức.
- Phải nhận biết cảnh giới, chớ chấp trước vào cảnh giới. Vô luận là cảnh thiệt hay giả, bạn không thể chấp trước. Nếu bạn chấp trước thì cảnh thiệt cũng biến thành giả. Nếu không chấp trước, cảnh giả cũng biến thành thiệt.
- Chú Lăng Nghiêm là vua của các chú, cũng là chú dài nhất. Chú này có quan hệ đến sự hưng suy của Phật giáo. Trên thế giới nếu còn có người trì tụng chú Lăng Nghiêm thì còn tồn tại chánh pháp. Không ai trì tụng chú Lăng Nghiêm thì chánh pháp diệt mất. Chú Lăng Nghiêm là do hóa Phật trong quang minh phóng ra từ đỉnh đầu của đức Thích Ca. Do đó chú này kỳ diệu không thể tả xiết. Mỗi chữ mỗi chữ đều áo diệu khôn lường.
- Tham cầu danh thì bị lửa đốt chết. Tham cầu lợi thì bị nước dìm chết. Tham cầu vinh hoa phú quý thì bị gió thổi chết.
- Bất luận là sám hối với ai, bạn cũng phải nói cho rõ ràng, không được nói mơ hồ, khiến người nghe diễn dịch đàng nào cũng được.
- Không ai tránh đặng sinh, lão, bịnh, tử. Sinh là do đâu? Từ trời sinh ra? Ðất sinh ra? Người sinh ra? Tự nhiên sinh ra? Sinh ra rồi thì ta là gì? Trách nhiệm của ta là gì? Nghĩa vụ ta phải làm là gì? Thiên chức của ta là gì? Những việc trên mình phải nghĩ cho rõ, đừng uổng phí kiếp làm người.
- Bạn phải nhất định học thuộc chú Lăng Nghiêm. Không những bạn có thể liễu thoát sinh tử, mà còn tránh được ma nạn, tai họa và cứu độ chúng sinh.
- Ðồng tính luyến ái là yêu nghiệt, đi ngược lại với thiên tánh, ngược lại luân lý, ngược lại sinh lý.
- Muốn thành Phật thì phải học Phật pháp.
- Thứ mình xứng đáng có, thì mình sẽ được nó. Thứ mà mình không xứng đáng có thì mình chớ vọng tham cầu. Mình phải giữ khoảng cách, trách nhiệm. Không nên ích kỷ, không nên tự lợi hay nói dối. Làm vậy thì thế giới mới hòa bình. Bạn không muốn nó thái bình, nó cũng thái bình. Không muốn nó bình an, nó cũng bình an. Vì sao bây giờ không bình an? Vì ai cũng hướng ngoại truy cầu, không biết hồi quang phản chiếu, tìm đáp án nơi chính mình.
- Lúc nào mình cũng phải có tâm trong sạch như trẻ thơ. Giữ như em trẻ, lúc nào cũng không già, thì mình sẽ không bao giờ chết. Do vậy muốn mạnh khỏe, trường thọ, thì chỉ cần bạn buông bỏ tài sắc danh thực thùy, thì cái chân thật sẽ hiện bày ngay.
- Bất luận là tiểu thừa, đại thừa hay Phật thừa, thừa nào cũng dạy mình đầu tiên phải trừ bỏ thói hư tật xấu, vô minh phiền não, tham sân si. Nếu bạn bỏ những thứ thói xấu ấy đi thì tự nhiên sẽ tương ưng với ý nghĩa trong kinh. Nếu tật xấu không trừ thì sẽ không hiểu được nghĩa kinh đâu.
- Bạn nhìn xem: Bạn là bậc nhất rồi đó, nhưng có làm sao đâu? Bạn phát tài rồi đấy, nhưng có ích gì?
- Khi quan sát người tu đạo, bạn nhìn chỗ nào? Bạn xem y có giữ giới luật hay không. Nếu y không giữ giới luật, y nhất định là ma. Nếu y giữ giới, đặc biệt nghiêm minh, thì y đúng là tín đồ của Phật.
- Rắc rối ở trên đời do đâu mà ra? Do người ta ai cũng ích kỷ. Ích kỷ bắt nguồn từ đâu? Bắt đầu từ nơi dục Niệm.
- Tu đạo, bất kỳ thứ gì cũng đừng tham. Tốt không tham, xấu càng không tham. Lấy tâm bình thường làm đạo tràng. Lúc nào cũng bình thường, chẳng tham muốn gì cả. Hễ tham là sai lầm.
- Nếu nhận thức của bạn về nóng và lạnh không khác biệt thì nóng lạnh không tồn tại. Nếu nóng lạnh không tồn tại thì có ai đó để cảm giác về nó? Các cặp đối tượng khác thì đạo lý cũng như vậy. Nếu mình chẳng khởi tâm phân biệt sự vật thì sự an tĩnh vốn có của tự tâm sẽ không bị quấy nhiễu.
- Hậu quả của nghiệp sát nặng nề là sẽ hình thành thiên tai nhân họa. Hoặc là động đất, hoặc là sóng thần, hoặc là thời tiết thất thường, quá nóng, quá lạnh, cho tới mưa gió bất định, đủ hiện tượng mà đất nước, nhân dân không chút thanh bình an lạc.
- Trẻ em thì giống như cây non lớn lên. Cành nhánh mọc lộn xộn thì phải tém cho gọn để nó có thể mọc cao lớn, sau này gỗ có thể dùng làm rường cột.
- Con người nằm mộng thì không biết mình đang mộng. Tỉnh dậy mới biết là mộng. Lúc nào thì tỉnh mộng? Khi khai ngộ. Tu làm sao? Thì tu học Phật pháp. Phật pháp là gì? Nói gọn là cái chìa khóa. Ngày ngày mình chạy đi tìm cái chìa khóa này. Chìa khóa này là gì? Là trí huệ bát nhã. Tìm ra chìa khóa trí huệ thì mình có thể mở tung ổ khóa vô minh. Lúc ấy mình sẽ giải thoát, tức là tỉnh dậy từ cơn mộng giả huyễn.
- Ðồ còn dùng được mà mình vất đi thì tức là lãng phí vật chất. Trên thế giới này vật chất dùng đã hao tổn gần hết. Nếu mình không biết tiết kiệm thì tương lai thật nguy hiểm.
- Ở đời bất luận là việc tốt hay xấu đều dạy mình giác ngộ. Việc tốt thì dạy mình chuyện tốt. Việc xấu thì dạy mình chỗ sai lầm của nó.
- Hãy đặc biệt chú ý đến mỗi câu chú Lăng Nghiêm. Ðừng khinh thường nó. Ðây là diệu pháp tất khó gặp trong trăm ngàn vạn ức kiếp đó. Các bạn cho rằng trên thế giới có rất nhiều người thuyết giảng về chú Lăng Nghiêm ư? Chẳng có ai.
- Vọng niệm là ý tưởng không chân thật, hư vọng không tự tánh. Kẻ điên đảo thì biết việc này không đúng mà cứ cố ý làm, lại còn biện hộ, nói việc này là đúng.
- Người đời ai cũng bận rộn, lăng xăng hoài. Xuất phát điểm của họ không ngoài lòng ích kỷ, rằng phải bảo vệ sinh mạng và tài sản của mình. Phật pháp thì đại công, không riêng tư, chỉ nhắm vào lợi ích kẻ khác thôi.
- Nghe giảng kinh thì bạn sẽ có cái kính chiếu yêu. Yêu ma quỷ quái hiện hình là bạn biết ngay.
- Người tu phải phát nguyện cho chân chánh. Phát nguyện từ lòng thành, rồi theo nguyện ấy mà nỗ lực thật hành.
- Nếu bạn chỉ còn một tâm thái đại công vô tư, không ham mau, không muốn hơn kẻ khác, chỉ chuyên tâm nhất chí, thì ma gì cũng không thể hại bạn.
- Người tu phải thanh tịnh như tròng mắt của mình, không thể để dính bụi. Nếu mắt có bụi thì chắc hẳn sẽ khó chịu, phải tìm cách rửa cho sạch. Nếu không thì thâm tâm không an. Tu đạo thì cũng tương tợ. Bụi là gì? Là lòng tham. Có lòng tham thì mọi chuyện sẽ dấy khởi biến động. Mình vốn thanh tịnh, nhưng vì ý niệm tham lam, nên phản ứng hóa học phát sinh, khiến nước trong biến đục, tâm thanh thành trược. Lúc ấy mình chẳng thể giúp ai, mà ngược lại còn tự hại. Mục đích chủ yếu của người tu là liễu sinh thoát tử, không phải vì cầu có cảm ứng mới tu hành. Bạn nên nhớ: Chẳng thể có mưu đồ lúc tu hành. Vì mong cầu thành tựu, mong cầu cảm ứng mà tu: Ðó là sai lầm to lớn lắm.
- Nếu có trí thì bạn như mặt trời. Có huệ thì bạn như mặt trăng.
- Nếu nói động vật là để người ta ăn. Vậy loài người thì để loài gì ăn?
- Mỗi lời nói mỗi hành động của chúng sinh trong cõi Ta Bà này đều là tham, sân si. Trong phạm vi pháp thế gian, họ dùng tham sân si mà hành sự. Ðến khi tu pháp xuất thế gian, họ cũng dựa vào tham sân si mà tu hành. Nào là họ tham khai ngộ; ngồi thiền hai ngày rưỡi là đã muốn khai ngộ. Tu chút xíu là muốn thần thông. Niệm Phật mới mấy ngày là muốn đắc niệm Phật tam muội. Bạn xem tâm tham lam lớn như vậy, đều là do con quỷ tham lam biểu hiện đó.
- Tu thì như trèo cây sào trăm trượng: Tuột xuống thì dễ, trèo lên thì khó như lên trời. Bất luận gặp cảnh giới gì, nếu bạn không xuyên thủng được nó thì rất dễ gặp ma chướng. Sơ hở chỉ tại một niệm mà thôi. Một niệm sai là một niệm tà, thiên ma ngoại đạo liền vào tâm phủ của bạn. Nếu có chánh niệm thì Phật sẽ hợp nhất với bạn. Lục Tổ Ðàn kinh dạy: Lúc chánh niệm thì Phật trong phòng; Lúc tà niệm thì ma tại nhà. Chính là đạo lý như thế.
- Thích ăn ngon cũng là do có một cái oan nghiệp dắt dẫn. Nó khiến bạn vui thích hy sinh tánh mạng của vật khác để bồi bổ cho tánh mạng của chính mình.
- Ðịa ngục không phải tự nhiên có sẵn, chuẩn bị sẵn sàng để mình rớt xuống đó đâu. Làm sao có nó? Do nghiệp của mình hiện ra. Nếu bạn tạo nghiệp địa ngục thì có địa ngục hiện ra.
- Nếu bạn chân thành đọc tụng kinh điển thì thường có chư thiên tán hoa, mùi hương thơm lạ tỏa khắp, quỷ thần cung kính cúng dường.
- Bạn muốn biết cảnh giới ấy thật hay giả, người đó là Bồ Tát hay là ma. Bạn có thể từ chỗ này mà nhìn: Thứ nhất, y có lòng dâm dục hay không? Thứ hai y có lòng tham lam hay không? Tham lam tức là tham tài, tham sắc. Nếu có y chẳng phải là của thật.
- Tết năm nay tôi cho các bạn thấy tờ giấy lau miệng của tôi đã dùng bốn lần rồi mà vẫn còn xài. Bạn nghĩ xem trên đời còn ai hà tiện như tôi chăng? Không phải chỉ có giấy, bất kỳ thứ gì tôi cũng không lãng phí. Tuy việc này nhỏ, song hy vọng các bạn chú ý, đừng nên lãng phí tài nguyên của thế giới.
- Chữ nhục gồm có hình một người bị ăn và một người ăn thịt. Người ăn thịt thì ở bên ngoài, và vẫn còn là người. Người bị ăn thì ở bên trong, nhưng đã biến thành con vật. Người ăn thịt và kẻ bị ăn thì có một mối quan hệ mật thiết, một mối oan kết không thể giải trừ, ràng buộc lẫn nhau.
- Trí huệ và ngu si không phải là hai thứ. Chúng như hai mặt của bàn tay. Lật bên này: Trí huệ; trở qua bên kia: Ngu si.
- Mê tín phật pháp thì tuy là mê tín, không hiểu biết gì, nhưng ít ra vẫn còn có lòng tin. Nếu bạn tin mê thì tuy có lòng tin nhưng bạn tin vào thứ tà đạo, thứ đạo mê hoặc lòng người, thứ đạo không chân chính. Lòng tin ấy mới là nguy tai.
- Nhà cần nhỏ một chút, tiền cần ít một chút, người cần tốt một chút, nghiệp cần sạch một chút.
nh điển hình
Kinh sách mới
Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ : Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương : 1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Ðông, Ðức Phật A Súc là chủ. 2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Đức Phật Bảo Sinh là chủ. 3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ. 4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Đức Phật A Di Ðà là chủ. 5. Nghiệp bộ : Thuộc về phương Bắc, Đức Phật Thành Tựu là chủ.
Nếu người không có căn lành, thì đừng nói đến tụng niệm, dù ba chữ « Chú Lăng Nghiêm » cũng không nghe được, cũng không có cơ hội nghe được. Các vị bây giờ dùng máy vi tính tính thử xem, dùng thần não của bạn tính thử xem, hiện tại trên thế giới nầy, người tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều, hay là người không biết tụng Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Người nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Hay là người không nghe được tên Chú Lăng Nghiêm nhiều ? Cho nên các vị đừng xem mình là người rất bình thường, bạn đã nghe được Phật pháp, đây đều là trong vô lượng kiếp về trước đã từng gieo trồng căn lành, đắc được diệu pháp thâm sâu vô thượng, các vị đừng để pháp môn nầy trôi qua.
Kinh Hoa Nghiêm có ba mươi chín phẩm, tám mươi quyển, hiện tại giảng đến phẩm thứ hai mươi sáu trong Kinh, đó là Phẩm Thập Địa. Tại sao gọi là Phẩm Thập Địa ? Vì địa (đất) hay sinh trưởng vạn vật, tất cả vạn vật cũng nương theo đất mà sinh, nương theo đất mà lớn, nương theo đất mà thành, nương theo đất mà trụ, nương theo đất mà được giải thoát. Trong đất lại có đủ thứ bảo tàng, đủ thứ vật chất quý trọng, cho nên con người mới phát quật mỏ vàng, mỏ đá quý, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ thiết .v.v... các thứ khoáng sản từ dưới đất.
Khi Bồ Tát Kim Cang Tạng diễn nói xong Địa thứ bảy, thì bấy giờ chư Thiên Vương trong pháp hội, và vô số Thiên chúng cõi trời, lắng nghe pháp môn tu hành Địa thứ bảy - Viễn Hành địa rồi, thảy đều đại hoan hỉ. Thật là pháp môn vô thượng vi diệu, thấy điều chưa thấy, nghe điều chưa nghe, đại chúng đều vui mừng không thể nào tả được. Do đó, đại chúng phát tâm cúng dường chư Phật và các đệ tử của Phật vô lượng số Bồ Tát trong pháp hội. Bấy giờ, chư thiên cúng dường gồm những thứ : Như mưa xuống rải khắp hoa phan tốt đẹp, tràng báu và lọng báu, hương thơm, chuỗi anh lạc báu, và đủ thứ y báu dùng các thứ báu đẹp kết thành. 
Lúc đó, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong đại pháp hội, tại Điện Phổ Quang Minh, có rất nhiều Bồ Tát đều có tư tưởng như vầy: “Cõi nước chư Phật tạo ra không thể nghĩ bàn như thế nào? Nguyện xưa chư Phật đã phát ra, không thể nghĩ bàn như thế nào? Chủng tánh của chư Phật lại không nghĩ bàn như thế nào? Chư Phật xuất hiện ra đời không nghĩ bàn như thế nào? Pháp thân, báo thân, hoá thân của chư Phật không nghĩ bàn như thế nào? Âm thanh của chư Phật lại không nghĩ bàn như thế nào? Trí huệ của chư Phật không nghĩ bàn như thế nào?
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát này tu Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh, tích tập đủ thứ căn lành công đức, khi trụ tam muội tất cả thân chúng sinh khác biệt, đắc được mười thứ tự tại không chấp trước. Những gì là mười ? Đó là : 1. Đối với tất cả cõi Phật không chấp trước. 2. Đối với tất cả địa phương không chấp trước. 3. Đối với tất cả kiếp số không chấp trước. 4. Đối với tất cả chúng sinh không chấp trước. 5. Đối với tất cả pháp tướng không chấp trước.
Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật. Mười danh hiệu tức là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Thế nào là Như Lai? Tức là thừa như thật đạo, lai thành chánh giác. Trong Kinh Kim Cang có nói : « Như Lai giả, Vô sở tùng lai, Diệc vô sở khứ, Cố danh Như Lai ». Vô sở tùng lai, tức là chẳng sinh, diệc vô sở khứ, tức là chẳng diệt. Cũng có thể nói phiền não chẳng sinh, giác ngộ chẳng diệt. Xuất hiện tức là ý nghĩa Như Lai xuất hiện ra đời. Như Lai đến thế giới Ta Bà để vì chúng sinh diễn nói diệu pháp, giáo hoá chúng sinh, khiến cho họ giác ngộ, thoát khỏi ba cõi, đến được bờ bên kia.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không hạ liệt. Những gì là mười ? 1. Đại Bồ Tát phải nghĩ như vầy : Tôi sẽ hàng phục tất cả thiên ma và quyến thuộc của chúng, khiến cho ma nam ma nữ cải ác hướng thiện, đừng có não hại người tu hành. Đó là tâm không hạ liệt thứ nhất. 2. Bồ Tát lại nghĩ như vầy : Tôi sẽ phá tan tất cả ngoại đạo và tà thuyết của họ, tiêu diệt tà tri tà kiến dị luận của ngoại đạo. Đó là tâm không hạ liệt thứ hai. 3. Bồ Tát lại nghĩ như vầy :
Pháp giới, làm thế nào có thể vào ? Có thể ra ? Pháp giới nầy vốn là vô sở bất tại, vô tại vô bất tại, tức chẳng ra, cũng chẳng vào. Tại sao lại nói « Phẩm vào pháp giới » ? Nghĩa là nói phẩm vào pháp giới nầy, tức là nói phẩm pháp giới nầy. Do đó nói phẩm pháp giới nầy, khiến cho chúng sinh biết, để có thể cùng với pháp giới nầy hợp mà làm một, hai mà chẳng hai, cho nên nói « Phẩm Vào Pháp Giới ». Pháp giới là gì ? Do đó có câu : « Thô ngôn và tế ngữ, Đều quy đệ nhất nghĩa ». Đệ nhất nghĩa đại biểu cho pháp giới. Bất cứ nói như thế nào ? Đều chẳng ra ngoài pháp giới, cho nên nói : « Vô bất tùng thử pháp giới lưu. Vô bất hoàn quy thử pháp giới ». Nghĩa là : Không có gì mà chẳng phải từ pháp giới nầy mà ra. Không có gì mà chẳng trở về pháp giới nầy.