Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh


 
CAO ĐÔNG KHÁNH- CHỞ HẾT VÀNG SON TỚI Ủ Ê

I. NHÀ THƠ CAO ĐÔNG KHÁNH VÀ TẬP THƠ LỬA ĐỐT NGOÀI GIỚI HẠN

Nhà thơ Cao Đông Khánh sinh năm 1941 tại An Phú Đông, Gia Định và mất đúng vào năm bước sang thiên niên kỷ mới, năm 2000, tại Hoa Kỳ. Như vậy, ông sinh ra và mất đi, chỉ gói gọn trong thế kỷ hai mươi.

Cao Đông Khánh là tên thật của cậu Ba Nam Kỳ, con của đại thương gia Cao Đồng Hưng, giàu nứt đố đổ vách. Cha của ông cho ông đi sang Mỹ du học từ năm 1966 với mong mỏi, mơi này về, sẽ giúp ông cai quản đồn điền cà phê, cai quản việc xuất khẩu cà phê, gạo, cả xuất khẩu cát Cam Ranh sang Nhật làm thủy tinh.

Cả cái rạp hát mang tên Cao Đồng Hưng nữa.

Sang Mỹ, từ lúc mới bắt đầu học Fine Arts (Mỹ Thuật) tại Berkeley, ông mở một cây xăng lớn và thuê người làm việc là những sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học như ông. Đa số những người làm thuê cho ông, sau này đều thành danh, trở thành giáo sư đại học, bác sĩ, có người còn giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ Việt Nam thời bấy giờ. Sau đó, ông mở thêm nhà hàng Quê Hương, nhà hàng được xem là đầu tiên và lớn nhất của người Việt tại Mỹ. Cũng chính ông, người có tố chất nghệ sĩ ăn sâu vào máu, đứng ra thực hiện chương trình phát thanh đầu tiên Tiếng Vọng Quê Hương tại San Francisco, dành cho người Việt.

Viết về Cao Đông Khánh, nhà thơ Du Tử Lê tiếc nuối, chính ra, lớn lên giữa một cơ ngơi đồ sộ đến thế, Khánh phải trở thành một xì thẩu, tài phiệt tầm cỡ quốc tế, mới đúng.

Tuổi còn trẻ, kinh doanh không gặp thời, làm văn nghệ cũng chán, ông quay về Việt Nam, nhập ngũ và để lại trên chiến trường một bên mắt của ông.

Từ lúc niên thiếu, ông đã bắt đầu làm thơ. Năm 1975, ông đốt sạch hết. Đi tù, vì khẳng khái, bướng bỉnh, ông bị đánh gãy hết hai hàm răng. Ra tù, ông vượt biên sang Mỹ và làm thơ trở lại. Thời gian này, ông buồn bã và uống rượu suốt ngày. Gặp bạn bè, ông chỉ toàn nói chuyện về thân phận lưu vong. Năm 1980, thơ ông bắt đầu đăng trên các tạp chí tại Mỹ. Ông gây tiếng vang trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại ngay sau khi cho ra mắt tập thơ Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn.

******

II. BÀI THƠ RỒNG BAY PHƯỢNG MÚA

Cao Đông Khánh để lại cho đời hai tập thơ, Lịch Sử Tình Yêu, xuất bản năm 1981 và Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn, xuất bản năm 1996. Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn, với mười lăm chương, được đánh giá là gói trọn sự nghiệp sáng tạo, tình cảm và tư tưởng của Cao Đông Khánh sau 1975.

Và, bài thơ Rồng Bay Phượng Múa trong thi tập này, là một bài thơ độc đáo.

Độc đáo, bởi giọng điệu rất lạ của nó. Độc đáo, bởi nó sinh động, sống động, rất thực, một thực trạng của Sài Gòn và cả miền Nam sau biến cố 1975.

RỒNG BAY PHƯỢNG MÚA
(Tặng Nguyễn Lập Đông)

Sài Gòn, Chợ Lớn như mưa chớp
nát cả trùng dương một khắc thôi
chim én bay ngang về Xóm Chiếu
nước ròng ngọt át giọng hàng rong
hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược
trái cây quốc cấm giấu trong lòng
hỏi thăm cho biết đường ra biển
nước lớn khi nào tới cửa sông.
Sài Gòn Khánh Hội gió trai lơ
khi ấy còn tơ gái núi về
đào kép cải lương say tứ chiếng
Ngã Tư Quốc Tế đứng xàng xê
gánh nước nặng hơn vác thánh giá
má đỏ hình như rượu mới nồng
em nhớ giăng mùng khi xế bóng
kéo đời đưa võng suốt hôn mê
Chương Dương sánh ánh trăng vàng võ
rọi thấu vào trong dạ não nùng
con cá lội qua Cầu Ông Lãnh
như chiếc ghe bầu khẳm héo hon
nước chia mấy ngả sao không thấy
Mấy ngả phong trào thuở thiếu niên.
Sài Gòn Gia Định em vô trước
qua ngõ Cầu Bông mới tủi thân
chiếc xe đò cũ hơn chùa miễu
chở hết vàng son tới ủ ê
đêm đêm rực tiếng côn trùng dậy
trống trải hồn ta đến thấu trời
xa lộ phía bên gà gáy tối
về lối Hàng Sanh có tiếng cười
anh lén ghé qua nhà kẽo kẹt
thấy tiếng cười trong một giấc mê.
Sài Gòn Phú Nhuận nhớ không nổi
Có ngã nào qua Khám Chí Hòa
hỏi thăm quên mất tên thằng bạn
như lá trên rừng đang chuyển mưa
trận mây đồng phục nặng như thép
ửng chút đời xưa rạng chỗ ngồi
những người cách mặt gần như nhớ
những mặt trời xây xẩm trở về.
Sài Gòn Chợ Lớn nhớ không tới
con gái Bàn Cờ qua Thủ Thiêm
chiếc phà chở hết tên thành phố
mỗi ngã tư trời đất mỗi nơi
nhớ thương cũng mỏi cánh cao vút
đáp xuống Cầu Ba Cẳng xả hơi
mọc thêm một cánh chân thời thế
con thú về Lục Tỉnh mất tiêu
nửa đêm em đổ mồ hôi trộm
như nụ cười che chở thịt da.
Sài Gòn bước cho rõ tiếng guốc
nắng vàng vàng trên đá nứt mê tơi
như một mùa hoa nở cấp tốc
đưa đường tại hạ ghé qua chơi
hỏi thăm con bạn thời sinh tử
đã lánh mình qua miệt Chánh Hưng
cầu Chữ Y yêu kiều ba ngã
có ngã lui về để dưỡng quân
nồi lẩu lươn chua đêm nuốt khói
ta với mình nhứt dạ đế vương.
Sài Gòn Chợ Lớn dưới mặt đất
ngõ hẻm đời sau rối địa hình
tiếng nói cất lên, ngoài tiếng nói
của đàn ông nói chuyện với rồng
tiếng hát cất lên, ngoài tiếng hát
để về khuya, phượng múa chung quanh.

******

II.1. NƯỚC LỚN KHI NÀO TỚI CỬA SÔNG

Sài Gòn, Chợ Lớn như mưa chớp
nát cả trùng dương một khắc thôi
chim én bay ngang về Xóm Chiếu
nước ròng ngọt át giọng hàng rong
hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược
trái cây quốc cấm giấu trong lòng
hỏi thăm cho biết đường ra biển
nước lớn khi nào tới cửa sông.

Phong cách thơ của Cao Đông Khánh là phong cách bình dân, cận nhân tình (gần gũi với tình người), tự nhiên, tự do, táo bạo và phóng túng.

Nói đến Sài Gòn, Chợ Lớn sau 1975, là phải nói đến phong trào vượt biên. Sau những chính sách hà khắc, thì vượt biên chính là con đường sống còn của người dân thành thị lúc bấy giờ.

Sài Gòn, Chợ Lớn như mưa chớp / nát cả trùng dương một khắc thôi, gợi hình ảnh biển cả, sóng to gió lớn, và những chuyến vượt biên ngày đêm không ngớt, với những hiểm nguy, mà mạng người được ví như chỉ mành treo trước gió.

Người ra đi thì đối diện với mất còn, sống chết; người ở lại thì cũng chẳng sung sướng gì hơn, buôn bán ngược xuôi, đầu tắt mặt tối, thứ gì cũng bị cấm đoán, cũng bị xét hỏi. Cuộc mưu sinh trở thành hành vi lén lút, nên khốn khó, nên cực khổ muôn bề: chim én bay ngang về Xóm Chiếu / nước ròng ngọt át giọng hàng rong / hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược / trái cây quốc cấm giấu trong lòng.

Thế nên, lần lượt, kẻ có tiền thì tìm cách đi trước, kẻ không tiền, thì cũng bằng đủ mọi cách, đi sau: hỏi thăm cho biết đường ra biển / nước lớn khi nào tới cửa sông. Con đường của ghe thuyền ra ngoài đại dương, là con đường đi tìm tự do của họ. Người còn ở lại không chỉ mong ngóng tin tức của người thân, mà còn tìm hiểu đường đi nước bước cho chính họ, trong những ngày tiếp theo.
Bức tranh Sài Gòn Chợ Lớn lúc này, thiệt là bi thương xiết bao.

******

II.2. GÁNH NƯỚC NẶNG HƠN VÁC THÁNH GIÁ

Sài Gòn Khánh Hội gió trai lơ
khi ấy còn tơ gái núi về
đào kép cải lương say tứ chiếng
Ngã Tư Quốc Tế đứng xàng xê
gánh nước nặng hơn vác thánh giá
má đỏ hình như rượu mới nồng
em nhớ giăng mùng khi xế bóng
kéo đời đưa võng suốt hôn mê
Chương Dương sánh ánh trăng vàng võ
rọi thấu vào trong dạ não nùng
con cá lội qua Cầu Ông Lãnh
như chiếc ghe bầu khẳm héo hon
nước chia mấy ngả sao không thấy
mấy ngả phong trào thuở thiếu niên.

Tiếng thơ của Cao Đông Khánh là một tiếng thơ hết sức đặc biệt của văn học Việt Nam hải ngoại sau 1975. Đặc biệt, là vì tiếng thơ ấy dân dã, đặc biệt, là vì tiếng thơ ấy sử dụng ngôn ngữ hết sức đời thường, ngôn ngữ rất riêng, rất đặc thù của vùng đất phía Nam Việt Nam, mà vẫn ẩn chứa đậm sâu nỗi đau mất mát, và thân phận của con người sau biến cố lịch sử.

Ông luôn bày tỏ sự tiếc nuối, hoài niệm của mình về một vùng đất Sài Gòn nhiều nhân tài mà rất lãng mạn, rất nghệ sĩ tính; một vùng đất nhộn nhịp, rộn rã, cởi mở, phóng khoáng. Vùng đất dễ thương, vùng đất đáng yêu đến như vậy, mà phải gánh một nỗi đau quá lớn, nỗi đau của những mất mát và chia lìa, nỗi đau mất trắng chỉ sau một đêm, không sao tưởng tượng ra được. Người dân của vùng đất từng sung sướng và tự do một thời ấy, dè đâu, sau cuộc chiến tranh hai mươi năm, phải gánh nặng nỗi vất vả mưu sinh, đến mức, Chúa xưa kia vác thánh giá, có lẽ cũng không nặng, có lẽ cũng không mệt bằng họ. Những mơ màng, những dịu dàng của ngày hôm qua, giờ đây trở thành những hoang mang và chìm trong men say để cố quên những thương hải tang điền, những bể dâu nườm nượp, chẳng phút nào nguôi. : gánh nước nặng hơn vác thánh giá / má đỏ hình như rượu mới nồng / em nhớ giăng mùng khi xế bóng / kéo đời đưa võng suốt hôn mê: Sài Gòn Khánh Hội gió trai lơ / khi ấy còn tơ gái núi về / đào kép cải lương say tứ chiếng / Ngã Tư Quốc Tế đứng xàng xê.

Cuộc sống cứ thế, kéo lê trong nỗi bế tắc, lửng lơ, vô vị, trong nỗi cô đơn, trong nỗi đớn đau, trong những cơn gió xoay chiều đột ngột, khiến mọi thứ trong đời và mọi giá trị, đều rơi vào sự đảo lộn, thay đổi trật tự một cách trớ trêu, éo le, bi hài rất đỗi: em nhớ giăng mùng khi xế bóng / kéo đời đưa võng suốt hôn mê.

Bến Chương Dương giờ đây, ánh trăng sao mà vàng võ, yếu ớt, não nùng. Con cá lội qua cầu Ông Lãnh, sao mà giống hệt như chiếc ghe bầu sắp chìm nghỉm, vì phải chở khẳm những nỗi héo hon, tựa như những nỗi buồn, tựa như những nỗi nghèo khó, tựa như những nỗi khốn khổ của phận lưu vong. Sài Gòn như thời tuổi trẻ, như lý tưởng của nhiều thế hệ hôm qua, hôm nay, đang ngày mỗi một xa, đang ngày mỗi một phai mờ, trong nỗi tiếc nuối khôn nguôi của người Sài Gòn, giờ đây, nổi trôi tứ xứ: Chương Dương sánh ánh trăng vàng võ / rọi thấu vào trong dạ não nùng / con cá lội qua Cầu Ông Lãnh / như chiếc ghe bầu khẳm héo hon / nước chia mấy ngả sao không thấy / mấy ngả phong trào thuở thiếu niên.

******

II.3. THẤY TIẾNG CƯỜI TRONG MỘT GIẤC MÊ

Sài Gòn Gia Định em vô trước
qua ngõ Cầu Bông mới tủi thân
chiếc xe đò cũ hơn chùa miễu
chở hết vàng son tới ủ ê
đêm đêm rực tiếng côn trùng dậy
trống trải hồn ta đến thấu trời
xa lộ phía bên gà gáy tối
về lối Hàng Sanh có tiếng cười
anh lén ghé qua nhà kẽo kẹt
thấy tiếng cười trong một giấc mê.

Sài Gòn, Gia Định, Cầu Bông, những tên vùng ngày nao quen thuộc, như máu thịt, xương da, trong một sớm một chiều của đổi thay thời cuộc, bỗng trở thành những địa danh quá vãng: Sài Gòn Gia Định em vô trước / qua ngõ Cầu Bông mới tủi thân.

Chiếc xe đò cũ, dành cho người nghèo đô thị, nay còn cũ hơn nữa, cũ hơn cả chùa miễu đã từng có mấy trăm năm nay tại vùng đất phía Nam mới mẻ này. Nó cũ, như người Sài Gòn cũ, như vùng đất Sài Gòn cũ, cũ kỹ, tàn tạ, phế hoang. Chiếc xe đò ấy, nó đang chở hết vàng son, chở hết những quá khứ rực rỡ, hạnh phúc đi đến hiện tại, đi đến bãi rác của sự ủ ê, chán chường, buồn bã. Chiếc xe đò ấy, đi từ quá khứ tươi đẹp đến miền tương lai bế tắc: chiếc xe đò cũ hơn chùa miễu / chở hết vàng son tới ủ ê.

Nơi ủ ê ấy: đêm đêm rực tiếng côn trùng dậy / trống trải hồn ta đến thấu trời. Sự vắng lặng và trống trải, càng khiến người ta cảm ra sự cô đơn và rỗng tuếch trong tâm hồn của mình hơn.

Tiếng cười vui, giờ đây đã tắt hẳn. Mà nếu có, thì cũng chỉ là tiếng cười gượng, bởi vì tiếng cười thật của một thời kỳ vàng son rực rỡ ấy, giờ đây, may ra, chỉ có thể tìm lại trong quá khứ, hoặc tìm thấy trong những giấc mơ, những giấc mê, những giấc chiêm bao của phận người lưu vong, xa xứ: xa lộ phía bên gà gáy tối / về lối Hàng Sanh có tiếng cười / anh lén ghé qua nhà kẽo kẹt / thấy tiếng cười trong một giấc mê.

******

II.4. ỬNG CHÚT ĐỜI XƯA RẠNG CHỖ NGỒI

Sài Gòn Phú Nhuận nhớ không nổi
có ngã nào qua khám Chí Hòa
hỏi thăm quên mất tên thằng bạn
như lá trên rừng đang chuyển mưa
trận mây đồng phục nặng như thép
ửng chút đời xưa rạng chỗ ngồi
những người cách mặt gần như nhớ
những mặt trời xây xẩm trở về.

Giờ thì Sài Gòn, Phú Nhuận, khám Chí Hòa, cùng bạn bè, và cả những nỗi đau ly tán, đã trở nên không còn nhớ nổi, đã trở nên dần quên mất, sau khi đã trải qua không biết bao nhiêu là chấn thương từ những thất vọng, mệt mỏi, tù túng, nhục nhằn, nhọc nhằn, mất tự do, bấp bênh, bất an, hụt hẫng, hoang mang, ngột ngạt, kéo dài trong thời kỳ hậu chiến đầy u ám: Sài Gòn Phú Nhuận nhớ không nổi / có ngã nào qua khám Chí Hòa / hỏi thăm quên mất tên thằng bạn.

Hơn lúc nào hết, phận người trở nên nhỏ bé, chông chênh, mong manh, nên lúc nào họ cũng nơm nớp lo sợ, lo sợ rụng rơi trước những bão giông nghìn nghịt: như lá trên rừng đang chuyển mưa.

Sự đồng hóa, và những áp lực từ những hệ tư tưởng lạ lẫm sau cuộc chiến, đã đè nặng lên tâm trí họ. Điều này, càng làm họ trở nên tiếc nuối khôn nguôi về một quá khứ tươi đẹp và tự do của miền Nam trước đó: trận mây đồng phục nặng như thép / ửng chút đời xưa rạng chỗ ngồi.

Ly tán rồi, kẻ ở người đi rồi, nhưng tâm tưởng người Sài Gòn xưa, vẫn luôn hướng về nhau. Giờ đây, mỗi khi ký ức, kỷ niệm cũ tràn về, là lòng họ lại thêm những lần nghe đau nhói: những người cách mặt gần như nhớ / những mặt trời xây xẩm trở về.

******

II.5. NHỚ THƯƠNG CŨNG MỎI CÁNH CAO VÚT

Sài Gòn Chợ Lớn nhớ không tới
con gái Bàn Cờ qua Thủ Thiêm
chiếc phà chở hết tên thành phố
mỗi ngã tư trời đất mỗi nơi
nhớ thương cũng mỏi cánh cao vút
đáp xuống Cầu Ba Cẳng xả hơi
mọc thêm một cánh chân thời thế
con thú về Lục Tỉnh mất tiêu
nửa đêm em đổ mồ hôi trộm
như nụ cười che chở thịt da.

Nỗi nhớ về Sài Gòn Chợ Lớn sao mà lớn lao, sao mà mênh mông quá. Những Bàn Cờ, những Thủ Thiêm, những địa danh, mỗi ngày, mỗi trở nên, xa dần, không thể chạm vào, không thể với tới dễ dàng như xưa nữa: Sài Gòn Chợ Lớn nhớ không tới / con gái Bàn Cờ qua Thủ Thiêm / chiếc phà chở hết tên thành phố.

Nỗi nhớ lúc này, mất tiêu đâu không biết những nồng nàn, mà tâm trạng người nhớ, sao chỉ thấy toàn những mệt mỏi giữa những tàn tạ, những bế tắc, thậm chí, quái dị, tràn lan. Quê hương còn đó, mà bây giờ bỗng xa làm sao, mà bây giờ bỗng lạ làm sao: mỗi ngã tư trời đất mỗi nơi / nhớ thương cũng mỏi cánh cao vút / đáp xuống Cầu Ba Cẳng xả hơi / mọc thêm một cánh chân thời thế / con thú về Lục Tỉnh mất tiêu.

Ngày thì sợ hãi, mà đêm thì bất an. Cả thể xác lẫn tinh thần, lúc nào cũng nghe yếu ớt trong nỗi tuyệt vọng giữa hoang tàn, đổ nát: nửa đêm em đổ mồ hôi trộm / như nụ cười che chở thịt da.

******

II.6. TA VỚI MÌNH NHỨT DẠ ĐẾ VƯƠNG

Sài Gòn bước cho rõ tiếng guốc
nắng vàng vàng trên đá nứt mê tơi
như một mùa hoa nở cấp tốc
đưa đường tại hạ ghé qua chơi
hỏi thăm con bạn thời sinh tử
đã lánh mình qua miệt Chánh Hưng
cầu Chữ Y yêu kiều ba ngã
có ngã lui về để dưỡng quân
nồi lẩu lươn chua đêm nuốt khói
ta với mình nhứt dạ đế vương.

Bể dâu là như vậy, phải đành, nhưng hãy cố gắng nhé Sài Gòn, cố gắng mà sống, bản lãnh mà sống, vượt lên mọi nghịch cảnh mà sống: Sài Gòn bước cho rõ tiếng guốc / nắng vàng vàng trên đá nứt mê tơi.

Hãy cứ tận hưởng những phút giây bên Sài Gòn khi còn có thể. Bỗng dưng chỗ này, cách xưng hô của Cao Đông Khánh lại đậm chất Kim Dung, kiếm hiệp, vừa thể hiện được chất ngông nghênh vốn dĩ của nhà thơ, vừa rất vẻ phóng khoáng của một người lính và rất vẻ bất cần của một lãng tử giang hồ: như một mùa hoa nở cấp tốc / đưa đường tại hạ ghé qua chơi.

Cao Đông Khánh xót xa nhớ về những đồng đội, những chiến hữu, những bạn bè, một thời cùng vào sanh ra tử, nay đã ly tán, mỗi đứa một chốn tạm dung thân: hỏi thăm con bạn thời sinh tử / đã lánh mình qua miệt Chánh Hưng.

Sự lui về này, ẩn dật này, với Cao Đông Khánh, chỉ là tạm thời, chỉ là thời gian nghỉ ngơi, chớ không phải là buông xuôi, bỏ cuộc: cầu Chữ Y yêu kiều ba ngã / có ngã lui về để dưỡng quân.

Trong bóng tối tăm của thế cuộc, giữa những khói thuốc mù mịt của nỗi sầu đời, người Sài Gòn vẫn tìm thấy niềm vui trong sự thương yêu, đùm bọc. Chỉ cần có bạn, và có chút rượu, thêm con lươn nấu nồi lẩu chua trong đêm là đã đủ thấy mình thành đế vương rồi, là đã đủ thấy mình vua trị vì một cõi rồi. Hỏi, trong bi đát này, có được phút giây như thế, không đã đủ sướng rồi ư, không đã thấy mình rất giống “người” rồi ư: nồi lẩu lươn chua đêm nuốt khói / ta với mình nhứt dạ đế vương.
Buồn nhưng ngông nghênh, kiêu bạc. Buồn nhưng lãng tử, bất cần đời. Buồn, nhưng tiếng thơ của Cao Đông Khánh vẫn cuồng say và lộng lẫy.

******

II.7. ĐỂ VỀ KHUYA, PHƯỢNG MÚA CHUNG QUANH

Sài Gòn Chợ Lớn dưới mặt đất
ngõ hẻm đời sau rối địa hình
tiếng nói cất lên, ngoài tiếng nói
của đàn ông nói chuyện với rồng
tiếng hát cất lên, ngoài tiếng hát
để về khuya, phượng múa chung quanh.

Sài Gòn Chợ Lớn hôm nay, cảnh thì cũ nhưng người thì mới. Chúng trở nên rối ren, lung tung, bởi những đổi thay không ngừng của cơn giông tố. Những rối ren, thay đổi đến chóng mặt này, đã làm người Sài Gòn xưa, hoang mang biết bao, lạc lõng biết bao, và đau lòng biết bao: Sài Gòn Chợ Lớn dưới mặt đất / ngõ hẻm đời sau rối địa hình.

Những người đàn ông đích thực Sài Gòn xưa, quen lối nói chuyện với rồng, ngang tàng, khí phách, là những hảo hớn chánh gốc. Họ vốn là những người quen sống giữa trời tự do, tung hoành, phóng khoáng, và bất chấp. Họ là những người, không đầu hàng, không khuất phục: tiếng nói cất lên, ngoài tiếng nói / của đàn ông nói chuyện với rồng.

Những người quen nói chuyện với rồng ấy, đêm nay, họ không ngủ, đêm nay, họ thức thâu canh, và họ cất lên tiếng hát, tiếng hát dẫu rất buồn nhưng đẹp, tiếng hát hoài niệm về một thời vàng son rực rỡ của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông. Tiếng hát của loài rồng, cất lên, gọi mời loài phượng hoàng về đây cùng mở hội múa ca: tiếng hát cất lên, ngoài tiếng hát / để về khuya, phượng múa chung quanh.

Bài thơ phơi trải một khung cảnh Sài Gòn ngổn ngang, và tâm trạng của người Sài Gòn xưa, cũng ngổn ngang hệt thế. Cao Đông Khánh không mô tả Sài Gòn, mà ông chạm, ông khắc họa ra một Sài Gòn của trước và sau cuộc chiến tranh hai mươi năm: đầy ắp âm thanh, màu sắc; tàn tạ, đổ nát rồi, nhưng những tình tứ xưa thì vẫn còn nguyên vẹn. Giọng thơ là giọng tự sự, tự tình, đôi chỗ, nghe chừng như đang giữa cơn mê sảng, mê sảng vì quá đớn đau, mê sảng vì phải chịu nhiều tổn thương, phải chịu nhiều mất mát quá lớn trong cuộc thất tán, cuộc chia ly lịch sử.

Nhìn một cách tổng thể, thì giọng thơ Cao Đông Khánh là một giọng thơ rất hiền. Hiền và chân chất, mộc mạc, giản đơn, như bản chất người Sài Gòn, như bản chất người miền Nam trước 1975.

******

III. CHỞ HẾT VÀNG SON TỚI Ủ Ê

Có nhiều nguyên nhân khiến giới văn nghệ sĩ người Việt Nam tại hải ngoại rất yêu mến và thương tiếc Cao Đông Khánh, khi ông từ bỏ cuộc đời quá sớm. Thứ nhứt, các nhà thơ miền Nam, tính ra, chỉ có ông và Tô Thùy Yên. Ngặt một điều, Tô Thùy Yên, tuy người Nam nhưng chữ thơ ông dùng thì lại là của người Bắc. Người ta mê Tô Thùy Yên vì tài thơ nhưng lại khoái ông Cao Đông Khánh hơn vì ổng rặt Nam, trăm phần trăm người Nam, không chệch, không lai, không hao hụt, không mất mát đi đâu chút nào.

Thứ nữa, tánh tình Cao Đông Khánh xởi lởi, rộng rãi, hết lòng, chân tình. Ngay cả khi ông không còn giàu có như trước kia, thì cách đối xử với bạn bè của ông cũng đầy đặn, thành thực, không màu mè, không giả dối. Có thể, tánh cách ấy đã hình thành ngay từ lúc ông được sinh ra, kiểu như cái gen gia đình là thế. Mà cũng có thể, đó là tánh cách rất đặc trưng của người miền Nam, mai hết gạo hẳn hay, bữa nay bạn ghé nhà, có bao nhiêu chơi hết bấy nhiêu, không tính toán, không so đo, không cân nhắc.

Cuối cùng, cũng có thể, trong suốt hai mươi năm làm thơ, Cao Đông Khánh không thoát được vòng u uẩn, của những thảm kịch vượt biên, đem mạng sống con người ra cược với việc trốn chạy giữa đại dương, một sống, hai chết nên thơ ông luôn buồn, rất buồn. Nỗi buồn này, không phải chỉ của một người mà của rất, rất nhiều gia đình tại miền Nam trước 75. Hàng trăm ngàn người trong số gần hai triệu thuyền nhân tìm đường vượt thoát đã không bao giờ đến bến. Nên, thơ Cao Đông Khánh nhận được sự chia sẻ, cảm thương rất lớn nơi cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại sau biến cố 75, là như vậy.

Và, cũng có thể, do Cao Đông Khánh có một giọng đọc thơ rất đặc biệt, hơn cả hay, đó là một giọng thơ rất đỗi hiền lành, chơn chất đồng quê mà dễ thương chi lạ, lại rất buồn như những buổi chiều xa.

Những buổi chiều xa xứ. Những buổi chiều khi hồi tưởng về một Sài Gòn xưa, đã từng một thời trong lịch sử:

CHỞ HẾT VÀNG SON TỚI Ủ Ê

Sài Gòn 29.04.2026

Phạm Hiền Mây

________________


Đỗ Hứng gởi