Cuộc sống của Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư sau khi ngộ đạo như thế nào ?
Trong Phật giáo, các Thiền sư ngộ đạo sống như thế nào? Người bình thường rất tò mò về vấn đề này, luôn nghĩ rằng sau khi ngộ đạo, có thể lên trời xuống đất, thần thông tự tại, hô mưa gọi gió?
Thực tế, thần thông và ngộ đạo không giống nhau. Ngộ đạo giống như đột nhiên nhìn thấy ánh sáng từ trong bóng tối, đột nhiên nhìn thấy sự thật từ trong mê hoặc. Quá khứ là sai, hiện tại là đúng; quá khứ là phi, hiện tại là thị.
Vì vậy, người ngộ đạo, vào khoảnh khắc ngộ đó, thực sự là trời long đất lở, núi lay đất chuyển, không chỉ mê vọng trong quá khứ tan biến, bản thân hòa nhập vào hư không vũ trụ, mà hiện tại còn có một phong cảnh mới, là một thế giới chân thật vĩnh hằng khác.
Do đó, sau khi Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư ngộ đạo, cuộc sống của Ngài như thế nào? Nay dựa vào "Pháp Bảo Đàn Kinh", xin đưa ra sáu điểm để giải thích cảnh giới cuộc sống của Đại sư Huệ Năng sau khi ngộ đạo.
Bị sỉ nhục không cho là xấu hổ:
Khi Đại sư Huệ Năng từ Quảng Đông đến Hoàng Mai, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn vừa gặp Ngài đã nói một câu rất xúc phạm, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói "Người phương Nam là man di", tức là người chưa khai hóa, nhưng Đại sư Huệ Năng không cho đó là điều đáng xấu hổ. Ngài là người ngộ đạo, vì vậy có tu dưỡng như vậy.
Bị khinh miệt không cho là thấp hèn:
Đại sư Huệ Năng dưới trướng Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, làm việc xay bột, giã gạo trong xưởng xay, cái gọi là "đeo đá giã gạo", dù chân bị thương, vẫn cùng chúng làm việc, bất kể công việc có thấp hèn đến đâu, Ngài cũng không cho là thấp kém. Bởi vì trong thế giới của người ngộ đạo, công việc là thiêng liêng, phục vụ chúng sinh càng là trách nhiệm không thể chối từ.
Khó khăn không cho là khổ:
Theo "Lục Tổ Đàn Kinh" ghi chép, cuộc đời Đại sư Huệ Năng đầy rẫy gian nan khổ cực, khắp nơi bị kẻ ác truy đuổi, ma nạn trùng trùng, ngay cả khi ẩn cư trong đám thợ săn, sống chung với thợ săn, một khi ở là mười mấy năm, Ngài cũng không cho là khổ. Bởi vì, người ngộ đạo, khổ không là gì cả, điều bạn cho là thấp hèn, Ngài cho là rất tôn quý; điều bạn cho là đáng xấu hổ, đối với người ngộ đạo, những điều này không đủ để bận tâm trong lòng.
Ân sủng không cho là vinh quang:
"Bị sỉ nhục không cho là xấu hổ, ân sủng cũng không cho là vinh quang", trong hơn bảy mươi năm cuộc đời của Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư, nửa đời đầu của Ngài tuy đầy ma nạn, nhưng nửa đời sau lại được vinh sủng bội phần.
Ví dụ, Thái hậu Võ Tắc Thiên mời Ngài vào triều, ban cho Ngài cà sa, mời Ngài vào triều cúng dường, dùng vàng thêu cà sa, dùng vàng đúc bát để cúng dường Ngài, thậm chí cả nắp kinh giảng kinh, đều được kết bằng châu báu, ngọc trai, mỗi lần ban cho Ngài lụa, gấm vóc, đều là vài trăm tấm, thậm chí quốc gia còn xây dựng lại cố cư Tân Châu trước đây của Ngài, đổi thành Quốc Ân Tự, Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư cũng không cho là vinh sủng, bởi vì vinh sủng bên ngoài đối với Ngài không có gì đáng kể.
Bị bức hại không để ý:
Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư trong đời chịu vô số lần bức hại, riêng việc ám sát Ngài đã có ba lần, tuy mạng sống như chỉ mành treo chuông, nhưng Ngài "vì pháp quên thân", không để ý đến việc bị kẻ ác bức hại.
Độ chúng không cho là phiền:
Đại sư Huệ Năng cả đời thuyết pháp, truyền pháp, Ngài có nhiệt huyết vô bờ bến đối với chân lý, chưa bao giờ biết thế nào là nản lòng.
Vì vậy, một người ngộ đạo, bản thân Ngài đối với chúng sinh, đối với chân lý cảm thấy có một trách nhiệm; người ngộ đạo, Ngài cảm thấy mình có sức mạnh để gánh vác; người ngộ đạo, không những không cầu Phật Bồ Tát tiêu tai, tăng phúc, thậm chí còn cầu Bồ Tát gánh vác tất cả khổ nạn của chúng sinh. Tại sao? Người có niềm tin thì có sức mạnh, người ngộ đạo, đông tây nam bắc đều là tịnh độ an lạc.
Đại sư Tinh Vân
__________________
Hoang Nguyen gởi
.jpg)