CƯU MA LA THẬP - VỊ THÁNH TĂNG NUỐT KIM VÀ BẢN KINH A DI ĐÀ BẤT DIỆT
Kính thưa đại chúng! Trong pháp môn Tịnh Độ chúng ta đang tu, mỗi ngày chúng ta đều chí thành tụng Kinh A Di Đà. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi, để có được bản Kinh tiếng Hán hay, để có được 1.858 chữ đi thẳng vào lòng người như vậy, đã có một vị Thánh Tăng phải chịu 17 năm tù đày nơi đất khách, bị ép phá giới, phải nuốt kim để chứng minh, và để lại chiếc lưỡi xá lợi bất hoại cho muôn đời sau làm tin. Vị đó chính là ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva).
Ngài Cưu Ma La Thập sinh năm 344 tại nước Quy Tư (Kucha - thuộc Tân Cương ngày nay) mất năm 413 là một dịch giả Phật học nổi tiếng chuyên dịch kinh sách từ tiếng Phạn ra tiếng Hán.
Cha của ngài là Cưu Ma La Viêm, vốn là Quốc Sư nước Kế Tân (Kashmir), mẹ là công chúa tên là Kỳ Bà, em gái của vua nước Quy Tư.
Sử ghi lại khi mẹ mang thai Ngài thì bỗng nhiên trí tuệ khai mở, một ngày có thể tụng thuộc 32.000 lời Kinh, các vị A La Hán đều nói bà sẽ sanh ra một bậc đại trí tuệ.
Năm 7 tuổi Ngài xuất gia làm Sa Di, một ngày tụng thuộc 1000 bài kệ. Năm 9 tuổi đã theo mẹ sang Thiên Trúc nước Kế Tần (Tây Bắc Ấn Độ) để tầm sư học đạo.
Trên đường về, một vị A La Hán đã nhìn thấy Ngài và nói với mẹ Ngài rằng:
"Sa Di này nếu đến năm 35 tuổi mà giới hạnh không khuyết, hoằng dương Đại Thừa, thì sẽ độ vô lượng chúng sanh như Tổ Ưu Ba Cúc Đa. Ngược lại thì chỉ là một vị pháp sư tài giỏi mà thôi."
Lời huyền ký ấy đã trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời tu hành giữ giới của Ngài sau này.
Năm 382, vua Phù Kiên nước Tiền Tần (Trung Quốc) nghe danh Ngài, đã sai đại tướng Lữ Quang đem 7 vạn quân Tây chinh. Cái lạ ở cuộc chiến tranh này là không chiếm đất mà là với mục đích duy nhất để rước Ngài Cưu La La Thập về.
Nhưng trên đường về, Tiền Tần mất nước, Lữ Quang tự lập mình lên làm vua Hậu Lương và giam Ngài ở Lương Châu suốt 17 năm (385-402).
Chính trong 17 năm bị coi như tù nhân ấy, Ngài đã âm thầm học thông thạo tiếng Hán, cả phong tục Hán tạng để chuẩn bị cho một sự nghiệp phiên dịch vĩ đại mà không ai ngờ tới. Nghịch cảnh ấy đã tôi luyện thêm đạo hạnh của ngài, dường như bề trên chư Phật sắp xếp cho Ngài.
Trong thời gian này, Lữ Quang tánh thô lỗ hung tàn, đã cưỡng ép Ngài uống rượu, ép lấy mỹ nữ, ép cưỡi ngựa điên, trâu điên, nhưng Ngài vẫn giữ giới thanh tịnh. Ngài còn dùng thần thông tiên đoán lũ lụt cứu hàng ngàn binh sĩ, khiến Lữ Quang từ khinh nhờn chuyển sang kính phục.
Năm 401, vua Diêu Hưng nước Hậu Tần, một vị vua chí thành mộ Phật, đã đem quân đánh tan Hậu Lương và thỉnh Ngài về Trường An. Vua xây đạo tràng Tiêu Dao Viên, tập hợp 800 vị Tăng tài giỏi nhất, 3000 người nghe giảng, để Ngài dịch Kinh.
Khi về đến Trường An, vua Diêu Hưng vì quá kính trọng trí tuệ của Ngài, muốn lưu lại dòng giống trí tuệ nên đã tuyển 10 cung nữ ép Ngài phải thọ nhận. Vì đại cục hoằng pháp, Ngài đành chấp nhận, dọn ra ở riêng.
Để ngăn các Tăng trẻ bắt chước, Ngài đã triệu tập đại chúng 3000 người, trước mặt mọi người, Ngài bưng một bát đầy kim nhọn và nuốt trọn, rồi dõng dạc nói:
"Ai nuốt được kim như ta, thì hãy bắt chước ta lấy vợ. Ai không nuốt được, thì phải giữ giới thanh tịnh."
Không một ai dám thử. Đó là tâm đại từ bi, thà tự mình mang tiếng, để giữ gìn giới luật cho muôn đời sau.
Trước khi viên tịch năm 413 tại Trường An, Ngài phát thệ nguyện chấn động tam thiên đại thiên thế giới:
"Ta một đời dịch hơn 300 quyển Kinh, Luật, Luận. Nếu những gì ta dịch không sai ý Phật, thì khi trà tỳ, xin cho chiếc lưỡi của ta còn nguyên."
Khi hỏa táng, toàn thân Ngài đều tan thành tro, chỉ có chiếc lưỡi vẫn còn nguyên vẹn, màu đỏ tươi như hoa sen. Xá lợi lưỡi ấy hiện nay vẫn còn được thờ tại chùa Thảo Đường, Trường An, Thiểm Tây. Nếu không phải là Bồ Tát tái lai, là Thánh Tăng thì làm sao có được sự cảm ứng vi diệu như vậy?
Còn bản kinh A Di Đà Ngài Huyền Trang sau này dịch theo lối dịch từng chữ, rất chính xác nhưng khô khan. Còn Ngài La Thập dịch theo lối ý dịch, bỏ hẳn lối dịch "Cách Nghĩa" gán ghép Phật giáo với Lão Trang cũ kỹ trước đó. Chính vì vậy văn của Ngài dịch rất mượt mà, trôi chảy, đi thẳng vào lòng người.
Khi các nhà khảo cổ đối chiếu bản kinh dịch của ngài Cưu Ma La Thập với bản Phạn cổ tìm được ở Nepal, thì thấy hoàn toàn khớp nhau. Ngài chỉ dùng văn phong gọn gàng, súc tích hơn.
Nếu bản dịch của Ngài là sai, thì tại sao suốt 1600 năm qua, từ Ngài Huệ Viễn, Ngài Thiện Đạo, Ngài Ngẫu Ích, cho đến 13 vị Tổ Tịnh Độ và các Tổ Việt Nam chúng ta, đều y cứ vào bản dịch này để tu hành và đều được vãng sanh, để lại xá lợi rực rỡ?
Chính chiếc lưỡi xá lợi bất hoại của Ngài là bằng chứng hùng hồn nhất. Mười phương chư Phật đã ấn chứng cho bản Kinh A Di Đà là CHÂN THẬT NGỮ!
Kính thưa đại chúng, cho nên hôm nay khi chúng ta cầm quyển Kinh A Di Đà trên tay, xin hãy nhớ rằng, đó không chỉ là một quyển Kinh. Đó là máu, là nước mắt, là 17 năm tù đày, là sự hy sinh phạm hạnh, và là chiếc lưỡi xá lợi của một vị Thánh Tăng đã đánh đổi để mang về cho chúng ta.
Chúng ta phải có niềm tin tuyệt đối vào Pháp môn Niệm Phật. Đó chính là con đường duy nhất để thoát khỏi lưới ma ngũ dục, ái tình, tiền tài, danh vọng trong thời Mạt Pháp này, đúng như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật đã dạy.
____________________
Hoang Nguyen gởi