Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh

 
ĐI VÀO TỊCH TĨNH

(Tưởng nhớ ngày Hòa Thượng Tuyên Hóa nhập Niết-bàn 7/6/1995) 

Vào ngày 4 tháng 12 năm 1994, khi Hòa Thượng được đưa vào bệnh viện vì kiệt sức, Ngài nói:

> “Tôi muốn nói với quý vị những gì cần làm sau khi tôi ra đi. Tất cả quý vị nên chuẩn bị tâm lý để lo hậu sự. Tôi có thể ra đi bất cứ lúc nào. Không có gì là cố định cả. Mọi người đều có lúc đến và có lúc đi. Đừng buồn. Cứ hành xử giống như quý vị hành xử lúc bình thường.”

Sau nhiều lần thỉnh cầu của bốn chúng đệ tử, Hòa Thượng trụ thế thêm sáu tháng nữa. Khi Hòa Thượng đã chịu đựng sự đau đớn đến tột cùng vì mang nghiệp của chúng sanh (1), Ngài nói:

> “Tôi sẽ không tự giúp mình dầu chỉ nhấc ngón tay trong khi tôi nằm trên giường này.

Tôi bây giờ như hai con người. Một người thì vẫn đi đó đây cứu độ chúng sanh. Còn một người ở đây, tôi không để ý. Tôi sẽ không tự giúp mình.”

Ôi, thật là sự bạc phước của chúng sanh! Hòa Thượng đi vào tịch tĩnh lúc 3 giờ 15 phút ngày 7 tháng 6 năm 1995 (nhằm ngày 10 tháng 5 năm Ất Hợi). Vị Tổ sư thứ chín của dòng Thiền Quy Ngưỡng đã nhập Niết-bàn, và vị kế thừa Lão Hòa Thượng Hư Vân đã trở thành một phần của lịch sử.

Có người tự hỏi tại sao là người có những thành tựu cao tột như vậy mà Hòa Thượng lại thị hiện tướng lâm trọng bệnh trước khi ra đi. Thật ra, câu trả lời rất đơn giản. Tất cả những Đại sư nổi bật qua nhiều thế hệ đều có những lý do riêng khi hiện tướng nhân duyên nào đó trước lúc vãng sanh. Theo Lục Tổ Đàn Kinh, khi Lục Tổ Huệ Năng còn tại thế, đã có những người muốn sát hại Ngài; sau khi Ngài viên tịch, lại có người muốn chặt đầu Ngài để mang về nhà thờ cúng. Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, Ngài bị đầu độc và ám hại sáu lần. Tổ Ấn Độ thứ hai mươi bốn là Tôn giả Sư Tử thì bị chém đầu do lệnh của triều đình.

Trước khi Đại sư Huyền Trang mất, Ngài bị trượt chân và té ngã, sau đó lâm bệnh phải nằm lâu ngày trên giường. Ngài nói:

> "Tất cả những phiền não hữu tình và ác nghiệp của tôi từ vô thủy đến nay, đều nhờ đức của cơn bệnh nhẹ này mà tất cả đã tiêu trừ. Do đó tôi nên vui mừng."

Thầy của Ngài [Huyền Trang], tức là Luận sư Giới Hiền, bị bệnh nặng vào lúc tuổi già và bị cơn bệnh hành hạ đau đớn đến nỗi muốn tự tử. Sau đó, Bồ Tát Quán Âm hiện đến trong giấc mơ của Ngài và khuyên bảo:

> "Con trước kia từng là một vị quốc vương gây nhiều khốn khổ cho chúng sanh, cho nên nay phải chịu quả báo này. Hãy thành tâm sám hối, kiên nhẫn chịu đựng đau khổ và tinh tấn xiển dương Kinh Luận, thì nghiệp chướng của con sẽ tự nhiên được tiêu trừ."

Trước khi Hòa Thượng viên tịch, Ngài có làm bài thơ về bệnh trạng của mình như sau:

> Tàn hơi khó sống ngày còn lại,

Triền miên trong nỗi khổ bệnh, già.

Ngày ăn uống như dùng độc dược,

Đêm nằm giường bệnh như trùng cứng,

Trong mộng lại gặp quỷ vô thường,

Tỉnh giấc khó tìm thần cứu mạng.

Biết chăng mạng người một hơi thở?

Mau quay về chốn Cực Lạc thanh tịnh. (2)

Cho đến lúc nhập diệt vào ngày 7 tháng 6 năm 1995, bệnh tình của Hòa Thượng không có dấu hiệu thuyên giảm, cũng không có những điềm lành hay phép lạ xảy ra. Bằng cách đó, không để lại dấu vết, Ngài vì chúng sanh mà chuyển Pháp nhân duyên — thành, trụ, hoại, không và sanh, lão, bệnh, tử. Suốt cuộc đời Ngài, Hòa Thượng đã chữa lành bệnh cho vô số chúng sanh, nhưng lại không quan tâm đến bệnh tình của mình. Ngài chọn cách ra đi đau đớn nhất: chết vì bệnh.

Chúng ta biết rằng Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất có thần thông quảng đại và đã cứu độ vô số chúng sanh. Ảnh hưởng của Ngài lan rộng khắp nước. Ngài có 84 đại đệ tử và đều là những bậc đại thiện tri thức, và bản thân Ngài thường luôn đau ốm. Nghĩ đến tinh thần Bồ Tát của những bậc cao tăng này, chúng ta không khỏi phát lời tán thán vô tận!

Và còn có Lão Hòa Thượng Hư Vân, Thái Đẩu trong Thiền Tông, thọ đến 120 tuổi. Cuộc đời Ngài trải qua mười nạn, bốn mươi tám biến cố hiếm có và vô số điều kỳ diệu. Thậm chí khi Ngài đã 112 tuổi, Ngài còn bị đệ tử “bán đứng”, bị cướp và bị Cộng sản tra tấn rất dã man. Ngài chết đi sống lại nhiều lần sau khi bị đánh đập bằng chùy sắt đến chảy máu và xương gân đều gãy đứt.

Đại sư Hám Sơn Tử Bá, người đã để lại nhục thân bất hoại, cũng đã chịu sự tra tấn tàn bạo và chết vì cục bướu trên lưng.

Hòa Thượng Quảng Khâm, một vị cao tăng trong thời đại của Hòa Thượng, cũng thị hiện có bệnh và viên tịch vào năm 1986; và một vị Pháp sư tại chùa của Ngài đã kể lại:

> "Hòa Thượng nói rằng Ngài sẽ thị hiện có bệnh lúc mất bởi vì thế giới Ta Bà có quá nhiều đau khổ! Làm sao Ngài có thể chịu phí thì giờ được?"

Hòa Thượng Quảng Khâm nói rất đúng. Thế giới Ta Bà có quá nhiều đau khổ, làm sao Ngài có thể phí thì giờ ở nơi này được?

Có lần có người thỉnh vấn Hòa Thượng Quảng Khâm rằng:

> "Nếu có người có sự chứng đắc rất cao trong việc tu hành, nhưng lại chết vì bệnh tật hoặc tai nạn, đó phải chăng là do định nghiệp của người đó khó có thể chuyển đổi được?"

Hòa Thượng Quảng Khâm trả lời:

> "Quý vị có thể nói rằng định nghiệp của người đó khó chuyển đổi, nhưng quý vị cũng có thể thấy rằng đó là người đó đang trả nghiệp.

Chỉ những người có tu hành mới gặp những khổ nạn, trắc trở. Đúng ra đây chính là công đức tu hành của người đó đã giúp giải quyết mọi việc trong một lần này."

Có vài câu thơ trong di ngôn của Hòa Thượng mà tôi cảm thấy rất thâm thúy và đậm đà Thiền vị, tôi xin ghi lại dưới đây:

> Lão tăng nhàn nhã đến, không có việc gì làm.

Chơi trốn tìm và nằm trên giường bệnh.

Xem sự hiện hữu, quán lý không: không mà chẳng không.

Chẩn bệnh, hỏi nguồn cơn: nguồn mà chẳng phải nguồn.

Những câu thơ này giải thích rõ ràng về hiện tượng mắc bệnh của Hòa Thượng. Như tôi đã nói trước đây, tất cả chư Tổ và các bậc Đại sư, cao tăng đại đức đều có nhân duyên giáo hóa chúng sanh trong cõi Ta Bà. Chúng ta nên đánh giá thành tựu của một người bằng cách xem xét sự thực hành Bồ Tát đạo suốt đời, sự từ bi cứu độ chúng sanh và sự cống hiến cho Phật giáo của người đó. Chúng ta không nên phán xét một người chỉ dựa vào phép lạ hay điềm lành.

Sau Lễ Trà Tỳ của Hòa Thượng, hơn mười ngàn mẩu xá lợi được tìm thấy (có cả xá lợi hoa và mười hai xá lợi răng), có đủ màu sắc, gồm trắng, nâu, xanh lá cây, xanh da trời, đen và tím. Có nhiều xá lợi kết tủa thành hình trên xương, lóng lánh như ngọc thạch, rất hiếm thấy. Điều này chứng tỏ rằng công đức của Hòa Thượng từ việc thuyết pháp kinh điển hơn mười ngàn lần và suốt đời không bao giờ nói dối, quả thật là không thể nghĩ bàn vậy!

---

✿ Chú thích:

(1) Trong bộ sách "In Memory of The Venerable Master Hua" có nhiều câu chuyện của các đệ tử của Ngài kể về nguyện thứ 12 của Ngài:

"Nguyện rằng một mình con sẽ nhận chịu hết tất cả khổ nạn của chúng sinh trong toàn Pháp Giới."

Trong bài viết: "Làm Thế Nào Hòa Thượng Có Thể Độ Được Người Tây Phương?" của Sư Cô Hằng Lương có đoạn đề cập:

(Tạm dịch):

"... Tôi nhớ một lần nọ tại Vạn Phật Thánh Thành, có một Tỳ-kheo-ni phạm lỗi lầm và phạm giới. Cô được Hòa Thượng dạy, giống như Ngài đã dạy tất cả chúng ta, là thú nhận lỗi lầm và sám hối sửa đổi. Cô quỳ trong Phật điện giữa đại chúng và đối diện Hòa Thượng, cô sám hối. Sau đó, Hòa Thượng ngồi trên ghế cao nhìn xuống cô và nghiêm khắc nói: "Những gì con đã làm sẽ làm cho con đọa địa ngục." Bởi vì vị Tỳ-kheo-ni này rất tin Hòa Thượng nên cô rất sợ hãi. Cô hỏi: "Con có thể làm gì để tự cứu mình?" Hòa Thượng trả lời với nụ cười rộng nở trên gương mặt: "Ta có một cách cứu con. Ta có thể tự mình xuống địa ngục thế con và chịu quả báo cho con." Cô dĩ nhiên không chấp nhận điều đó, nhưng Hòa Thượng đã nói là Ngài sẽ làm chuyện đó.

Một lần khác, một vị Tỳ-kheo-ni khác kể với tôi rằng một tối nọ cô bị bệnh rất nặng và ói mửa hoài không ngừng lại được. Cô rất tin tưởng vào Hòa Thượng, do đó cô lễ lạy trước bức hình của Ngài và cầu nguyện Hòa Thượng ban phước và lấy đi sự đau khổ của cô. Sau đó, đột nhiên cô thấy khỏe, và tối đó cô nghỉ ngơi rất dễ chịu. Sáng hôm sau, cô đến buổi lễ quy y lúc đó Hòa Thượng đang truyền Tam Quy Ngũ Giới. Sau khi truyền Tam Quy xong, Ngài quay về phía người Tỳ-kheo-ni đó và nói: "Sáng nay thật là khó khăn cho tôi. Vì tối hôm qua tôi đột nhiên bệnh nặng và ói mửa suốt đêm, do đó hôm nay tôi không có sức." Vị Tỳ-kheo-ni đó biết rất rõ ràng rằng Hòa Thượng đã gánh lấy sự đau khổ của cô.

Nhiều người tự hỏi rằng làm thế nào mà Hòa Thượng lại bệnh như vậy và tại sao Ngài lại rời bỏ chúng ta qua hình thức như vậy. Nhưng nhiều người trong chúng ta đã ở gần Ngài nhiều năm và chúng ta biết rằng chúng ta cần báo đáp ân từ bi bao la của Ngài. Và cách duy nhất để báo đáp là cố gắng tu hành hết sức mình."

("How Buddhism Changed My Life!", trang 18).

---

(2) Bài thơ dùng thân thuyết pháp nhắc lẽ vô thường và khuyên quy hướng Tịnh độ này được Hòa Thượng đề cập trong chuyến hoằng pháp tại Đài Loan vào tháng 1 năm 1993, được ghi chép lại:

(Tạm dịch):

"Bây giờ tôi muốn chia sẻ vài điều về bệnh tình của tôi mấy lúc gần đây. Nếu quý vị muốn ghi chép thì tôi sẽ nói chậm rãi. Quý vị có thể viết xuống và có thể nghiên cứu sau này. Bài này có tám câu, nhưng không thể xem là thơ chính thức. Có thể xem như là những câu văn xuôi bạch thoại.

Câu đầu nói:

- Tàn hơi khó sống ngày còn lại (Cẩu diên tàn suyễn độ dư sanh). Khi hơi thở này đi ra, không chắc sẽ có hơi thở kế tiếp vào lại.

- Triền miên trong nỗi khổ bệnh già (Lão bệnh triền miên thống khổ trung). Tôi không phải muốn quý vị thương hại tôi. Không phải tôi nói là tôi bây giờ quá già, tất cả quý vị nên thương hại tôi – kẻ ngu si này. Các triệu chứng của tuổi già và bệnh tật không phải mới đến trong một ngày hay một đêm mà đã phát triển dần dần, từ lúc tôi mới sanh ra. Bây giờ chân tôi không còn linh hoạt, tay nhức, lưng đau, mắt mờ, tai lãng và răng thì lung lay. Khi bị như vậy thì thật đau khổ, không được tự do.

- Ngày ăn uống như dùng độc dược (Nhật tiến ẩm thực như phục độc). Khi đến giờ ăn, tôi không thấy thích ăn. Dầu thức ăn ngon đến đâu, khi tôi vừa nếm thì không muốn ăn nữa, cảm thấy như dùng độc dược vậy.

- Đêm nằm giường bệnh như trùng cứng (Dạ túc bệnh tháp tái cương trùng). Khi quý vị nghe câu này, quý vị không thấy buồn cười sao? Tôi nằm trên giường bệnh, chỉ như con trùng đã chết cứng, giống y hệt như vậy.

- Trong mộng lại gặp quỷ vô thường (Mộng trung lũ phùng vô thường quỷ). Quý vị có biết các con quỷ vô thường là ai không? Tôi thường gặp chúng trong giấc mơ, nhưng chúng chưa bắt tôi đi. Mỗi khi chúng muốn bắt tôi thì có một vị Bồ Tát đến và nói với chúng rằng: "Chưa tới lúc! Không nên bắt ông ta vội, ông ta đang làm việc vì chúng sanh và ông ta chưa làm xong công việc đó." Vừa nghe như vậy, chúng liền thả tôi ra. Chúng chỉ đến trong giấc mơ để bắt tôi, và tôi đã thấy chúng nhiều lần chứ không phải chỉ một lần. Nhưng tôi cũng thấy chư Phật và chư Bồ Tát đến rất nhiều lần. Khi các con quỷ vô thường thấy chư Phật và chư Bồ Tát bảo vệ tôi, thì chúng nhìn quanh, đảnh lễ và rút lui. Tôi không biết tại sao chúng lại đảnh lễ tôi.

- Tỉnh giấc khó tìm thần cứu mạng (Tỉnh lai nan tầm cứu mạng thần). Khi tôi thức dậy, khó tìm thấy một vị thần tiên nào có thể cứu tôi. Ai có thể cứu tôi? Tôi vẫn tự mình phấn đấu và chiến đấu với các quỷ vương trong lúc bệnh.



Tôi nói thật với quý vị, lần này tôi đến Đài Loan, các quỷ vương đều đợi tôi, sẵn sàng khiêu chiến với tôi. Nếu tôi không có lực lượng, tôi sẽ không dám đến Đài Loan. Ở đây có rất nhiều quỷ vương. Tất cả những quỷ vương đều tìm cách ngăn cản, không cho tôi đến Đài Loan. Tôi nói ra điều này cho dầu quý vị có quan tâm lắng nghe hay không, vì tôi đã đến Đài Loan rồi, tôi có thể sẽ tùy theo hoàn cảnh. Tôi không sợ bất cứ kẻ khiêu chiến nào.

Những con cháu quỷ vương này là ai? Là những Phật tử trong thời mạt pháp.

........

- Biết chăng mạng người một hơi thở? (Nhân mạng hô hấp hoàn tri phủ?) Sanh mạng chỉ trong một hơi thở, quý vị có biết điều đó không? Hãy nhanh lên chuẩn bị hành trang, và...

- Mau quay về chốn Cực Lạc thanh tịnh (Tốc phản thanh tịnh Cực Lạc thành). Hãy mau học niệm Phật và cầu sanh về Tịnh Độ. Đó là nơi thanh tịnh nhất, không bận rộn như ở đây. Hương thơm của hoa và tiếng chim hót hoàn toàn khác biệt với thế giới của chúng ta. Do đó: "Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng Mạng. Những thứ chim này, ngày đêm sáu thời, hót lên tiếng hòa nhã, tiếng ấy diễn xướng năm căn, năm lực, bảy Bồ-đề phần, tám thánh đạo phần."

Đức Phật sau đó nói với Xá Lợi Phất rằng đừng nghĩ những chim này là súc sanh. Phật A Di Đà tạo nên chúng bằng hóa thân để rộng tuyên Pháp âm. Chúng là chim thần, không giống như chim trong thế giới chúng ta. Những chim này có thể sống mà không cần ăn. Chúng không uống mà không khát nước. Chúng không ăn mà không cảm thấy đói. Trong khi chim thường thì sẽ nuốt chửng bất cứ sâu bọ nào mà chúng thấy, chúng lấy đi sanh mạng của sinh vật khác. Chim tại cõi Cực Lạc thì không giết hại, và người ở đó cũng vậy. Do đó Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán cõi Cực Lạc là nơi mà chúng sanh được thoát khỏi mọi khổ não và chỉ hưởng mọi điều vui. Bởi vì Phật Thích Ca không nói dối, chúng ta nên có lòng tin sâu chắc và đừng có chút hoài nghi nào về Thế Giới Cực Lạc."

("Talks on Dharma during the 1993 Trip to Taiwan", trang 115 - 141).

---

Sưu tầm.
 
__________________


Hoang Nguyen gởi