ĐỊNH NGHIỆP BI THẢM CỦA DÒNG HỌ SAKYA
Câu chuyện sau đây là một đoạn lịch sử kéo dài đến mấy mươi năm, gắn với một sự kiện quan trọng trong cuộc đời Đức Phật, đó là cái chết của cả dòng họ Sakya.
Ngày xưa ở Ấn Độ, vương quốc Sakya với kinh đô Ca Tỳ La Vệ là nơi dòng tộc Sakya (Thích Ca) cư trú và lãnh đạo. Dòng dõi này có màu da trắng, rất đặc biệt. Nếu ai có cơ hội sang thăm Ấn Độ, ta sẽ bắt gặp những người Ấn có nước da ngăm đen, thậm chí là rất đen. Đi dần về phía Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia... người dân có trắng hơn một chút, nhưng nhìn chung người dân tại Thái Lan, Miến Điện vẫn có làn da hơi ngăm ngăm đen, đến Ấn Độ thì đen hơn, còn qua đến châu Phi thì đen tuyền luôn. Vậy mà dòng họ Sakya lại có điểm đặc biệt là làn da trắng sáng, có lẽ tổ tiên họ là những người di cư từ phương Bắc, hay Âu châu xuống. Và khi một tộc người da trắng sống giữa một đại lục da đen thì họ sẽ có tư tưởng gì? Phân biệt đẳng cấp, họ sẽ tự nhiên cho rằng chủng tộc của mình là cao quý. Với họ, dù là người địa vị cao quý ở các cường quốc chung quanh nhưng so với họ cũng chỉ là hạ đẳng mà thôi.
Thời điểm đó, thế lực của dòng họ Sakya không lớn, do đất nước nhỏ bé, dân số cũng không nhiều. Ở bên cạnh vương quốc Kosala hùng mạnh, họ thường bị lấn chiếm vùng đất biên giới, nhưng do đánh không lại nên vương quốc Sakya đành chịu lánh dần về phía đông, nhường hết phần lãnh thổ phía Tây lại cho Kosala. Vì lý do này mà trong tâm của dòng họ Sakya luôn nuôi niềm oán ghét với người Kosala. Thứ nhất vì Kosala là giống dân da đen không bằng mình, thứ hai là nước Kosala đã tranh giành lãnh thổ của mình mà mình cứ phải nhịn nhục. Hai lý do này khiến dòng họ Sakya ôm mối thù ngấm ngầm qua nhiều đời.
Thời Phật tại thế, vùng trung tâm của Ấn Độ có một địa danh là Hoa Thị Thành (Pātaliputta) được một vị cao nhân chọn làm nơi mở trường dạy học. Trong vài sử liệu còn ghi lại rằng, thuở đó Hoa Thị Thành có trường đại học nổi tiếng thu hút nhiều vương tôn công tử về học, việc giảng dạy được tổ chức rất kỹ lưỡng, không chỉ dạy văn võ mà còn huấn luyện rất nhiều kỹ năng, nghiệp vụ để sau này làm vương làm tướng, trị quốc an dân.
Vua Mahà Kosala của vương quốc Kosala có một thái tử tên Pasenadi (về sau được vua cha truyền ngôi và chúng ta quen gọi là vua Ba Tư Nặc). Khi còn trẻ, giống như nhiều vị hoàng tử khác, thái tử Pasenadi cũng được vua cha cho đi học để sau này đủ bản lĩnh trị vì vương quốc. Vừa đến Hoa Thị Thành, Pasenadi đã gặp hai hoàng tử đến từ hai xứ khác là hoàng tử Mahàli của xứ Kusinagar (Câu Thi Na - Nơi mà sau này Đức Phật sẽ về đó nhập niết bàn) và hoàng tử Bandhuala của xứ Mallas (ở phía nam của đất nước Sakya). Khi biết vai vế cùng là hoàng thân quốc thích, cùng muốn tìm vị cao nhân để xin học nên họ nhanh chóng kết thân với nhau. Sau khi thành tài, ba người quay trở về quê hương và thề sẽ giữ mãi tình bạn này.
Vì cùng học, cùng đánh võ, cùng làm những bài toán, cùng giải những bài tập về trị quốc an dân, cùng lên các chiến lược, chiến thuật... nên họ biết tài nghệ của nhau. Mỗi người có một sở trường riêng, hai người kia đều biết rõ.
Khi Pasenadi trở về đất nước của mình, vua cha Maha Kosala yêu cầu: “Con hãy cho cha biết con đã học được những gì?”. Pasenadi lưu loát thuyết trình về việc quản lý một đất nước như thế nào cho vững chắc hùng mạnh, cai quản các quan tướng sao cho không ai dám tạo phản... khiến vua cha rất hài lòng. Về võ công, Pasenadi rút gươm ra múa một bài rồi phi thân từ ngọn đồi này qua ngọn đồi kia làm vua cha kinh ngạc. Pasenadi đã chứng minh cho vua cha thấy sau bao năm miệt mài học tập mình đã thành con người khác - rất đỗi phi thường. Thế là Pasenadi (Ba Tư Nặc) được trao ngôi vua, trị vì vương quốc Kosala hùng mạnh. Vua Ba Tư Nặc có điểm đặc biệt là sinh cùng năm và mất cùng năm với Đức Phật.
Còn Mahàli sau khi trở về đã đem sở học của mình dạy lại cho các hoàng thân trong hoàng cung, ông dạy nhiều môn gồm võ thuật, cách trị vì đất nước, cách làm kinh tế... Do quá tận tụy với việc chỉ dạy cho các hoàng tử nên đôi mắt ông dần bị lòa, dù vậy tài nghệ vẫn rất đặc biệt nên các hoàng thân quốc thích nể phục, tôn Mahàli như một vị thầy khả kính.
Bandhuala là người đặc biệt nhất trong ba hoàng tử. Ông là người siêu đẳng về võ công, rất giỏi điều binh khiển tướng, chiến thuật, chiến lược, đặc biệt ông có sức mạnh phi thường, đã ra đòn thì không ai đỡ nổi. Vào thời đó Bandhuala gần như bách chiến bách thắng. Lúc đó các hoàng tử khác của xứ Mallas khởi tâm đố kỵ, sợ rằng với tài năng đặc biệt như thế, Bandhuala sẽ được truyền ngôi nên họ ngấm ngầm tìm cách phá. Một lần Bandhuala đem tài nghệ võ công của mình ra biểu diễn, ông nói rằng một nhát gươm của mình có thể chặt được một bó tre dai (thân cây tre rất khó chặt một nhát cho đứt hẳn, mà lại là tre dai thì càng khó hơn). Bandhuala cho buộc những bó tre lên ngọn cây cao, ông sẽ phi thân từ dưới đất lên chém hết các bó tre ấy, đến khi chân chạm đất thì những bó tre cũng lần lượt rơi theo. Tức là ông không cần phi thân nhiều lần mà chỉ trong một lần bay lên, nhào lộn rồi rơi xuống đã phải chặt thật nhanh sao cho tất cả các bó tre đều rơi xuống cả.
Các hoàng thân quốc thích biết Bandhuala nói được làm được, nên quyết định dùng tới mưu kế để ngăn không cho Bandhuala thực hiện thành công. Họ lén độn một thanh sắt vào giữa lõi tre để lưỡi gươm của Bandhuala bị cấn lại và các bó tre sẽ không thể đứt hết. Vậy là Bandhuala thua không phải về võ thuật mà thua về mưu trí. Quá tự ái và tức giận, Bandhuala đã bỏ xứ Mallas đi về nước Kosala gặp người bạn Ba Tư Nặc (Pasenadi) của mình - lúc này đã là một vị vua. Sau khi Bandhuala kể hết sự tình, vua Ba Tư Nặc vui mừng giao cho Bandhuala làm đại tướng thống lãnh quân đội, bảo vệ quốc gia, bởi vua biết bạn mình quá giỏi.
Sau một thời gian lên ngôi, vua Ba Tư Nặc nghe tin thám tử báo về rằng: dạo gần đây trong kinh thành Xá Vệ (Savathi) xuất hiện một đoàn sa môn, dẫn đầu là một người da trắng, tướng mạo phi phàm, xuất thân là thái tử của kinh thành Ca Tỳ La Vệ ở phía Đông. Người này được tôn xưng là đắc đạo thành Phật. Đoàn sa môn trú trong khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anathapindika) - một chủ ngân hàng nổi tiếng, cực kỳ giàu có, quyền lực có thể chi phối cả triều đình (tuy ông không giữ chức vụ nào trong triều nhưng nhiều bà con của ông Cấp Cô Độc lại làm quan lớn, bản thân ông cũng giàu có, nên nhà vua cũng phải kiêng nể vài phần). Nghe nói rằng ông Cấp Cô Độc là đệ tử của đoàn sa môn, vua cũng không để ý lắm, vì thấy không có điều gì nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Nhưng qua nhiều lần tận mắt vua trông thấy Đức Phật với tướng mạo phi thường, dẫn đầu cả nghìn vị tỳ kheo nghiêm trang đi vào thành, đến nhà ông Cấp Cô Độc thọ trai, rồi chính ông Cấp Cô Độc quỳ từ ngoài ngõ để tiếp đón, vua mới bắt đầu chú ý. Vua băn khoăn rằng tại sao một người mà mình cũng phải nể lại kính trọng vị sa môn kia đến tột độ như thế? Vua tiếp tục cho các thám tử đi điều tra mới phát hiện ra rằng, không chỉ ông Cấp Cô Độc mà gần hết kinh thành Xá Vệ, nhất là các gia đình danh gia vọng tộc đều đã quy y làm đệ tử của vị sa môn kia – người mà họ gọi là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Bằng đầu óc chính trị nhạy bén, vua Ba Tư Nặc đã quyết định đến với Phật. Vua nghĩ: “Cả kinh thành đều đã theo sa môn kia, nếu ta không có hành động gì chứng tỏ lòng thành thì dân chúng sẽ không ưa, ta sẽ khó ăn nói, làm sao chống lại nổi bao nhiêu danh gia vọng tộc đều theo vị sa môn ấy...”. Vì lấy lòng những người trong triều đình và cả kinh thành Xá Vệ, vua đành phải theo Phật. Thấy mọi người lâu lâu lại thỉnh Phật về nhà, vua cũng cho sứ giả đến thỉnh Phật và chư tỳ kheo vào hoàng cung để cúng dường.
Ban đầu Phật và các tỳ kheo cũng đến nhưng những lần sau Phật không đến nữa, Người giao cho các vị trưởng lão dẫn các tỳ kheo đi. Dần dần, vua vừa bận bịu việc quốc gia, vừa không thật tâm cung kính cho nên việc cúng dường, đón tiếp các tỳ kheo cũng lạt lẽo. Các tỳ kheo vắng dần, không ai đến dự nữa, chỉ còn duy nhất ngài Ananda vẫn đều đặn tới, bởi ngài là người rất kiên nhẫn. Một lần sau giờ thọ trai, vua vô tình tới nơi cúng dường và thấy đồ ăn còn nguyên, hỏi ra mới biết rằng chỉ có duy nhất một người đến thọ trai. Vua liền đến gặp Phật, trách:
- Bạch Thế Tôn, tôi mời các ngài đến thọ trai nhưng không hiểu sao dần dần không ai đến nữa?
Đức Phật đã trả lời:
- Này đại vương, các tỳ kheo không bao giờ đến một nơi có sự xem thường. Dĩ nhiên một tỳ kheo không đòi hỏi phải được tôn vinh hay kính trọng, nhưng khi người khác đã xem thường thì dứt khoát vị tỳ kheo không được phép đến nữa. Đó là luật. Chính vì đại vương đã không đầy đủ sự tôn trọng nên các tỳ kheo đã rời đi.
Vua cảm thấy hối hận, quay về sắp xếp lại việc tiếp đón chu đáo hơn. Nhưng mọi chuyện không dừng lại ở đó, sự tình ngay lập tức lan nhanh ra cả kinh thành Xá Vệ rằng, vua mời Phật và chư Tăng đến cúng dường nhưng không tôn trọng đúng mức làm các tỳ kheo không đến nữa. Ban đầu vua muốn thỉnh Phật đến để lấy lòng cả kinh thành, không ngờ lại làm mích lòng dân chúng, thế là vua phải tìm cách chữa cháy. Vua bóp trán suy nghĩ:
- Đức Phật xuất thân từ dòng dõi Sakya vua chúa ở tiểu quốc Sakya. Giờ muốn lấy lòng danh gia vọng tộc ở Xá Vệ thì ta phải lấy lòng Phật trước. Mà cách lấy lòng Phật hay nhất là sang cầu hôn một công nương, công chúa nào đó của vương tộc Sakya. Thế là chắc chắn nhất. Nhờ cuộc hôn nhân này, thế nào Phật cũng thương ta. Mà Phật thương thì các quần thần, người giàu sang trong kinh thành sẽ tiếp tục ủng hộ triều đình.
Nghĩ là làm, vua nhanh chóng cử sứ giả sang cầu hôn. Câu chuyện rắc rối từ đây.
Khi ấy vua Tịnh Phạn đã mất, những người chấp chưởng trong triều đình của đất nước Sakya nhận được lời cầu hôn thì bối rối vô cùng:
- Không thể gả một công chúa của dòng họ Sakya da trắng này cho tên da đen kia, dù hắn có là vua chăng nữa. Đẳng cấp của ta và hắn khác nhau. Nếu ta không gả công chúa, chúng sẽ tức giận kéo quân sang đánh, còn nếu gả thì ta phạm vào ý thức về dòng tộc, về đẳng cấp.
Cái chấp về đẳng cấp thật là khủng khiếp, dù mình chỉ là một tiểu quốc nhỏ, trong khi bên kia là đại vương của một đế quốc rộng lớn, vậy mà họ vẫn khinh bỉ được. Chính sự kiêu ngạo này là nguồn cơn của biết bao tai họa về sau. Bàn qua tính lại một hồi, cuối cùng họ cũng tìm ra giải pháp. Vua Mahānāma có nhiều vợ trong đó có một người hầu cũng là vợ ông, người này có sinh cho ông một cô con gái. Tuy nhiên cả hai mẹ con họ vẫn bị xem là đẳng cấp thấp, không được xếp vào dòng dõi thượng đẳng. Mấy người bàn bạc với nhau:
- Ta hãy đem gả đứa con gái của người hầu cho hắn. Cứ nói đó là công nương của dòng họ Sakya là được. Như vậy ta không vi phạm ý thức của dòng tộc mà vua bên kia cũng lấy được người vợ mang chút dòng máu Sakya.
Vậy là êm xuôi mọi đàng, đám cưới được tổ chức linh đình. Mới cưới về, người vợ này cũng được vua Ba Tư Nặc hết sức cưng chiều, vì cô cũng có nước da trăng trắng, nhìn cũng xinh đẹp quyền quý. Chỉ có điều vua không hề biết rằng người thiếp của mình chỉ là con của một người hầu, không được chính thức công nhận thuộc dòng dõi vua chúa Sát Đế Lỵ.
Sau này, bà sinh cho vua một người con trai tên Lưu Ly. Vào thời điểm Lưu Ly ra đời, cả bầu trời bỗng chợt u ám như báo hiệu một điềm xấu cho đất nước Kosala và cả cho kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Lưu Ly cũng rất giỏi, võ nghệ tinh thông, có ý chí cầu tiến. Nhưng trong lòng Lưu Ly cứ luôn thắc mắc không yên, rằng tại sao không bao giờ thấy bà con bên ngoại sang thăm mình, những lúc xin mẹ về thăm quê ngoại, người mẹ cũng e dè, hết lần này tới lần khác tìm lý do khước từ. Mà trong lòng ai cũng vậy, tình thương dòng tộc là điều tự nhiên, phải có nội ngoại đầy đủ. Lưu Ly thắc mắc rằng ông ngoại Mahānāma của mình cũng làm vua bên xứ Sakya mà tại sao người mẹ không cho mình về thăm, để mình vừa làm thái tử bên đây, vừa làm một tôn thất bên kia, được hưởng cả hai tình thương? Và tại sao không thấy bà con bên ngoại sang thăm mẹ, cũng chẳng thấy mẹ về thăm quê?
Sở dĩ bà né tránh như vậy, vì biết thân phận của mình bên Ca Tỳ La Vệ chỉ là con gái của người hầu, không ai xem ra gì, nếu Lưu Ly quay về thấy cảnh đó thì mọi chuyện vỡ lở. Trước khi sang Kosala làm dâu, bà đã được dặn dò kỹ lưỡng về điều này nên đã cố gắng né tránh, nhưng đến lúc Lưu Ly khôn lớn thì không thể tránh được nữa, chuyện vẫn phải xảy ra. Năm 16 tuổi, khi đã đủ trưởng thành, Lưu Ly không xin mẹ nữa mà chỉ báo cho vua cha rằng mình sẽ về thăm quê ngoại, xin được một đoàn quân theo hầu. Vua cũng vui vẻ cho mấy trăm quân hộ tống Lưu Ly lên đường.
Bước vào kinh thành Ca Tỳ La Vệ, Lưu Ly ngạc nhiên không hiểu tại sao mình đã báo trước mà không thấy mọi người tiếp đón đàng hoàng. Gặp ông ngoại thì thấy ông chỉ cười giả lả, không có vẻ ân cần. Ở kinh thành Xá Vệ, Lưu Ly được cưng như cưng trứng, một ánh mắt nhìn thôi cũng đủ làm mọi người lo sợ, còn sang đây thì không ai xem ra gì, đi đến đâu cũng bị người ta xa lạ, dửng dưng. Ban đầu Lưu Ly nghĩ chắc tại mình sinh ra ở nước bên kia và suốt 16 năm không về nên không ai biết đến mình. Nghĩ vậy nhưng lòng vẫn hoài nghi không thôi. Ngay cả đến giờ cơm, vua Mahānāma cũng không cho Lưu Ly ngồi cùng vì cho rằng đó là con của một người thuộc đẳng cấp khác, không được ngồi ăn chung với người đẳng cấp Sát đế lỵ. Cái chấp của ông thật là khủng khiếp, ngay cháu ngoại mình mà cũng không ngoại lệ.
Sau mấy ngày lưu lại thăm hỏi thân tộc, cuối cùng Lưu Ly cũng phải quay về và chuyện xui xẻo bắt đầu kéo đến. Nói là xui chứ thật sự cũng là nghiệp định sẵn.
Trên đường về có một người lính hầu phát hiện mình để quên thanh gươm ở trong cung, mà trong quân đội nếu để mất vũ khí sẽ bị phạt rất nặng, có khi ngồi tù. Người này ba chân bốn cẳng chạy nhanh vào trong phòng lấy lại thanh gươm, sợ kinh động mọi người nên dù chạy rất nhanh nhưng vẫn kín đáo không để ai biết.
Ở trong phòng lúc này đang có vài người nói chuyện, người lính vô tình nghe được: “Chỉ là cái thằng thuộc đẳng cấp hạ liệt mà làm chúng ta phải đón tiếp, phải sắp xếp đủ chuyện, thật mệt mỏi hết sức”. Người lính nghe tới đó kinh ngạc vô cùng: Tại sao một hoàng tử đầy quyền uy của nước mình lại bị gọi là “thằng đó", tò mò đứng lại nghe tiếp. Một hồi sau mới hiểu ra sự tình là người phụ nữ mà dòng họ Sakya gả cho vua Ba Tư Nặc, thật ra chỉ là con của một người hầu, không được công nhận thuộc đẳng cấp vua chúa. Người lính ba chân bốn cẳng chạy về báo tin cho hoàng tử Lưu Ly. Còn không quên kể thêm rằng, mấy người bên trong hoàng cung còn dùng chất sữa đặc biệt để cọ rửa hết bàn ghế mà hoàng tử Lưu Ly đã ngồi, vì họ cho rằng bàn ghế của dòng họ Sakya đã bị nhuốm bẩn bởi một kẻ xuất thân hèn hạ. Lưu Ly nghe xong sững sờ, lòng sôi sục căm hờn, đứng giữa đường nghiến răng thề: “Ngày hôm nay chúng rửa cái ghế ta ngồi bằng sữa, sau này ta sẽ rửa lưỡi gươm của ta bằng máu của chúng”.
Lưu Ly chưa về tới cổng, tin đồn đã lan khắp kinh thành Xá Vệ, rằng thì ra thái tử Lưu Ly chỉ là con của một người hầu không cùng đẳng cấp với dòng họ Sakya. Vua Ba Tư Nặc rất tức giận, lập tức phế truất hai mẹ con Lưu Ly xuống thành dân thường. Và thế là bao nhiêu phẫn nộ trong lòng Lưu Ly lại dồn hết xuống dòng họ Sakya, nỗi căm phẫn này thật không gì có thể thay thế được. Đức Phật biết chuyện, đích thân vào cung gặp vua Ba Tư Nặc.
- Này đại vương, vai trò của người cha hay người mẹ với đứa con là quan trọng?
-Bạch Thế Tôn, người cha quan trọng hơn.
- Vậy con cái sẽ thừa kế tính cách của cha mình hay mẹ mình?
- Bạch Thế Tôn, kế thừa tính cách của người cha.
- Này đại vương, khi một cuộc hôn nhân được thành lập thì người chồng hay người vợ là quan trọng?
- Bạch Thế Tôn, người chồng là quan trọng.
- Vậy người mà đại vương đã cưới làm vợ dù có thể được sinh ra bởi một người hầu, nhưng vẫn là con của Mahānāma (vua Mahānāma là anh ruột của ngài Anan, là em họ của Đức Phật dù tuổi lớn hơn Đức Phật). Và với người con gái này thì cha mình là vua Mahānāma mới quan trọng chứ không phải mẹ mình. Rồi người con gái này về đây với đại vương, sinh ra đứa con trai giỏi giắn như thế. Thì cũng vậy, với đứa con trai này thì người cha mới quan trọng chứ không phải người mẹ. Dòng dõi của đứa con được tính theo người cha, tức là đại vương. Vậy tại sao đại vương lại phế truất hai người ấy?
Vua Ba Tư Nặc ngồi trầm ngâm suy nghĩ một hồi mới gật gù đồng ý, sau đó phục hồi lại vị trí vương phi và thái tử cho hai mẹ con Lưu Ly. Được Phật cứu, lòng Lưu Ly rất cảm kích, nhưng nỗi căm hận với dòng họ Sakya thì như ngọn lửa cuồn cuộn không gì dập tắt được.
Quay trở lại câu chuyện về Bandhuala, ở Kosala sau khi nhận chức thống lãnh cả quân đội, Bandhuala lấy vợ và ổn định cuộc sống. Không may là người vợ của ông nhiều lần bị sảy thai, phải đến khi được Phật chúc phúc thì bà mới có thai lại. Lần mang thai này, bà bỗng nhiên xuất hiện ước muốn kỳ lạ là thèm được về kinh thành của xứ Kushinagar để tắm trong hồ hoa sen và ăn ngó sen tại đây. Hồ sen này lúc bé bà đã từng đi ngang và tắm qua một lần. Khó khăn lắm vợ mới có thai nên Bandhuala rất cưng chiều, lúc này vợ muốn là trời muốn. Ông không suy nghĩ nhiều, chỉ vác theo một cây cung, một thanh gươm, một xe ngựa rồi chở vợ chạy băng băng từ kinh thành Xá Vệ đi về Kushinagar. Đến hồ sen, ông dùng chân đạp văng cánh cửa, đưa vợ bước xuống tắm.
Quân lính lập tức báo động cả hoàng thành rằng, có một kẻ không biết từ đâu xông tới phá cổng rồi xuống tắm nơi hồ chỉ dành cho vua và các hoàng tử. Các hoàng tử nhao nhao cầm gươm lên. Ông hoàng Mahàli (người cùng học với Bandhuala) biết rằng đại họa sắp đến, với tư cách là giáo thọ hoàng cung, ông kiên quyết ngăn cản: “Không ai được động thủ, trên đời này không người nào có thể làm đối thủ của Bandhuala, động đến Bandhuala là cầm chắc cái chết”. Nhưng nào có ai nghe, các hoàng thân kia vì được học chút võ công nên rất hung hăng, chẳng biết lựa sức mình. Đây cũng là cái tật chung của người học võ - chưa từng đánh nhau với ai nên không biết khả năng mình tới đâu, gặp ai cũng hùng hổ muốn đánh thử xem sao. Cuối cùng, nguyên một đoàn người là hoàng thân quốc thích hăng hái kéo nhau đi bắt Bandhuala.
Bandhuala sau khi cho vợ tắm mát và ăn ngó sen đã lên xe ngựa quay về. Thấy đằng sau có đông người đuổi theo, người vợ sợ hãi báo cho chồng, Bandhuala cứ lạnh lùng bình thản tiếp tục đánh xe. Ông dặn vợ: “Khi nào thấy đoàn xe phía sau đi vào con đường thẳng tắp và nối nhau thành một hàng thẳng, nàng hãy báo cho ta biết".
Trước đó, khi Mahàli ngăn cản các hoàng thân bất thành, đành dặn dò vài lời cuối cùng: “Nếu đuổi theo Bandhuala, các vị đừng bao giờ đi vào con đường thẳng. Mà nếu đã lỡ chạy vào con đường thẳng thì hãy lập tức dừng lại, nhất là khi đã thấy chiếc xe của Bandhuala đi chậm lại và trì một bên bánh xe xuống. Nếu còn đuổi theo mà thấy trên xe thủng một lỗ thì thôi hãy quay về, không làm gì được nữa”. Những hoàng tử bỏ ngoài tai lời căn dặn của Mahàli, kéo nhau nhảy lên ngựa phăng phăng rượt đuổi.
Quả nhiên đến đoạn đường thẳng, những cỗ xe ngựa của các hoàng thân nối thành một hàng thẳng băng, Bandhuala bắt đầu cầm cung tên lên. Chiếc cung này nặng khoảng vài trăm ký, ngoại trừ ông, không ai đủ sức nhấc lên hay kéo cung nổi. Ông ra đứng phía sau xe, bánh xe trì xuống một chút, chiếc xe chạy chậm lại một chút. Nhưng những người phía sau vẫn hăng máu, không hề nhớ đến lời cảnh báo của Mahàli. Bandhuala lúc này đã lắp tên vào, canh một hàng thẳng rồi kéo tên ra bắn. Mũi tên lao đi vun vút. Vì cây cung lớn đến vài trăm ký nên khi buông dây cung, người ta nghe một tiếng “ầm” như trời long đất lở. Mũi tên bằng sắt quý bay từ người phía trước xuyên qua bao nhiêu xe đến tận người cuối cùng, rơi xuống cắm vào lòng đất. Bandhuala dừng xe lại chờ đợi.
Các hoàng thân vẫn ào ào chạy đến, Bandhuala chỉ nói một câu:
- Ta không đánh với các ngươi bởi các ngươi là những kẻ đã chết.
- Chúng tôi chưa chết.
- Hãy cởi bỏ đai bó bụng của các ngươi ra.
- Họ vừa tháo đai ra, máu lập tức phun thành vòi.
- Các ngươi đều đã chết, hãy về lo chôn cất.
Nói rồi Bandhuala lên xe đi tiếp. Tất cả hoàng thân gắng giữ chặt đai lại, chạy về đến hoàng cung, tháo đai ra rồi gục xuống, không còn ai sống sót.
Vài tháng sau tại thành Xá Vệ, vợ của Bandhuala sinh đôi được hai người con trai. Rồi sau đó, mỗi năm bà lại sinh một lần, lần nào cũng sinh đôi hai bé trai, trải qua 16 năm ông bà đã có 32 người con trai. Những người con nối nhau trưởng thành, ai cũng võ nghệ siêu quần, cùng với cha mình nắm hết quân đội của xứ Kosala.
Bandhuala ngoài tài lãnh đạo quân đội còn có tài xử án. Chuyện là, lúc đó thành Xá Vệ xảy ra một vụ án giết người và chiếm đoạt tài sản, các quan tòa ăn đút lót nên xử không thỏa đáng khiến nạn nhân bị oan.
Người này phẫn uất tiếp tục kêu oan, kiện đến vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc đành giao cho Bandhuala đứng ra xét xử. Bandhuala gọi cả hai bên đến, bằng sự thông minh của mình, ông hỏi qua xét lại một hồi là truy ra thủ phạm. Ông tuyên án tử hình kẻ thủ ác, phục hồi lại danh dự cho người bị oan ức.
Tin đồn lập tức lan nhanh như gió: tướng quân Bandhuala là người tài giỏi, công minh, chính trực, xử án rất hay, không như mấy quan tòa, chỉ biết ăn đút lót rồi xử oan cho dân. Các quan tòa nghe được lời đồn thì xấu hổ và tức giận vô cùng. Thói đời là vậy, tự ái và đố kỵ luôn dẫn con người đi đến tội ác, các quan tòa kia cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Họ bàn nhau tìm cách hãm hại Bandhuala. Mà hại bằng cách nào là nhanh nhất? Phao tin rằng Bandhuala cùng với 32 người con của mình chuẩn bị cướp ngôi vua. Đây là đòn rất hiểm độc, bởi điều mà một ông vua sợ nhất là bị cướp ngôi và thực tế người nắm quân đội cũng là người dễ cướp ngôi nhất.
Nỗi sợ lớn nhất của vua Ba Tư Nặc là bị cướp ngôi, mà người có đủ khả năng cướp ngôi nhất lại chính là tổng tư lệnh quân đội Bandhuala.
Tuy nhiên, khi tin đồn về tướng quân Bandhuala sắp làm phản bay đến tai vua Ba Tư Nặc thì mới đầu vua cũng không tin, nhưng đến lúc cả kinh thành Xá Vệ đều loan truyền thông tin đó thì vua bắt đầu hoài nghi. Tức là khi một người, hai người, ba người nói thì vua không tin, nhưng đến người thứ hai mươi thì sao? Bắt đầu tin. Tâm lý con người là vậy, khi nghe điều gì được lặp đi lặp lại mãi, người ta sẽ tin là sự thật. Vua Ba Tư Nặc cũng thế, dần dần vua càng ngày càng tin chắc rằng Bandhuala đang chuẩn bị cướp ngôi của mình. Và vua quyết định phải dẹp mối họa này cho bằng được.
Tiêu diệt cha con Bandhuala là việc không dễ, buộc phải dùng đến mưu kế, mà mưu mô của vua Ba Tư Nặc thì không thiếu. Về đánh võ vua có thể thua Bandhuala nhưng về mưu thì cao hơn, kế thì hiểm hơn. Vì thế, vua đã bí mật tập trung một nhóm người tâm phúc, đều là những tình báo lão luyện, cho tiền vàng và sai họ đi về vùng biên giới nổi loạn, đánh giết khắp nơi. Quả nhiên không lâu sau, tin cấp báo về đến kinh thành rằng có đám người đang hung hăng làm loạn ở biên giới. Vua Ba Tư Nặc cho gọi Bandhuala đến nói: “Này bạn hữu tướng quân, nhờ có sự dũng cảm mưu trí của bạn nên đất nước ta từ trước đến nay luôn yên bình. Nhưng giờ đây có một số kẻ dám xem thường tướng quân, đến quấy phá biên thùy của ta. Vì thế, ba mươi ba cha con của bạn hãy lên đường tiêu diệt chúng, ta sẽ cấp quân sĩ đầy đủ”. Bandhuala ngây thơ vâng lời, dẫn theo tất cả những người con của mình ra chiến trường theo lệnh vua. Giữa đường họ bị chuốc thuốc độc rồi chết ngay trong đêm, không một ai sống sót.
Khi ấy, vợ của Bandhuala đã quy y Tam Bảo và cũng chứng quả. Khi đang cúng dường trai tăng, bà nghe tin dữ báo về: cả chồng và ba mươi hai người con của bà đều đã tử nạn. Dĩ nhiên bà biết ai là chủ mưu, nhưng bà không nói gì, vẫn bình thản cúng dường cho xong, rồi nhận lại xác của chồng con, chôn cất đàng hoàng, không nhắc lại chuyện này nữa. Lúc đó, Đức Phật nói rằng Bandhuala phải trả nghiệp do những nhân xấu đã gieo từ quá khứ, mà gần nhất là ông đã giết sạch mấy chục hoàng thân trong triều đình của Kushinagar.
Thám tử của vua Ba Tư Nặc (vua rất hay dùng thám tử, hệ thống thám tử của vua dày đặc khắp nơi) báo lại rằng, Đức Phật nói cái chết của Bandhuala là do nghiệp và Phật xác nhận tâm của Bandhuala trong sạch, không hề có ý đồ làm phản. Lúc này vua mới hối hận vì đã giết nhầm người bạn thân thiết, cũng là cánh tay phải đắc lực của mình. Vua tuyên bố sẽ chu cấp toàn diện cho vợ và những người con dâu của Bandhuala, nhưng họ chỉ xin quay trở về quê hương sống đời tu hành thanh thản, không còn muốn danh lợi chốn kinh đô nữa.
Từ khi sát hại ba mươi ba cha con của Bandhuala, vua Ba Tư Nặc tâm thần bất ổn, không thể chuyên tâm lo việc triều chính và thường nghĩ quẩn. Vì thế vua hay theo Phật tu hành để tâm hồn khuây khỏa bớt. Vào năm đó cả vua và Đức Phật đều 80 tuổi.
Một lần, nghe tin báo rằng Đức Phật đang ở một xứ phía Nam gần Kushinagar, vua cũng trên đường đi công sự nên sẵn tiện ghé vào vấn an Đức Phật. Nơi Phật lưu lại chỉ là căn lều tạm chứ không phải khu tinh xá được xây cất kiên cố. Lúc này vua đã là một đệ tử thuần thành nên lòng kính Phật đủ lớn. Đứng ngoài cửa lều, vua làm theo đúng nghi thức của một người đệ tử là khi đến hầu Phật không đem theo năm món tượng trưng cho vương vị gồm thanh gươm, con dấu, áo choàng, vương miện và đôi giày. Vua giao lại cho viên quan đi theo hầu mình tên là Dìghakàràyana. Dìghakàràyana chính là cháu ruột của Bandhuala. Từ khi giết oan Bandhuala và những người con, vua vô cùng hối hận nên muốn làm gì đó chuộc lại lỗi lầm. Vua cho người tìm lại trong dòng dõi của Bandhuala còn ai hay không và phát hiện một người cháu ruột của Bandhuala tên Dìghakàràyana đang làm việc cho triều đình. Vua liền cho người này làm quan lớn, luôn thân cận theo hầu mình.
Về phần Dìghakàràyana, dù được vua ưu ái nhưng trong lòng vẫn không nguôi ngoai nỗi oán thù giết hại cả dòng họ lúc xưa. Vì thế, khi được giao cất giữ năm món tượng trưng cho vương quyền, ông đã ra lệnh cho toàn bộ quân lính lặng lẽ rút về thành Xá Vệ, chỉ để một người hầu, một con ngựa lại cho vua Ba Tư Nặc. Sau đó ba chân bốn cẳng chạy về giao lại báu vật cho Lưu Ly và tôn Lưu Ly lên làm vua. Dìghakàràyana dõng dạc tuyên bố trước triều đình rằng Lưu Ly từ nay được nắm ngôi vua do đã sở hữu năm món tượng trưng cho vương vị. Mọi người phải quỳ xuống tuân lệnh, ai bất tuân lập tức bị chém đầu, vì Dìghakàràyana cũng rất giỏi võ nên ai cũng sợ.
Vua Ba Tư Nặc thưa chuyện với Đức Phật xong, bước ra ngoài cửa thấy chỉ còn một cung nữ yếu đuối và một con ngựa. Vua hoảng hốt bỏ lại người hầu, một mình một ngựa chạy xuyên đêm về thành Xá Vệ. Đến nơi quân lính đóng cửa thành không cho vào. Vua nói lớn:
- Hãy mở cửa ra, ta là vua Ba Tư Nặc.
Lính gác trả lời:
- Thưa ngài, hôm nay đại vương của Kosala là vua Lưu Ly. Vua đã ra lệnh đóng kín cửa thành. Chúng con không ai dám trái lệnh, nếu bất tuân sẽ bị chém đầu tức khắc, nên chưa kịp mở cửa thành ra là đầu đã rơi xuống rồi. Xin ngài hãy thông cảm, tìm chỗ khác nghỉ tạm.
Mới ngày trước còn là vị vua quyền uy tột bực, thoắt cái đã trở thành người không còn gì cả, vua buồn bã đến một nhà trọ bên ngoài kinh thành nghỉ lại rồi qua đời trong đêm ấy.
Về phần vua Lưu Ly, khi nắm được vương vị, việc đầu tiên mà Lưu Ly muốn làm sẽ là gì? Giết sạch dòng họ Sakya để trả mối thù nung nấu suốt bao nhiêu năm qua. Sau tang lễ của vua Ba Tư Nặc, Lưu Ly nhanh chóng tập trung binh mã, thẳng tiến về phía Đông - nơi kinh thành Ca Tỳ La Vệ.
Đức Phật đã dùng thần thông ngăn chặn đại họa này. Lúc đoàn quân đến một vùng hoang vắng, Phật hiện ra ngồi giữa đường nắng bụi, dù bên cạnh có những tán cây to mát. Vua Lưu Ly thấy Phật ngồi cản giữa đường tiến quân nhưng không dám cưỡi ngựa đi qua luôn. Bởi Đức Phật không chỉ là người có ơn giúp Lưu Ly được phục hồi vị trí thái tử, là anh của ông ngoại mình, hơn hết, Phật còn là một đức Thế Tôn mà bao nhiêu người quy ngưỡng nên ông cũng rất kính trọng, không dám hỗn. Vua Lưu Ly xuống ngựa đến hỏi:
- Bạch Thế Tôn, nơi đằng kia có bóng cây mát xin Thế Tôn hãy vào ngồi nghỉ, ngoài đường rất nắng nóng lại bụi bặm.
- Này Lưu Ly, chỉ có bóng mát của thân tộc mới làm cho ta thấy dễ chịu. Bóng mát nơi cái cây kia không bao giờ bằng bóng mát của thân tộc được.
Phật nói vậy để lay động trái tim của Lưu Ly, dù sao những người dòng họ Sakya cũng là máu mủ, là thân tộc của ông. Lưu Ly bị động lòng, đồng thời thấy lời nói của Phật hiền từ mà cương quyết nên ông lui quân về. Nhưng chẳng được bao lâu ông lại sôi máu lên, mối thù năm xưa lại trỗi dậy khiến ông cất quân đi lần nữa. Cũng vậy, Đức Phật lại bay từ kinh thành Xá Vệ đến ngồi chặn giữa đường, cũng nói những lời cảm động tương tự khiến Lưu Ly trở về. Ít hôm sau ông lại sôi máu lên, tiếp tục đem quân lên đường. Lần này Phật không cản nữa vì biết cái nghiệp của dòng họ Sakya đã đến lúc phải trả.
Lưu Ly kéo quân tràn vào thành Ca Tỳ La Vệ và ra lệnh:
- Các người không được giết ông ngoại ta là Mahānāma và con cháu trực hệ trong gia đình của ông ngoại ta. Còn lại, gặp bất cứ kẻ nào thuộc dòng Thích Ca đều phải giết hết.
Dòng tộc Sakya cũng không phải tầm thường, họ đều rất giỏi võ. Khi còn là thái tử Đức Phật cũng học võ từ dòng họ Sakya. Các tướng sĩ thuộc giai cấp Sát Đế Lợi Sakya đều võ nghệ siêu phàm, có những người giỏi hơn vua Lưu Ly rất nhiều. Chỉ có điều vừa là nghiệp mà vừa là nguyện, họ đã nguyện là không dùng gươm đao để giết bất cứ ai, bởi Phật đã dạy như thế. Giáo lý này từ lâu đã thấm sâu vào tâm họ nên không ai mạnh dạn cầm gươm để giết người được nữa. Cuối cùng tất cả đều bỏ mạng. Máu đổ lênh láng khắp kinh thành. Cả những đứa trẻ chạy chơi ngoài đường cũng bị giết chết, đúng như lời thề năm xưa của Lưu Ly: “Ta sẽ rửa lưỡi gươm của ta bằng máu các ngươi”. Chỉ những người không nhận mình thuộc dòng họ Sakya mới thoát chết.
Khi đã tàn sát hết kinh thành, vua Lưu Ly mới vào cung điện gặp ông ngoại mình là Mahānāma: “Trưa nay ông ngoại hãy dùng bữa với con”. Đến giờ phút này, Mahānāma vẫn chấp mình là người thượng đẳng dòng Sakya, không thể ngồi chung mâm cơm với con của người hầu. Nhân lúc người đầu bếp đang chuẩn bị bữa ăn, ở bên ngoài Mahānāma đã lao xuống hồ tự tử, để không phải ngồi chung bàn với một kẻ thuộc đẳng cấp khác. Sự cố chấp thật khủng khiếp, dường như đã ăn vào tận xương tủy vậy.
Sau khi vớt xác ông ngoại lên chôn cất, Lưu Ly kéo quân quay về thành Xá Vệ. Trên đường về, cả đoàn quân đều mệt mỏi nên Lưu Ly cho dừng lại nghỉ ngơi nơi một dòng sông cạn nước. Quân lính nằm la liệt từ lòng sông ra đến bờ sông. Có lẽ do nghiệp đã đến, ngay đêm hôm đó ở thượng nguồn trời mưa lớn, mưa như thể bao nhiêu nước trên trời đều trút hết xuống dòng sông kia. Nhưng ngay chỗ lính nằm thì không có lấy một hạt mưa nên chẳng ai biết gì. Nước đổ xuống ầm ầm, ầm ầm, ngay trong đêm cả đoàn quân bị cuốn trôi ra biển, không ai trở tay kịp, kể cả Lưu Ly cũng phải bỏ mạng.
Câu chuyện thật đau lòng. Lưu Ly chết, nước Kosala mất vua, mất luôn đoàn quân thiện chiến, bên dòng họ Sakya cũng không còn ai, cả đất nước Sakya suy tàn. Lúc đó vua A Xà Thế của nước Ma Kiệt Đà nổi lên thâu tóm tất cả, trở thành một đế quốc hùng mạnh. Nhưng rồi chính A Xà Thế cũng bị con mình sát hại, do trước đó ông cũng đã giết vua cha của mình là vua Bimbisāra. Đây quả là một giai đoạn lịch sử vô cùng tang thương.
Khắp cõi Ấn Độ xôn xao về sự tình vừa xảy ra, nhiều tỳ kheo đã hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, do nhân duyên gì mà cả dòng họ Sakya phải chết thảm như thế? Cái chết của Bandhuala thì dễ hiểu, bởi ông đã giết bao nhiêu hoàng thân của xứ Kushinagar. Vua Ba Tư Nặc chết trong cô độc bởi đã giết oan cha con người cận thần trung thành của mình. Lưu Ly chết thảm vì đã thảm sát cả dòng họ Sakya. Nhưng dòng họ Sakya vâng theo lời dạy của Thế Tôn, sống hiến lành, không nỡ cầm gươm chống lại kẻ thù của mình, vậy mà tất cả đều bỏ mạng, nghiệp nhân gì dẫn đến quả báo này?”
Phật kể lại nhân quả từ rất xưa. Vào kiếp đó dòng họ Sakya cũng có duyên chung sống với nhau. Trong một lần chiến đấu với quân địch, vì không đủ sức chống chọi lại, họ đã dùng đến mưu kế là bí mật đổ rất nhiều thuốc độc xuống dòng sông khiến kẻ địch ở hạ nguồn chết hết. Tuy nhiên họ không lường được rằng, chẳng những quân lính bên địch mà bao nhiêu mầm sống trên dòng sông đều bị trúng độc chết hết. Các loài tôm, cá, thủy sinh vật lớn nhỏ bị tuyệt chủng, không biết bao lâu mới phục hồi sự sống lại. Vì hành động ấy nên ngày hôm nay dòng họ Sakya phải trả quả báo bị tuyệt diệt. Nhân quả là như vậy!
Rồi Đức Phật mới nói bài kệ Pháp Cú để hướng sự chú ý của mọi người về tu hành:
Người nhặt các loại hoa
Ý đắm say tham nhiễm
Bị thần chết mang đi
Như lũ cuốn binh lính.
Thay vì phân tích vòng vo về câu chuyện, Phật đã nói rằng những người lính bị nước lũ cuốn trôi trong
đêm, cũng như người sống trên đời mà say mê theo việc đời rồi bị thần chết cuốn đi. Cho nên, ngay bây giờ hãy lo tu hành.
ST
___________________
Hoang Nguyen gởi
