Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh


 
Đức Phật và Quỷ Ãlavaka


(Những câu hỏi… và sự trả lời minh triết của đức Phật)

1. Quỷ hỏi: “Sống thế nào gọi là cao thượng nhất?”

Đức Phật trả lời: “Sống với trí tuệ gọi là cao thượng nhất” . Trí tuệ là gì? Trí tuệ là sự minh mẫn, người có trí tuệ thường hay nghĩ tới điều hay lẽ phải, tìm cách và tạo ra những gì mới lạ cho đời sống thêm tốt đẹp, từ vật chất đến tinh thần, do đó, Ngài bảo “Sống với trí tuệ gọi là cao thượng nhất”.

2. Quỷ hỏi: “Làm sao vượt qua trùng dương?”

Đức Phật bảo: “Nhờ sức kiên trì vượt trùng dương.” Trùng dương là biển cả, biển lớn, sức kiên trì là giữ vững một lòng không thay đổi, kiên nhẫn, kiên chí, kiên cường, kiên quyết, thì vượt trùng dương không khó, ví như người muốn giải thoát phải kiên trì tu hành mới giải thoát được vậy.

3. Quỷ hỏi: “Làm cách nào chế ngự phiền não?”

Đức Phật nói: “Nhờ tinh tấn chế ngự phiền não” Tinh tấn là luôn luôn siêng năng chăm chỉ chuyên cần không ngưng nghỉ, không thoái lui, tiến tới mãi khi làm một việc gì; tinh tấn là năng lực quyết tâm cần mẫn theo đuổi cho tới nơi tới chốn, ví như người tu vừa tu vừa lo đủ thứ chuyện, lúc tu lúc không, lúc tu nhiều, lúc tu ít, nên chẳng bao giờ thành đạt mục đích được; đã không thành đạt được mục đích, làm sao chế ngự được buồn phiền, bởi vậy “nhờ tinh tấn chế ngự phiền não” là vậy.

4. Quỷ hỏi: “Thành đạt trí tuệ bằng cách nào?”

Đức Phật trả lời: “Người kiên trì có niềm tin sáng suốt, thành đạt trí tuệ bằng cách nghe giáo pháp của bậc đại Giác, có khả năng dẫn đến Niết Bàn”. Nghĩa là người đã có lòng tin kiên cố rồi, nghe đọc giáo pháp của Phật, thực hành tinh tấn kiên cố, sẽ đạt trí tuệ tối thượng, đó là khả năng dẫn tới giải thoát Niết Bàn.

5. Quỷ hỏi: “Làm sao mưu tìm sự nghiệp?”

Đức Phật đáp: “Người làm công việc chính đáng một cách kiên trì nhẫn nại, sẽ tìm được sự nghiệp”. Công việc chính đáng là chánh nghiệp và chánh mạng, nghĩa là hành động chân chính phải lẽ, tôn trọng giới luật, sống bằng nghề chân chính lương thiện, không làm cho người và vật đau khổ, đó là làm công việc chính đáng; khi làm công việc chính đáng một cách cần mẫn kiên trì, sẽ tạo cho mình cuộc sống đầy đủ trong đạo đức, được quả báo tốt đẹp sau này vậy.

6. Quỷ hỏi: “Cái gì làm cho tình bằng hữu trở nên khắn khít?”

Đức Phật dạy: “Đức quảng đại khoan dung làm cho tình bằng hữu trở nên khắn khít”. Đức quảng đại là có tâm rộng mở đón nhận, tâm thương người, khoan dung độ lượng là tha thứ cởi mở; nếu cư xử với tâm quảng đại khoan dung giữa bạn bè người thân, tình nghĩa càng ngày càng thắm thiết, không có gì nghi ngờ nữa, bởi vậy, “Đức quảng đại khoan dung làm cho tình bằng hữu trở nên khắn khít” là vậy.

7. Quỷ lại hỏi: “Từ thế gian này tới thế gian khác, làm sao tránh khỏi phiền não?”

Đức Phật giảng: “Người Cư sĩ có bốn phẩm hạnh: Chân thật, giới đức, can đảm, bố thí rộng rãi, sẽ không phiền não khi qua đời” là thế nào? Thành thật là không dối trá có sao nói vậy, không giấu giếm, hỏi cái gì nói cái ấy, không quanh co chẳng nói vòng vo, không che đậy chẳng nói úp mở, không nói phù phiếm chẳng nói bóng nói gió, không nói hoa hòe hoa sói chẳng nói màu mè, không gièm pha nịnh bợ mà nói một cách ngay thẳng. Giới là giới hạn, ngăn đe ngay thẳng, đức là đạo lý làm người, điều thiện, ơn huệ, Giới đức là những điều hay phải lẽ đúng đạo lý phải theo như : Ba điều về thân: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm; Bốn điều về miệng: không nói dối, không nói hai chiều, không nói thêu dệt, không nói ác; và ba điều về ý: không tham lam, không sân giận, không si mê tà kiến. Can đảm là ý chí quyết tâm thực hành hai điều trên, can đảm chân thật, can đảm thực hành giới đức đầy đủ. Bố thí rộng rãi là bố thí không giới hạn, không phân chia phân biệt lúc bố thí, tùy khả năng mà bố thí theo phương thức bình đẳng bố thí. Như vậy người nào có được bốn phẩm hạnh: chân thật, giới đức, can đảm, bố thí rộng rãi, sẽ được sinh cõi Trời vô cùng sung sướng, nên hết buồn phiền là vậy.

Khi Quỷ Ãlavaka đã hiểu những câu trả lời của Đức Phật, và cũng là những lời giảng dạy của Ngài, Quỷ tán thán công đức của bậc Chánh biến tri, và đi các nơi tán thán công đức của Phật. Như vậy, thế giới Ngạ quỷ cũng có Quỷ đã được học Phật pháp, cũng biết việc thiện ác, chứ không phải là không biết; việc Quỷ Ãlavaka giết hại người, kể từ lúc được Phật thâu phục giáo hóa rồi, không còn làm việc giết hại người nữa, mà chính quỷ Ãlavaka đã đi khắp nơi, tán dương công đức và nói giáo pháp cao thượng của Phật trong thế giới Ngạ quỷ.

Cũng giống như cõi Ngạ quỷ, mặc dù cõi Người có Phật pháp, nhưng nhiều người không biết tới Phật Pháp, vẫn có nhiều người làm ác. Chúng ta có thể so sánh việc Đức Phật thu phục giáo hóa Quỷ Ãlavaka của cõi Quỷ vào hạ thứ 16 (sau khi Đức Phật thành Đạo), giống như Ngài thu phục giáo hóa người sát nhân tên là Angulimala tại Rãjagaha trong hạ thứ 20.


_______________


Hoang Nguyen gởi