Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh
Khai Thi 2 Tiep Theo 2
Khai Thi 2 Tiep Theo 2
Khai Thi 2 Tiep Theo 2 Khai Thi 2 Tiep Theo 2
Khai Thi 2 Tiep Theo 2
Khai Thị 2 (tiếp theo 2)
Khai Thi 2 Tiep Theo 2
Khai Thi 2 Tiep Theo 2
 
 

PHÁP GIỚI DUY TÂM TẠO

(Vạn Phật Thành ngày 2 tháng 10 năm 1982)

 

Chúng sinh trong thế giới có nhiều loài khác nhau. Mỗi một vị Phật thì có quyến thuộc của vị đó; mỗi quyến thuộc lại có vô số chủng loại khác nhau. Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn các ngài thì cũng như vậy. Ðó là bốn Pháp Giới của chư Thánh, Hiền. Mình là phàm phu thì sự cách biệt giữa mình với các Thánh rất là xa, khó mà diễn bày đặng trình độ và trí huệ của các ngài.

Hiện đang nói về sáu Pháp Giới của kẻ phàm, thì trên cả là Pháp Giới loài Trời. Trời cũng có đủ thứ bất đồng. Trời, cộng thêm A Tu La và loài Người, là ba Thiện đạo. Ba Ác đạo là Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh; mỗi thứ đều có đủ thứ quyến thuộc của chúng với đủ thứ thiên sai vạn biệt. Ở mỗi loại lại còn phân ra đủ thứ chủng loại khác nhau nữa. Mười Pháp Giới từ đâu lại? Chúng từ nơi một tâm niệm hiện tại của mình (hiện tiền nhất niệm tâm)! Cái tâm có thể tạo ra Pháp Giới, tâm có thể tạo ra vạn vật, tâm có thể tạo ra đủ thứ hình tướng, đủ thứ chủng loại: Nhất thiết duy tâm tạo. (Mọi thứ đều do tâm tạo ra.) Lại nói:

 

"Nhược nhân dục liễu tri,

Tam thế nhất thiết Phật,

Tam thế nhất thiết chư Bồ Tát,

Tam thế chư Thanh Văn,

Tam thế chư Thiên,

Ðại,Tiên, Nhân,

Chủng chủng A Tu La,

Chủng chủng chư Súc sanh,

Chủng chủng chư Ngạ quỷ,

Chủng chủng chư Ðịa ngục,

Ưng quán Pháp Giới tánh,

Nhất thiết duy tâm tạo."

Nghiã là:

 

"Nếu người muốn rõ biết,

Ba đời tất cả Phật,

Ba đời chư Bồ Tát,

Ba đời chư Thanh Văn,

Ba đời chư vị Trời,

Ðại Tiên cùng với Người,

Các loại A Tu La,

Vô số thứ Súc sanh,

Vô số loại Quỷ đói,

Vô số lớp Ðịa ngục,

Nên quán tánh Pháp Giới,

Mọi thứ do tâm tạo."

 

Cái tâm có thể tạo ra Thiên đường, tạo ra Ðịa ngục. Tâm làm mình thành Phật, tâm có thể làm mình thành Ngạ quỷ, thành Súc sanh, đọa Ðịa ngục, thành Bồ Tát, Thanh Văn. Vì mọi thứ do tâm tạo, nên mọi thứ đều chỉ ở nơi tâm này. Nếu tâm muốn thành Phật thì Phật Pháp Giới là quyến thuộc của mình. Các Pháp Giới còn lại cũng như thế!

Mọi thứ không rời khỏi tâm này, vì tâm này tạo mọi thứ; cho nên các vị chú ý: đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng phải biết "khắc kỷ phục lễ" (chế phục chính mình theo đúng lễ nghĩa). Mình chỉ làm điều chân thật, không làm điều hư ngụy, cẩu thả bê bối; phải tránh trường hợp: Chỉ nhân nhất trước thác, Thâu liễu mãn bàn kỳ. (Chỉ đi sai một nước, Mà thua cả ván cờ.)

Tạo Pháp Giới của Phật thì phải có lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả; biết lợi ích chúng sinh, song không chấp trước rằng có chúng sinh. Ðừng dụng công hời hợt, tu ngoài da; phải thật sự từng bước từng bước mà dụng công.

Tại sao tôi muốn tạo Pháp Giới của chư Phật? Nếu tạo không xong thì sao?" Chỉ do tâm niệm không chuyên nhất, ý chí không kiên cố, cứ tùy theo duyên mà xoay chuyển rồi bị cảnh giới dẫn dắt, cho nên mình mới quên mất mọi chuyện: Quên mất là mình phải tạo Phật, tạo Bồ Tát, tạo bốn thứ Thánh, do vậy mình chỉ biết tạo Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh! Cho nên nói rằng: Niệm động bách sự hữu, Niệm tịnh vạn sự vô. (Tâm động thì trăm sự đều có, Tâm tịnh thì vạn sự đều không.)

Lại nói rằng:

 

"Tâm chỉ niệm tuyệt: chân phú quý,

Tư dục đoạn tận: chân phước điền!"

Nghiã là:

 

"Ý niệm dứt, tâm dừng, chính là giàu sang,

Lòng tư dục đoạn tuyệt, mới thật ruộng phước!"

 

Có người hỏi: Vì sao ma không phải là một Pháp Giới?

Trả lời: Ma thì giống như bọn thổ phỉ hay là du kích, lúc nào cũng lưu lạc trong bốn phương, không có xứ sở nhất định, cũng không có người cai quản. Kẻ cướp là loài người nhưng không phải người nào cũng là kẻ cướp, cho nên không nói Pháp Giới của loài cướp. Ðạo lý này giải thích loài ma cũng tương tự như vậy.

Trên trời cũng có ma, trong A Tu La cũng có ma. Thành phần thiện thì thuộc một pháp giới, thành phần không thiện thì thuộc về ma giới; vì ma biến khắp cả Lục Phàm Pháp Giới, thậm chí nó có thể biến hóa, xâm nhiễm, phá phách Tứ Thánh Pháp Giới.

Phật hay ma đều là do một niệm sai biệt mà ra. Phật thì có tâm từ bi, ma thì có tâm tranh thắng. Giống như Ðề Bà Ðạt Ða là người có tâm thắng phụ rất mạnh, lúc nào cũng muốn cùng Phật đấu tranh, song Phật thì không tranh với ông ta. Ðề Bà Ðạt Ða cũng có Phật tánh, bất quá y lỡ bước lầm đường, lạc lối quá sâu, không thể quay đầu lại, nên mới rơi vào ma giới. Theo tinh thần Ðại Thừa, Phật vì giáo hóa loài ma cho nên cũng thị hiện thân ma để giáo hóa loài ma. Ma thì biến khắp Lục Phàm Pháp Giới, nên không cần thiết phải lập thêm một pháp giới. Tuy biến khắp các pháp giới, nhưng đó là thứ giả, hư ngụy, không thật. Giống như ở đời có kẻ tự mình chiếm hòn núi, tự mình xưng Vương; giặc cướp cũng mạo xưng là quân đội, nhưng đi tới đâu là phóng hỏa giết người tới đó. Ma cũng tương tự như vậy!

 

29

 

 

CÁI HỌC TẠO MỆNH

(Vạn Phật Thành ngày 7 tháng 10 năm 1982)

 

Lão Tử nói rằng:

 

"Quân tử hữu tạo mệnh chi học,

Mệnh do ngã lập,

Phước tự kỷ cầu.

Họa, phước vô môn,

Duy nhân tự chiêu."

Nghiã là:

 

"Quân tử có cái học tạo mệnh,

Mệnh do mình lập,

Phước do mình cầu.

Phước với họa chẳng có cửa,

Chỉ do mình tự chiêu cảm lấy."

"Quân tử hữu tạo mệnh chi học." Trời, Ðất, Người gọi là Tam Tài. Người là đại biểu của trời, đất; trời không thể nói được mà đất cũng không thể nói được, chỉ có người mới có ngôn từ, có động tác. Sinh mạng con người không phải là nhất định, nhưng cũng có thể nói là nhất định. Tại sao nhất định? Cũng như là mình chia đồ vật vậy: Anh một phần, tôi một phần; đó gọi là nhất định. Thế nào là không nhất định? Giống như đồ vật của anh thì anh dùng hết rất mau, mà đồ vật của tôi thì tôi không dùng cho nên vẫn còn nguyên; đó gọi là không nhất định. Cho nên nói: "Quân tử có cái học tạo mệnh."

Khi sinh ra, chẳng ai kêu mình làm chuyện ác cả, song mình cứ làm ác; đó là mình tự cải biến vận mạng của chính mình. Sinh ra chẳng có ai kêu mình làm chuyện thiện cả nhưng mình cứ làm chuyện thiện, thì đó là mình siêu thoát ra khỏi vận mệnh. Thí dụ như khách bộ hành, muốn đi hướng đông thì nhắm hướng đông mà đi, muốn đi hướng tây thì nhắm hướng tây mà đi. Mệnh vận của người quân tử thì rất linh hoạt chớ không phải là cứng ngắc; tất cả mọi chuyện đều do nơi tay mình làm nên, bởi thế: "Quân tử có cái học tạo mệnh."

"Mệnh do ngã lập." Mình có thể cải biến vận mệnh của chính mình. Nếu như khi có bịnh mà biết giữ gìn thì không đi đến tình trạng nguy hiểm đến tánh mạng. Ðó là tự mình có năng lực kiểm soát chính mình, không phải ỷ lại người khác. Ðáng lẽ phải sống chết luân chuyển trong Lục đạo, nhưng nếu biết tu Ðạo thì có thể siêu thoát ra khỏi vận mệnh, cắt đứt vòng sinh tử; đó cũng gọi là tạo mệnh.

"Phước tự kỷ cầu." Phước từ nơi mình mà cầu: Nếu mình biết tu phước thì có phước, biết tu huệ thì có huệ. Phước, huệ cùng tu thì càng tốt hơn nữa.

Tu phước thì phải hướng về bên trong mà cầu; cầu nơi chính mình, coi thử mình có đức hạnh hay không. Có đạo đức là có phước, không đức hạnh thì là kẻ vô phước. Quân tử cầu nơi chính mình, tiểu nhân thì cầu cạnh nơi người khác. Tiểu nhân lúc nào cũng hướng ra bên ngoài mà cầu.

"Họa, phước vô môn. Duy nhân tự chiêu." Họa, phước không có cửa ra vào, chỉ do mình tự chuốc lấy; có nghĩa là: Bịnh tùng khẩu nhập, Họa tùng khẩu xuất. (Bịnh từ miệng mà vào, Họa do miệng mà ra.) Con người gặp phải đủ thứ tai họa, hoạn nạn là do ăn nói bậy bạ mà ra. Kẻ ham ăn vị ngon, cá thịt, gà vịt, đồ biển v.v... tuy rằng nhất thời sướng cái miệng song sẽ mang nhiều bịnh tật. Khi ăn thì thấy ngon thiệt, nhưng dần dà khi chất độc ngấm vào sanh bịnh thì sẽ hết thuốc chữa! Hiện tại thịt động vật có một chất độc mà không có thuốc nào chữa được. Cho nên khi ta ăn thịt thú vật thì thứ độc ấy truyền vô người mình. Thực vật là loại không có sinh mạng, nên dù có độc cũng rất ít. Chất độc trong thịt là 100%, còn độc trong đồ chay chỉ có 1%, cho nên có thể nói rằng ăn thịt với ăn chay khác nhau một trời một vực!

Các vị học Phật Pháp đừng nên tham ăn đồ ngon, đừng tham ngon miệng! Sau một thời gian ăn chay, chất độc trong người có thể bài tiết ra hết mà không mắc phải những bịnh quái gở. Hy vọng các vị chú ý nghiên cứu lời tôi nói. Thời đại bây giờ vô cùng tệ hại, nên mọi người phải mạnh dạn khuyến khích nhau đừng sát sinh, mà phải bảo vệ sinh mạng thì mới tránh được họa nhân loại diệt vong. Mong các vị hãy thận trọng, và hãy tự chế!

 

 

30

 

 

ĂN THỊT THÌ CŨNG GIỐNG

NHƯ LÀ ĂN CHẤT ÐỘC VẬY!

 

Tất cả thịt của chúng sanh đều có chất độc. Chất độc này không phải một ngày một đêm tích tụ mà thành, cũng không phải mới một đời một kiếp mà có. Chất độc ấy tích lũy trong nhiều kiếp, từ sự hỗ tương tàn sát giữa người với người đã tạo thành một thứ oán độc, mà chẳng thể nào xóa bỏ được.

Khi mình giết súc vật thì cũng tạo ra một thứ oán hận trong tâm chúng; lúc gần chết vì quá khủng khiếp và sợ hãi nên chúng nảy sinh lòng cừu hận muốn báo thù. Bởi vậy từ nơi lòng oán hận phẫn uất ấy phát tiết ra một độc tố thấm suốt da thịt chúng, nên hễ ai ăn thịt chúng thì giống như ăn phải chất độc vậy! Lúc ăn thì không thấy hại, nhưng dần dà sẽ mắc đủ chứng bịnh kỳ quái mà chẳng có thuốc gì cứu nổi.

Thời đại bây giờ thì oán khí đầy trời. Oán khí đó so với đầu đạn nguyên tử thì lợi hại hơn nhiều, bởi vì nó vô hình vô tướng song lại có thể tận diệt toàn thể nhân loại.

Có bài kệ rằng:

 

"Thiên bách niên lai oản lý canh,

Oán thâm tự hải hận nan bình.

Dục tri thế thượng đao binh kiếp,

Thả thính đồ môn dạ bán thanh!"

Dịch là:

 

"Ngàn năm oán hận ngập bát canh,

Oán sâu như biển, hận khó tan.

Muốn biết vì sao có chiến tranh,

Hãy nghe lò thịt lúc nửa đêm!"

 

Trăm ngàn năm nay, miếng thịt trong bát canh chứa đựng sự oán hận sâu như biển, khó mà san bằng được. Nếu các vị muốn biết nguyên nhân của chiến tranh trên thế giới thì hãy lắng nghe tiếng kêu thảm thiết của những con vật nơi nhà kẻ đồ tể vào lúc nửa đêm. Cho nên cổ nhân nói ra bài kệ này là có nhân duyên, có căn cứ. Chúng ta phải thấu triệt đạo lý đó thì mới có thể trị được tật bịnh của chính mình.

 

31

 

 

TU ÐẠO KHÔNG ÐƯỢC CẨU THẢ!

 

Người tu Ðạo cần có cơ sở, nền móng cho vững chắc. Muốn liễu sanh tử thì phải có công phu. Công phu tức là gì? Tức là cách vật, chánh tâm, thành ý, tu thân.

Muốn chánh tâm trước hết phải hiểu cách vật. Thế nào gọi là cách vật? Cách vật là trừ tự kỷ dục vọng; bỏ đi lòng tư dục, bỏ đi tạp niệm, bỏ đi lòng ham muốn vật chất. Vật dục thì bao quát tiền tài, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ, những thứ đó mình phải cần diệt trừ tuyệt, sau đó mới chánh tâm.

Chánh tâm tức là không ích kỷ; có tâm ích kỷ thì tâm mình không chánh được. Thành ý tức là mình luôn như vậy; mình tin Phật thì tin hoài, tin vĩnh viễn; đem tâm chân thật ra tin tưởng, đem tâm hết sức kiên định ra mà tin tưởng, không chút hồ nghi, sợ sẽ chịu thiệt thòi, thua lỗ: "Chà, không biết có Phật hay có Bồ Tát chăng? Làm sao mình chẳng gặp các ngài?" Nghĩ như vậy cũng giống như cái nghĩ của con chồn khi đi trên mặt băng. Trên mặt băng, nó nhón gót đi hết sức cẩn thận, khi tiếng băng vỡ một chút xíu thì nó lập tức thối lui. Cho nên tục ngữ nói "như lý bạc băng" (như đi trên băng mỏng) là vậy. Người tin Phật đừng nên có tâm hồ nghi, rụt rè như rớt vào vực sâu hay là đi trên băng mỏng. Mình phải có lòng tin kiên cố.

Tu thân nghĩa là chuyện gì hại đến thân thì mình không làm. Lúc nào cũng phải cẩn thận, giữ gìn, bởi: Thân thể, phát, phu, thọ chi phụ mẫu, Bất cảm hủy thương, Hiếu chi thủy dã. (Thân thể, tóc, da là từ cha mẹ mà ra, do vậy không dám hủy hoại, thương tổn. Ðó chính là khởi đầu của đạo hiếu vậy.)

Tu hành thì phải có công phu "nội Thánh, ngoại Vương" (trong lòng như bậc thánh, bên ngoài biểu hiện như bậc vua). Nội Thánh tức là cách vật, chính tâm, thành ý. Tu thân là công tác của ngoại Vương, tức là phải lập công: Cần lao công khổ tác, Bất phạ hoạt kế đa. (Cần cù, lao khổ làm đủ chuyện, Không sợ ít hay nhiều.) Chuyện gì mình cũng làm cả; không thể nói rằng: "Tôi phải ngồi Thiền hàng ngày mới là tu hành, tôi không muốn làm chuyện khác"; bởi kẻ biết tu thì trong lúc động cũng tu hành được!

Tu hành nghĩa là tâm lúc nào cũng bình tịnh, không phiền não, không vô minh, không cống cao ngã mạn, không ganh tị, chướng ngại. Những lỗi lầm trên không trừ, thì dù mình ngồi Thiền tám vạn đại kiếp, tánh nóng giận, ganh tị, chướng ngại cũng còn trơ trơ và mình không thể tu thành công được. Cho nên tu hành cần phải chân chính trừ bỏ tập khí lỗi lầm, kiểm điểm bản thân; đó mới là thái độ của người dụng công.

"Quân tử bất khí" nghiã là người quân tử không phải như đồ vật, giống như ly trà thì chỉ có thể dùng để uống trà mà thôi, bát ăn cơm thì chỉ đựng đồ ăn mà thôi, không thể dùng vào việc khác được. Người quân tử thì văn, võ phải song toàn, chuyện cao chuyện thấp đều làm được, như vậy thì mới có thể trị quốc bình thiên hạ đặng: Năng nã đao thượng trận, sát thối địch nhân. (Có thể vung đao xông pha nơi trận mạc, đuổi giặc diệt thù.)

Thế nên người tu Ðạo hằng ngày phải phấn chấn nỗ lực; tinh tấn tức là tu hành! Căn bịnh lớn nhất khi tu là tâm nổi lên phiền não. Nếu không có phiền não thì mình sẽ tự tại, giải thoát, thì mình chính là kẻ đại tu hành. Quan trọng nhất là bất cứ ở trong tình trạng nào, mình cũng phải hết sức định tĩnh, không sinh phiền não; đó là chỗ đắc lực của sự tu hành. Không sinh phiền não thì chân chánh trí huệ mới xuất hiện được.

Người quân tử có thể biến lớn, có thể thu nhỏ; khi nhỏ thì như hạt bụi, khi lớn thì như núi Tu Di, như cả Pháp Giới. Bậc đại trượng phu thì cái chí có thể co giãn; kẻ nào cư xử với mình oan ức thì cũng không sinh phiền não, có thể co giãn một cách tự nhiên lúc vuông, lúc tròn, lúc thẳng đều được cả. Bởi vậy cho nên người quân tử không phải như là đồ vật. Quân tử bất trọng tắc bất uy, học tắc bất cố. (Người quân tử không có trịnh trọng thì chẳng có uy đức, sở học cũng không kiên cố.)

Nếu không kiểm soát bản thân thì mình không có oai nghi; sở học đều là giả. Cho nên người quân tử thì không cẩu thả, cười đùa bỡn cợt, không khinh cử vọng động. Người tu Ðạo cần phải vượt trên người quân tử. Người học Phật thì ngày nào cũng tu như vậy, không thể có một chút lười biếng, an phận!

 

32

 

 

XÃ HỘI HỖN LOẠN

(Vạn Phật Thành ngày 1 tháng 7 năm 1982)

 

 

"Ninh vi trị thời khuyển, Bất tác loạn thế nhân."

Dịch là:

 

"Thà làm chó thời bình, Không làm người thời loạn."

 

Câu này nói rằng làm một con chó trong thời bình so với làm người trong thời loạn lạc thì làm chó còn tốt hơn. Thời thái bình thì không có chiến tranh loạn lạc, cũng không có kẻ trộm cắp, cường đạo; cho nên chó không cần phải chú ý lo giữ cửa, nó hết sức thanh nhàn ngồi coi nhà. Song, đến thời loạn thì nhà nào cũng gài then sắt, khóa cửa, rồi phải nuôi nhiều chó; người giàu thì lại thuê người gác cổng. Tuy phòng thủ nghiêm mật song người ở trong nhà vẫn vô cùng sợ sệt như phải đi trên mặt băng mỏng, hay như rớt vào hố thẳm vậy.

Thế giới đầy khủng bố như vậy thì làm người không có ý nghĩa gì mấy, cho nên cổ nhân nói rằng: "Ninh vi trị thời khuyển, Bất tác loạn thế nhân!" Lại nữa, con người ở đời đa số ưa điên đảo, thị phi, cho điều đúng là sai, cho điều sai là đúng. Hiếu thuận là con đường chính đáng mà con người phải theo, song ít ai chịu làm; ngược lại, bất hiếu, cãi cha mắng mẹ thì lại cho là có bản lĩnh cao cường. Các vị coi, thế giới hỗn loạn đến độ như thế nào? Giản dị mà nói: nhân vị chẳng còn nữa! Hãy xem ông Tổng thống (Ronald Reagan), vài năm trước đây ông bị người ta hành thích, bắn trúng mấy phát, người bên cạnh ông cũng bị trúng thương; song hung thủ thì tòa án phán rằng vô tội!

Ám sát Tổng thống mà vô tội thì chẳng phải là cổ võ cho người khác phạm pháp sao? Chẳng phải là cổ võ người ta khinh thường pháp luật sao? Tôi thật chẳng hiểu nổi! Song tóm lại, đó là một chuyện hết sức khác thường. Nếu hung thủ không bị trừng phạt vì y có bịnh thần kinh, thì cũng không nên phóng thích để y được tiêu dao, tự do như hiện tại. Nay thì y mặc nhiên được phóng thích và vô tội, như thế không phải là kỳ quái sao?

Lại nữa, trong thời gian gần đây ở Cựu Kim Sơn có hơn ba trăm ngàn người đồng tính luyến ái biểu tình thị uy. Những người đó già, trẻ, lớn, bé đều là thứ yêu ma quỷ quái xuất hiện phá rối, khiến người ta điên đảo, hồ đồ, lấy đúng làm sai, lấy sai làm đúng, lấy đen làm trắng, lấy trắng làm đen. Các vị thấy bọn họ giống như người, nhưng thực ra họ là thứ yêu ma quỷ quái tới thế giới này để nhiễu loạn trật tự bình thường của xã hội. Ðã vậy, những kẻ không có tri thức còn cho hành động của họ là hợp pháp nữa. Các vị coi, có thật đáng thương xót chăng? Thật là loạn đến cực điểm!

Thời đại này thật là đáng thương cảm vậy! Ðối với những kẻ không có tri thức thì cố nhiên chẳng hiểu được chuyện này. Nhưng nếu các vị có lòng vì chính nghĩa, thì nhất định các vị sẽ đau khổ đến phải khóc lên và tuyệt thực ba ngày vậy!

 

33

 

 

HIỆU LỊNH NHÂN NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC MỸ

(Vạn Phật Thành trưa ngày 4 tháng 7 năm 1982)

 

Hôm nay là Ngày Quốc Khánh của nước Mỹ, kỷ niệm ngày kiến quốc. Ðất nước có ngày kỷ niệm thì con người cũng có ngày kỷ niệm.

Thế nào là ngày kỷ niệm của mỗi người? Tức là khi chân chính làm người Phật tử. Mình nhớ lại xem đối với Phật Giáo mình đã làm được gì rồi? Mình đã có cống hiến nhiều ít? Rằng Phật Giáo hộ trì mình hay là mình hộ trì Phật Giáo? Nếu như Phật Giáo hộ trì mình, thì mình phải làm gì để báo đáp ân Phật? Nếu như mình hộ trì Phật Giáo, thì mình phải hỏi coi mình đã ra sức ra lực tới đâu rồi? Trong tâm có còn những thứ cặn bã hay chăng? Rằng đầu óc, tư tưởng mình có còn vẩn đục hay không? Rằng mình đã làm gì để bảo vệ Phật Giáo? Xét rõ những vấn đề đó rồi thì hãy coi thử mình có thật là tín đồ chân chính của Phật Giáo hay không? Rằng mình có chân chính ủng hộ Phật Giáo hay chăng?

Vạn Phật Thành là đạo tràng căn bản để kiến lập Phật Giáo ở Tây phương, là chỗ bắt nguồn của Phật Giáo thế giới, và cũng là chỗ trở về của Phật Giáo thế giới. Không những thế, Vạn Phật Thành còn là nơi trở về của tất cả các tôn giáo khác nữa. Bất luận tôn giáo nào tới Vạn Phật Thành nghiên cứu Phật Học cũng đều được hoan nghinh!

Vạn Phật Thành là của tất cả mọi người, là của tất cả chư vị Bồ Tát, của tất cả chư vị Hiền Thánh Tăng, A La Hán, Bích Chi Phật. Vạn Phật Thành là của mọi thiện nam tín nữ. Nếu là một phần tử của Phật Giáo thì nhất định phải ủng hộ và không để cho ai phá hoại Vạn Phật Thành được!

Trong quá khứ, ngài Hộ Pháp Vi Ðà với ngài Già Lam chỉ đứng bên ngoài quan sát Vạn Phật Thành, coi thử tôi là một kẻ chẳng có tài cán gì làm thế nào mà kiến lập đạo tràng. Các ngài không biết rằng đạo tràng có thể kiến lập được hay chăng.

Nay thì tôi phải nói với ngài Hộ Pháp Vi Ðà và ngài Bồ Tát Già Lam rằng các ngài không thể khoanh tay đứng nhìn được nữa; các ngài phải tận lực hộ pháp, tận lực làm tròn trách nhiệm ủng hộ Vạn Phật Thành!

Có Vạn Phật Thành thì có Phật Giáo; nếu Vạn Phật Thành bị tiêu diệt thì Phật Giáo cũng chẳng còn! Phật Giáo Ấ châu đã sinh ra ung thư rồi, khó thể trị lành được. Còn ở Mỹ, Phật Giáo đang bắt đầu sinh trưởng nên mọi thứ đều cần phải dùng Chánh Pháp!

Các ngài Hộ Pháp Vi Ðà và Già Lam! Ở nơi đạo tràng của Chánh Pháp mà các ngài không tận tâm kiệt lực ủng hộ, thì các ngài không xứng đáng gọi là Hộ Pháp Vi Ðà, cũng không đủ tư cách làm ngài Già Lam, bởi vì những điều các ngài đã làm và những nguyện các ngài đã phát khi xưa hoàn toàn mâu thuẫn nhau!

Do đó, bây giờ tôi nói rõ cho hai ngài biết rằng Vạn Phật Thành đã được kiến lập; các ngài phải mau mau đảm nhận trách nhiệm hộ trì Chánh Pháp. Phàm là thiên ma, ngoại đạo, yêu tinh, quỷ quái, các ngài không được để cho chúng tới nhiễu loạn Vạn Phật Thành! Ma quỷ lại cũng được, song chúng không thể làm sóng làm gió, không được phá loạn quy củ của Vạn Phật Thành. Trong mười Pháp Giới thì Phật ở đây trụ trì đạo tràng; còn chín Pháp Giới khác, bao quát tất cả các loại thiên ma ngoại đạo, đều phải ủng hộ Vạn Phật Thành.

Từ đây về sau, không ai được phép ở Vạn Phật Thành mà chẳng giữ quy củ. Mọi người ở đây phải hết sức giữ gìn giới luật. Bọn thiên ma, ngoại đạo mà tới đây tối thiểu cũng không được sát sinh, không được trộm cắp, không được tà dâm, không được nói láo, cũng không được uống rượu, hút thuốc. Bất luận là người xuất gia, là kẻ tại gia, là người, là quỷ, là tiên, hay là súc sinh, đều phải nghiêm chỉnh tuân theo quy củ của Vạn Phật Thành, không được giải đãi!

 

34

 

 

MA VƯƠNG CŨNG PHẢI GIỮ QUY CỦ

(Vạn Phật Thành tối ngày 4 tháng 7 năm 1982)

 

Vạn Phật Thành là thành phố quang minh của thế giới. Vì quang minh nên ma vương vô cùng sợ hãi. Lúc bắt đầu kiến lập Vạn Phật Thành, ma vương và quyến thuộc trong Tam thiên Ðại thiên Thế giới đều sợ hãi, run rẩy. Bọn chúng muốn dùng mọi phương pháp gây mâu thuẫn để phá hoại Vạn Phật Thành. Phải chăng những người ở trong Vạn Phật Thành đối nghịch lại với chúng? Không phải đâu! Chúng ta luôn luôn đề cao cảnh giác mà tu hành!

Tu hành thì cần dùng định lực "như như bất động" để chế phục, và dùng trí huệ "liễu liễu thường minh" để giáo hóa ma quân trong Tam thiên Ðại thiên Thế giới. Ðương nhiên ma quân không nhất định nghe lời giáo hóa, song mình dùng phương tiện thiện xảo để cảm hóa, làm cho chúng vui vẻ mà quy y Tam Bảo, phát tâm đại Bồ Ðề. Ðó là trách nhiệm của mỗi người trong Vạn Phật Thành.

Trong quá khứ, ngài Vi Ðà và Bồ Tát Già Lam thường đứng ngoài mà nhìn Vạn Phật Thành, coi thử chùa có vươn lên nổi chăng. Song Vạn Phật Thành giờ này đã được kiến lập, quy củ định đặt rõ ràng; cho nên, Hộ Pháp Vi Ðà và Bồ Tát Già Lam, các ngài không thể thờ ơ được nữa! Không thể bỏ lơ trách nhiệm của mình để bọn ma vương thừa cơ phá phách. Bồ Tát Hộ Pháp Vi Ðà xưa kia đã từng phát nguyện hộ trì đạo tràng của Phật Giáo; Bồ Tát Già Lam cũng có phát nguyện sâu rộng hộ trì tất cả các đạo tràng. Thế nên, hiện tại các ngài đừng có thờ ơ, mà cần phải tinh tấn tuần thủ Vạn Phật Thành, đừng để cho ma vương có cơ hội.

Hôm nay là Ngày Quốc Khánh của nước Mỹ và cũng là ngày kỷ niệm thành lập Vạn Phật Thành; mọi người ai ai cũng phải giữ giới luật, ủng hộ Vạn Phật Thành. Những kẻ hộ Pháp như là các vị trời cũng không được "tọa thủ bàng quan," mà cần đặc biệt phát tâm đại Bồ Ðề ủng hộ Ðạo tràng Hoa Nghiêm này; bởi vì Vạn Phật Thành là cảnh giới của Hoa Nghiêm, tuyên dương Ðại Pháp Hoa Nghiêm, giáo hóa tất cả ma quân ở trong Tam thiên Ðại thiên Thế giới. Trong quá khứ, ma vương thường tới Vạn Phật Thành để nhiễu loạn và thường hay phá hoại quy củ của Vạn Phật Thành, song bắt đầu từ ngày hôm nay chúng ta phải đem quy củ đó mà kiến lập, làm Chánh Pháp càng ngày càng sáng soi rực rỡ!

 

35

 

 

THIÊN HẠ BỔN VÔ SỰ,

DUNG NHÂN TỰ NHIỄU CHI

(Trên đời vốn chẳng có chuyện gì,

chỉ do người ngu tự đặt chuyện)

 

Mình nghĩ rằng mình làm được chuyện tốt, kỳ thật chuyện đó không nhất định là tốt. Bởi vì sao? Bởi vì chủng tử của mình không trong sạch. Khi mình đem lòng tham ra làm việc thì chủng tử không trong sạch, đem lòng háo thắng ra làm việc thì cái hạt giống cũng bất tịnh.

Như vậy thì phải làm sao? Phải "hành sở vô sự," nghĩa là làm cái chuyện không có gì cả. Làm chuyện gì thì phải coi chuyện đó như là bổn phận của mình, đừng hướng ngoại mà truy cầu, đừng vì có sự cầu cạnh mà làm. Hàng ngày điều gì mình làm phải coi như là "hành sở vô sự"; cho nên nói rằng:

 

"Bổn lai vô nhất vật,Hà xứ nhạ trần ai?"

(Xưa nay chẳng có vật, ở đâu dính bụi bặm?)

Hoặc nói:

 

"Kiến sự tỉnh sự xuất thế gian,

Kiến sự mê sự đọa trầm luân.

Nghĩa rằng:

 

"Thấy việc, tỉnh ngộ: vượt trần gian,

Thấy việc, si mê: đọa luân hồi."

 

Con người ở trên đời thì đầy vọng tưởng điên đảo, không dễ mà trừ khử được. Nếu như trừ đặng thì "viễn ly điên đảo mộng tưởng" rồi, chứng đắc "cứu cánh Niết Bàn" rồi!

"Không" cũng chẳng phải là không, "sắc" cũng chẳng phải là sắc, thì đó là "bổn địa phong quang," là nhà mình ở quê xưa. Nhưng vì chúng ta người nào cũng quay lưng lại với giác ngộ mà hợp với trần lao bụi bặm, không biết được mảnh đất cố hữu của mình cho nên điên đảo, chạy bên đông dông bên tây, cầu danh tìm lợi. Chừng khi mình đã được danh được lợi rồi thì ôi thôi! Tiếc thay mình đã gần xuống lỗ rồi!

Cho nên, nếu chẳng phải là "thiên hạ bổn vô sự, dung nhân tự nhiễu chi" thì còn là gì nữa? Trên đời vốn chẳng có chuyện gì, chỉ do người ngu tự đặt chuyện mà thôi.

 

36

 

 

VÌ NỀN GIÁO DỤC

MÀ LÀM CHUYỆN GIÁO DỤC

(Vạn Phật Thành ngày 27 tháng 8 năm 1982)

 

Tại Vạn Phật Thành, những điều mà chúng ta làm ở đây cùng với người ngoài đời hoàn toàn khác biệt. Ví dụ như hiện tại có trường tiểu học, trung học, đại học, nhưng đều miễn phí.

Vì sao như vậy? Bởi vì hiện nay có rất nhiều trường học không chú trọng đến giáo dục, chỉ biết làm sao thu học phí, biến trường học thành nơi buôn bán học thức. Học sinh tới học thì chúng ta phải dạy sao cho chúng đừng bị tư tưởng tham lợi làm mờ tâm trí, đừng chú trọng đến tiền. Người xưa đi học là muốn sáng tỏ đạo lý; hiện tại người đi học chỉ vì ham danh lợi, làm thế nào để được nổi danh, để có lợi nhiều. Ðó là vì sao? Là bởi phương pháp giáo dục ở trường học sai lầm, rồi hậu quả là thế giới càng ngày càng suy sụp, đọa lạc.

Thế giới hiện tại có hai loại yêu quái xuất hiện nuốt chửng con người. Tuy bị nuốt chửng nhưng ta không hề hay biết. Có kẻ nghĩ rằng: "Ồ! Hai con yêu quái đó tôi đã biết rồi, tức là đầu đạn nguyên tử với đầu đạn khinh khí hay tia laser, tia X chớ gì?" Chẳng phải đâu! Những thứ đó chưa cao siêu bằng loại yêu quái mà tôi nói! Hai loại yêu quái tôi nói đây tức là computer và Tivi.

Computer, tiếng Trung Hoa gọi là điện não, bởi là "não" cho nên nó đoạt mất trí huệ của con người. Tivi, tiếng Trung Hoa gọi là điện thị, chữ "thị" nghĩa là thấy, do đó nó cướp mất khả năng thấy của mình. Có người hỏi rằng: "Hằng ngày tôi coi Tivi tại sao mắt tôi chưa bị đui?" Ðui tức là mình không còn nhận thức được chân lý nữa! Mình đã mê, lại chồng chất thêm mê, đã mù lại bị kẻ mù dẫn đường. Do vậy hiện tại những kẻ giết người, cướp của, phá hoại, làm đủ chuyện xấu xa đều do học nơi Tivi mà ra cả. Song người ta không biết điều đó, còn cho rằng Tivi v.v... là sản phẩm tối tân của thời đại tiến bộ. Kỳ thật, các vị không biết tai hại giết người của nó.

Hiện tại còn có một loại yêu quái thứ ba xuất hiện nữa. Ðó là gì? Ðó là người máy (robot). Robot sẽ đoạt mất công việc của con người, khiến con người trong tương lai không biết còn làm được gì nữa? Nếu con người mà vô ích thì sẽ thành phế nhân.

Bởi vậy ở Vạn Phật Thành nếu mình biết được một chút, thì làm một chút, chứ không buôn bán chữ nghĩa. Chúng ta cần phải chơn chính giáo dục trẻ em, dạy chúng hiểu làm sao hiếu thuận với cha mẹ, trung thành với quốc gia; biết hạ mình để tiếp người, có tư tưởng nhân, nghĩa, đạo đức. Phải chăng tư tưởng này thật là ngây thơ? Song các vị thử nghĩ có phương pháp nào tốt hơn để cải biến tai ương trên thế giới này?

Muốn cải biến tai ương trên thế giới thì chỉ có trung, hiếu, nhân, nghĩa, đạo đức mới cứu được lòng người đã chìm đắm, mới hàng phục được yêu ma. Cho nên ở đây các trường tiểu học, trung học hay đại học đều miễn phí cả. Do đó, nơi điểm này thôi, các vị phải đặc biệt thấu hiểu rằng đây không phải chỉ làm việc lấy lệ hay làm vì lợi lộc như các chỗ khác.

Lại còn một nguyên nhân nữa: lúc tôi còn trẻ thì tôi học không nhiều. Ðối với nền học vấn phổ thông thời đại tôi không giỏi cho lắm. Nên tôi chỉ muốn tạo cơ hội và điều kiện tốt cho những thanh niên trẻ để họ huân đúc nền đạo đức, nhân, nghĩa; khiến tương lai họ trở thành bậc lương tài hữu dụng cho quốc gia, trụ cột cho xã hội.

 

37

 

 

NHÂN ÁC LỚN NHẤT LÀ

SÁT SINH, ĂN THỊT

(Vạn Phật Thành ngày 29 tháng 8 năm 1982)

 

Mỗi người đều có nhân quả báo ứng của riêng mình. Hễ tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó. Không những chỉ có loài người là phải chịu quả báo mà tất cả chúng sanh cũng vậy; tạo nghiệp từ xưa, ngày nay gặt quả. Ðiều đó không dễ hiểu đâu. Ví như bị đọa làm súc sinh hoặc ở nơi ác đạo thì rất khó khôi phục lại thân người; nên nói rằng:

 

Nhất thất nhân thân,

Vạn kiếp nan phục.

Nghiã là:

 

Thân người mất rồi,

Vạn kiếp khó tìm.

 

Trên thế gian, có hai loại nhân: một là nhân thiện, hai là nhân ác. Khi mình trồng nhân thiện thì gặt quả thiện, khi trồng nhân ác thì gặt quả ác.

Người trồng nhân thiện đi đâu cũng biết "khắc kỷ phục lễ" (tự ghép mình theo lễ nghĩa), "khuất kỷ đãi nhân" (hạ mình mà đối đãi với người); lúc nào cũng không chiếm đoạt tiện nghi của kẻ khác, luôn luôn sẵn sàng chịu thua thiệt. Hễ ai gặp điều gì khó khăn thì mình lập tức giúp đỡ. Lúc nào cũng có chí làm điều thiện, lập công tu đức, chứ không phải như kẻ chỉ biết lợi cho mình mà không nghĩ tới lợi ích của kẻ khác. Khi công đức thiện của mình đầy đủ thì tự nhiên mình sẽ thăng tiến, cho nên nói: "Chủng thiện nhân, Kết thiện quả." Từ nơi loài người mình có thể thăng lên cõi trời, rồi từ cõi trời có thể thăng lên cõi A La Hán, cõi Bích Chi Phật, cõi Bồ Tát, từng bước từng bước mà thăng tiến. Ðó là khí thế hết sức hưng thạnh. Hễ tạo công đức gì thì nhất định có được quả báo nấy, công đức không bao giờ mất đặng.

Thế nào là trồng nhân ác thì tương lai sẽ gặt quả xấu? Tức là nếu mình tạo ra oan nghiệt, phạm đủ thứ lỗi lầm, thì tương lai sẽ thọ quả báo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ai bảo mình làm nhân ác như vậy? Chẳng có ai bảo cả mà tự mình tạo lấy. Có câu rằng: Tự tác nghiệt, Bất khả hoạt. (Tự mình tạo ra điều oan nghiệt, không ai có thể tha thứ cho mình được.) Trồng nhân ác thì sẽ đọa vào ba ác đạo. Tóm lại, làm điều thiện thì được thăng lên, mà làm điều ác thì bị đọa xuống. Do đó, mọi thế giới đều do mình tạo ra, tự mình phải làm chủ, đừng ỷ lại vào kẻ khác.

Song, cái nhân ác lớn nhất là gì? Tức là sát sinh! Con người nếu phạm Ngũ Giới (sát, đạo, dâm, vọng, tửu) thì sẽ rất dễ đọa vào ba ác đạo và cũng rất dễ thành kẻ đầy dẫy tri kiến sai lầm, tà vọng, không tin Phật Pháp, không kính Tam Bảo. Ðọa vào ba đường ác rồi thì khổ không cách gì nói được.

Tội lỗi lớn nhất mà mình đã phạm là gì? Tức là sát sinh, ăn thịt. Nếu bạn ăn thịt của người thì sau đó người sẽ ăn thịt của bạn lại. Hỗ tương ăn thịt lẫn nhau, hỗ tương chém giết, rồi hỗ tương đọa lạc. Một khi đã đọa lạc thì khó mà tiến lên được, đó là điều hết sức nguy hiểm, là đi vào "hiểm lộ" vậy. Có câu rằng:

 

"Tam Giới vô an,

Do như hỏa trạch."

Nghĩa là:

 

"Ba cõi không an,

Giống như nhà lửa."

 

Ðáng tiếc là tuy nhà cháy mà người ở trong đó vẫn thản nhiên coi thường!

Ngày hôm nay cử hành pháp hội Vu Lan, các vị thử nghĩ xem: Chúng ta và Tôn giả Mục Kiền Liên, ai là người có đạo đức tu hành cao hơn? Tuy công đức của Ngài cao như vậy mà còn phải thỉnh Phật siêu độ mẹ Ngài; sau đó Phật đặt ra Pháp hội Vu Lan để siêu độ cho cha mẹ, tổ tiên trong bảy đời. Ðem mình so sánh với ngài Mục Kiền Liên thì mình không thể nào bì được. Song phụ mẫu, tổ tiên của mình thật là đang chờ mình cầu xin siêu độ cho họ đó. Bởi vậy chúng ta đừng lãng phí thời gian, và đừng quên bổn phận làm người. Một khi mất thân này thì có hối hận cũng đã quá trễ!

 

38

 

 

ÐÔN PHẨM LẬP ÐỨC

(Vạn Phật Thành ngày 10 tháng 10 năm 1982)

 

Người học Phật cần phải làm cho Phật Giáo ngày một phát triển sáng lạng, đừng để Phật Giáo ngày một suy thoái. Làm thế nào để càng ngày càng phát triển sáng lạng? Ðầu tiên phải bồi dưỡng phẩm cách cho ưu tú, lấy đó làm nền tảng tốt. Khi có nền móng vững vàng thì tòa lâu đài xây lên không thể sụp đổ. Không thể xây một tòa cao ốc từ một nền móng không kiên cố được. Trên phương diện tu hành thì cần phải có căn bản vững vàng, trước tiên cần phải "đôn phẩm lập đức."

Thế nào gọi là "đôn phẩm"? Tức là làm cho phẩm hạnh được đôn hậu. Thế nào là đôn hậu? Tức là tính tình đừng có khắc nghiệt, đừng có nhỏ nhen, đừng có hiểm trá quanh co. Nói một cách khác thì tâm lượng phải rộng lớn như hư không, bao trùm cả Pháp Giới, không có gì mà không bao phủ hay không dung nạp đặng!

Các vị thử nghĩ coi, hư không nào phải chỉ dung nạp những thứ tốt đẹp thôi, nó sẵn sàng bao nạp cả khí ô nhiễm, bẩn nhơ. Chúng ta cũng vậy: Mình phải có tâm lượng rộng lớn, dung nạp mọi thứ trong hằng hà sa số thế giới, nào là Tam Giáo, nào là Cửu Lưu, tất cả mọi hình sắc, vạn vật, tốt xấu, thiện ác đều phải dung nạp hết. Ðó chính là làm cho phẩm hạnh đôn hậu, là bồi đắp cho đức hạnh của chính mình.

Mình cần phải nhún nhường mà tiếp đãi người khác, luôn luôn nhận rằng mình có lỗi lầm và tiếp thọ sự khuyến khích, chỉ bày của kẻ khác. Lúc nào cũng tìm cách sửa đổi cho tốt hơn, đừng nên chấp ngã, đừng nên có ngã tướng, không nên coi cái "tôi" này là to lớn, quan trọng. Ðó chính là "đôn phẩm lập đức," làm cho cái nền tảng của bản thân được vững vàng. Nếu làm được vậy thì nhất định Phật Giáo sẽ phát triển, sáng lạng!

 

39

 

 

ÐẠO

(Vạn Phật Thành ngày 10 tháng 10 năm 1982)

 

Cá ở trong nước mà không biết đang ở trong nước. Con người sống ở trong không khí nhưng không thấy được không khí. Tuy nhìn mà chẳng thấy, nhưng không thể nói không có không khí. Không khí tuy không có hình tướng nhưng chẳng phải là không có không khí.

Cá sinh trong nước, nó nhìn mà chẳng thấy nước; song một khi cá ra khỏi nước thì nó không thể sống được. Con người nhờ vào không khí mà sinh tồn; tuy ăn không khí không làm mình no, song mình cần không khí để sinh tồn. Vạn vật sẽ chết vì thiếu không khí.

Nhân gian thì có không khí; ở trên trời cũng có một loại Thần khí, Thần tánh; ở nơi Phật thì có Phật tánh. Phật tánh và Thần tánh tuy không thể thấy được, song cảnh giới của Thánh nhân thì không thể không có. Nếu không có Thần khí thì chư thần sẽ đọa lạc. Nếu không có Phật tánh thì cũng không có Phật. Ðó thật là cảnh giới vô cùng kỳ diệu.

"Tu hành" tức là tu Ðại Ðạo vô hình, tu Ðại Ðạo vô tình, tu Ðại Ðạo vô danh. Cho nên Thái Thượng Lão Quân có nói trong Thanh Tịnh Kinh rằng:

 

"Ðại Ðạo vô hình, sinh dục thiên địa.

Ðại Ðạo vô tình, vận hành nhật nguyệt.

Ðại Ðạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật.

Ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh vi Ðạo."

Nghiã là:

 

"Ðại Ðạo chẳng có hình dáng, nhưng sinh ra trời đất.

Ðại Ðạo chẳng có tình cảm, song xoay vần nhật nguyệt

Ðại Ðạo chẳng có tên tuổi, song nuôi dưỡng vạn vật.

Ta chẳng biết tên là gì, đành gọi là Ðạo vậy."

 

Chữ "Ðạo" này, theo chữ Hán thì trên đầu có hai chấm, tức là điểm âm và điểm dương; lại cũng từ chữ "nhân", nghiã là người, mà biến hóa ra, hai điểm này là chữ "nhân" viết lộn ngược. Tu Ðạo có nghĩa là phải lộn ngược trở lại, là đi ngược dòng nước chứ không phải đi thuận theo dòng nước. Ði thuận theo dòng nước tức là sinh tử, mà đi ngược dòng nước tức là Niết Bàn! Chữ "nghịch", nghĩa là ngược, phía trên cũng có hai chấm, đó cũng là do chữ "nhân" mà ra. Cho nên muốn thuận thì thuận, muốn ngược thì ngược. Ởấ phía dưới hai chấm trong chữ "Ðạo" thì có một lằn ngang, tức là chữ "nhất". Chữ "nhân" này phân chia ra thành một âm một dương; "thiên âm, thiên dương" thì gọi là "Cực" ("thiên" nghĩa là thiên lệch, khi âm thiên lệch hay khi dương thiên lệch thì đến chỗ cùng cực).

Còn Ðạo người thì ở chỗ nào? Từ nơi chữ "nhất" này, tức là số một (1) mà tìm. Một (1) là bản thể của các số. Một này từ đâu mà có? Một này từ nơi số không (0) mà ra. Ðã "không" thì chẳng có trong cũng chẳng có ngoài, không bắt đầu cũng không kết thúc, quét sạch tất cả các pháp, lìa bỏ tất cả các tướng; phóng ra thì bao quát mọi thứ, cuộn lại thì ẩn tàng chẳng thấy. Tất cả vạn vật bắt đầu từ "số không" này mà ra. Cho tới sông núi, đất đai, phòng ốc nhà cửa, sâm la vạn tượng đều từ nơi "số không" này mà bắt đầu.

Nói một cách rõ ràng hơn thì "số không" này chính là bản hữu Phật tánh, là Ðại Quang Minh Tạng rực rỡ sáng ngời, nếu thâu nhỏ lại thì nhỏ hơn hạt bụi, nếu biến lớn ra thì lớn trùm Pháp Giới. Cho nên lớn vô cùng mà nhỏ cũng vô cùng; chẳng có hạn lượng nào cả chính là "số không" vậy. Song, con người không biết giữ gìn quy củ, đem "số không" này mà phá vỡ đi, cho nên biến thành "số một." Do đó nếu chỉ có "số không" mà thôi thì không có "số một," cũng chẳng có các số khác, và cũng chẳng cần thiết phải có các số khác!

Bởi vậy cho nên bản lai là hào quang sáng ngời rạng rỡ, sau đó thì biến thành Một. Một này: một bên tức là âm, một bên tức là dương, có nghĩa là từ một âm một dương mà sinh ra muôn vật. Con người tu Ðạo thì phải từ nơi số Một này mà bắt đầu.

Trong chữ "Ðạo", ở dưới nét chữ "nhất" thì có chữ "tự", bây giờ mình phải đi kiếm chữ "tự." Chữ "tự", nghiã là chính mình, gồm có dấu phết

và chữ "mục" nghiã là con mắt; tức là phải dùng con mắt mà hồi quang phản chiếu, mà hướng vào bên trong, không phải chạy ra ngoài mà nhìn. Ðóng con mắt lại là chữ "tự", tức là chính mình.

Bây giờ, nếu thêm chữ "sước" ở một bên nữa thì thành ra chữ "Ðạo", ý nói Ðạo là cần phải tu, bởi vì chữ "sước" có nghĩa là đi, là bước, là thực hành.

Ông Hàn Dũ ở trong Tập Nguyên Ðạo có nói rằng:

"Do thị nhi chí yên chi vị Ðạo."

(Từ nơi này mà đi tới chỗ kia thì gọi là Ðạo.)

"Ðạo" có nghĩa là đường đi, cho nên tu Ðạo thì cần phải cung hành thực tiễn, thật sự tu hành, phải nỗ lực và hết sức thành tâm. Nếu mình muốn phản bổn hoàn nguyên thì cần phải từ nơi "số một" này mà tu về"số không."

"Ðắc nhất vạn sự tất" (được Một, mọi sự đều xong). Nếu mình khôi phục lại được "số không" này, tức là mình có thể trở về với bản lai diện mục và có thể chuyển diệu Pháp Luân.

 

40

 

 

CHÂN, THÀNH, HẰNG

(Vạn Phật Thành ngày 22 tháng 10 năm 1982)

 

Kẻ tu hành không được đi rao bán, quảng cáo hay tuyên truyền sự nghiệp tu hành của bản thân. Khi rao bán, quảng cáo chuyện tu của mình thì có thể bị ma quỷ phá rối!

Có người tu thì được Phật tới hộ trì; có kẻ được Bồ Tát tới hộ trì, có kẻ được các vị A La Hán đến bảo vệ; có người được Trời ủng hộ; có người được quỷ thần hộ trì; có người thì được người đến hộ trì; nhưng có kẻ thì được yêu ma quỷ quái tới hộ trì. Bởi những kẻ đó có tâm tà, cho nên ma quỷ mới lại làm bạn với họ. Hễ có sự hiểu sai thấy lầm, tà tri tà kiến thì mình sẽ phát sinh ra rất nhiều thứ ma quỷ; tức là cống cao, ngã mạn, cuồng ngạo. Nếu mình không biết khiêm nhường, nhẫn nại, không biết tự nhận lỗi lầm, thì mình có thể gặp rất nhiều chướng ngại.

Vì vậy hôm nay tôi muốn nói với các vị một phương pháp tu hành chơn thật. Bí quyết của sự tu hành gồm có ba chữ:

1. Chân: nghĩa là không hư ngụy, không giả trá; làm chuyện gì cũng hết sức chơn thật.

2. Thành: nghĩa là thành tâm, hết sức cung kính, hết sức thành khẩn, không lười biếng giải đãi, không làm qua loa lấy lệ.

3. Hằng: nghĩa là luôn luôn kiên định, hằng thường bất biến, không thay đổi.

Phàm mỗi hành động, mỗi lời nói đều phải có tâm chân, thành, hằng. Làm việc gì mình cũng có ba cái tâm đó thì tương lai nhất định sẽ thành tựu.

 

41

 

 

LỜI KHUYẾN KHÍCH ÐẦU NĂM

(Vạn Phật Thành ngày 10 tháng 2 năm 1983)

 

Thời gian qua thật là mau. Giờ đây năm cũ đã hết và năm mới đã tới mà mình chẳng hay biết. Ðời người cũng vậy, từ lúc sinh ra đến khi già rồi chết, mình cũng chẳng hay biết. Sinh, lão, bịnh, tử quay cuồng chóng vánh mà con người thì hồ đồ cứ để hết năm này đến năm khác trôi qua. Nếu chẳng giác ngộ vấn đề sinh tử thì mình sinh ra một cách hồ đồ, rồi chết đi một cách hồ đồ. Sống như vậy còn có ý nghĩa gì? Hãy nhìn xem! Mỗi quốc gia, mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều hướng về con đường già, chết ấy; sinh ra trong hồ đồ, rồi chết đi trong hồ đồ!

Sinh tử hồ đồ là do bị vô minh che lấp. Vì sao có vô minh? Vì "nhất niệm bất giác sinh tam tế" (do một niệm ngu tối mà sinh ra ba trạng thái vi tế của tâm thức là Nghiệp tướng, Hiện tướng và Chuyển tướng). Một khi ba tướng đã phát sinh thì biến hóa vô cùng tận; do đó, trong cuộc sống của mình có ngàn vạn trạng thái, đủ thứ nhân duyên. Nếu mình giác ngộ được trạng thái này thì phải mau phát tâm Bồ Ðề, cầu có trí huệ để thông suốt mọi sự.

Phật là đấng vô cùng trí huệ, hết sức thông đạt, cho nên Ngài được gọi là bậc Ðại Giác. Chúng ta cần phải từ nơi chỗ hồ đồ, ngu muội mà trở về chỗ minh bạch sáng suốt. Trước tiên cần phải tận lực quét sạch đi tất cả những thói hư, tật xấu, lỗi lầm; và lúc đó, trí huệ quang minh sẽ hiện tiền.

Năm nay, Tết đến chúc các vị sinh tâm đại giác ngộ! Một ngày đã qua, Mạng cũng giảm dần, Như cá cạn nước, Thử hỏi gì vui? Ðại chúng! Hãy siêng tinh tấn, Như đầu bị đốt, Luôn nhớ vô thường, Chớ mặc buông lung!

 

42

 

 

CÓ NÊN ÐỂ CHO TRẺ EM

TỰ DO PHÁT TRIỂN CHĂNG?

(Vạn Phật Thành ngày 20 tháng 3 năm 1983)

 

 

"Thiên địa chi đại,

Tứ hải chi khoan,

Vô kỳ bất hữu."

Nghĩa là:

 

"Trời đất rộng lớn,

Bốn biển mênh mang,

Chuyện lạ đầy dẫy."

Thế giới có vô số những chuyện đặc biệt, kỳ dị mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Song chuyện gì cũng một phần là do trời tạo, một phần là do người tạo. Trời tạo mà người không làm gì cũng không thành công; người làm mà trời không tạo thì cũng không có căn bản. Cho nên, trên đời chuyện gì cũng tương đối, có thiện có ác, có âm có dương, có đúng có sai, có tốt có xấu; đó là pháp đối đãi.

Vì là pháp đối đãi, nếu người biết làm thì điều xấu có thể biến thành điều tốt, nếu người không biết làm thì tốt cũng trở thành xấu! Cũng vậy, người biết dụng công thì lúc âm khí cực thạnh cũng có thể biến hóa thành dương khí, và lúc dương khí hết sức cang cường cũng có thể làm cho điều hòa. Âm thuộc về tĩnh, về nhu; còn dương thì thuộc về động, về cương; cho nên điều tốt điều xấu đều do con người làm ra. Cổ nhân nói:

 

"Cận chu giả xích,

Cận mặc giả hắc,

Nhiễm ư lam tắc lam,

Nhiễm ư hoàng tắc hoàng."

Nghĩa là:

 

"Gần son thì đỏ,

Gần mực thì đen,

Nhuộm xanh thì xanh,

Nhuộm vàng thì vàng."

Ở nước Trung Hoa có một vị Á Thánh tên là Mạnh Tử. Lúc còn nhỏ, cha mất sớm, chỉ có mẹ nuôi dưỡng Ngài. Lúc đầu, nhà của Ngài cạnh nhà người đồ tể. Vì còn nhỏ, tai nghe mắt thấy chuyện gì cũng dễ tiêm nhiễm, cho nên Ngài ngày ngày học cách người đồ tể thọc huyết trâu, dê. Mẹ của Ngài thấy vậy thì biết rằng nếu để Ngài tự do phát triển thì tương lai nhất định Ngài sẽ trở thành một tên đồ tể. Vì vậy bà lập tức dọn nhà đi, và dọn tới bên cạnh nghĩa địa.

Bấy giờ Mạnh Tử lại học cách người coi mộ: quét đất, thắp nhang, dâng hoa, cúng tế người chết. Mẹ Ngài lúc đó mới nghĩ rằng: "Không xong rồi! Con nít mà để cho phát triển tự do thì tương lai con mình sẽ trở thành kẻ coi mộ chớ có lợi gì?" Bởi vậy lần thứ hai bà lại dời nhà đi nữa. Lần này, bà dọn nhà tới bên cạnh trường học.

Ở cạnh trường học, ngày ngày Mạnh Tử tận tụy bắt chước những học sinh ở đó: lên lớp chào thầy, về nhà lễ cha mẹ. Tuy nhà không có tiền, nhưng Mạnh Tử ra sức học hành; đối với việc đọc sách, đi, đứng, lễ, nghĩa, ông rất thành thạo. Mẹ Ngài thấy như vậy bèn quyết định sẽ ở đó luôn vì hễ con của bà bắt chước kẻ đọc sách thì tương lai sẽ thành đạt.

Nhưng không lâu thì Mạnh Tử nổi tính phá phách, ngỗ nghịch, không còn muốn học nữa. Một hôm, mẹ Ngài đang lúc dệt tơ, thấy con đi học mà bỏ ngang về nhà thì liền cắt khung cửi, khiến dây tơ dứt làm hai đoạn. Mạnh Tử thấy vậy liền nghĩ rằng: "Khung cửi đứt, không còn dệt được, tất sinh kế nhà mình sẽ khó khăn, bởi mọi sinh hoạt hàng ngày đều dựa vào nghề dệt vải này." Cho nên Ngài mới hỏi mẹ rằng: "Tại sao mẹ lại cắt khung cửi như vậy?"

Bà trả lời: "Con nay chẳng chịu học hành thì cũng giống như khung cửi không còn dệt được nữa vậy!" Mạnh Tử nghe xong hết sức hổ thẹn, quyết chí dụng công học hành. Về sau, Ngài trở thành một vị đại thánh nhân của Nho học.

Ởấ nước Mỹ này, tôi không thể nói rằng tự do phát triển là hoàn toàn không đúng. Song, nếu tự do phát triển thái quá thì đó là một điều sai lầm. Quan niệm này nếu tồn tại thì sẽ nuôi dưỡng hậu hoạn. Trẻ con cũng giống như cây non đang độ lớn; nếu cây đâm chồi nảy nhánh loạn xạ tất cần phải cắt tỉa đi thì tương lai cây mới mọc thẳng, cũng như trẻ con phải được dạy dỗ chu đáo thì mới có thể trở nên trụ cột của quốc gia sau này!

Nếu con trẻ có tật viết tay trái thì không thuận tiện cho lắm. Tay mặt thuộc về tánh nhu thuần, tay trái thuộc về tánh cương cường; tay mặt là âm, tay trái là dương. Nếu trong nhà có con em viết tay trái thì tốt nhất nên sửa lại, để viết tay phải thì thuận hơn. Cũng giống như đi nhiễu Phật thì đi từ bên phải qua, mọi thứ đều từ bên tay phải mà bắt đầu, đó mới hợp với bản tánh, mới linh hoạt được. Con em thuận tay trái thì tánh tình ít nhiều có đặc tính cương cường.

Tôi đề nghị với các bậc làm cha mẹ rằng hễ con cái có điểm nào sai lầm thì nên cấp thời sửa đổi lỗi lầm của chúng. Ðể tự do phát triển thì tương lai chúng sẽ biến thành "hippy," lưu manh, du đãng. Khi đó chúng ta phải làm gì? Có câu:

 

"Dưỡng bất giáo phụ chi quá,

Giáo bất nghiêm sư chi đọa."

Nghĩa là:

 

" Nuôi mà không dạy là lỗi của cha,

Dạy mà không nghiêm là thiếu sót của thầy."

 

Chẳng lẽ chúng ta không cẩn thận ngăn ngừa sao? Nếu muốn nói đến chân chính tự do phát triển thì phải bỏ trẻ con vào núi cao rừng hoang, không có câu thúc gì cả, cho chúng tự do sinh tồn giống như thảo mộc tự nhiên sinh trưởng vậy. Nếu không thì không thể đề cập tới "tự do phát triển" được. Nếu cho rằng chìu theo ý trẻ con muốn là tự do phát triển, thì đó là một quan niệm sai lầm. Trẻ con làm đúng thì cổ võ, khích lệ để cho chúng tiếp tục làm; nếu chúng làm sai thì mình phải chấn chỉnh để chúng tiến tới điều chánh, điều thiện. Ðể nhân loại tiếp tục sinh tồn trong xã hội này, mình phải duy trì hành động có trí huệ; không thể dùng lầm danh từ "tự do phát triển" này được.

Khi để trẻ con tự do phóng túng, thì trong tương lai chúng sẽ biến thành những thanh thiếu niên hư hỏng, hết sức bạo ngược, cang cường. Chúng không thể thành người anh tuấn mà sẽ là những phần tử hư hỏng của xã hội. Nếu đất nước thiếu những bậc lương đống, anh tài thì hậu quả thật khó lường được vậy!

 

43

 

 

NGUY CƠ CỦA SỰ TIẾN BỘ

KHOA HỌC, KỸ THUẬT

(Vạn Phật Thành ngày 25 tháng 3 năm 1983)

 

Nhân loại ai ai cũng "hướng ngoại truy cầu." Vì cầu ở ngoài tâm cho nên càng cầu thì càng xa gốc, không sao tới được đích; mà càng không tới được đích thì càng muốn truy cầu thêm. Ðó gọi là "bỏ gốc theo ngọn, bỏ gần theo xa."

Các vị cho điện não (computer), Tivi, điện thoại, tủ lạnh, v.v... là hay, là đẹp, kỳ thật chúng tượng trưng cho vật bên ngoài đã làm con người mê muội, ham chấp trước, không giác ngộ. Nhưng nếu mình thật sự thông suốt mọi sự thì những thứ đó có thể giúp mình giác ngộ. Lục căn (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý) là sáu tên cướp (Lục tặc) làm cho con người đọa lạc, nhưng nếu biết cách dùng chúng thì có thể tu hành thành Ðạo Vô Thượng Bồ Ðề, thành Phật!

Tuy ở bên ngoài có điện não xuất hiện, song trong tự tánh của mình cũng đầy đủ những thứ vi diệu bất khả tư nghì như vậy. Xưa nay mình vốn không cần thiết phải hướng ngoại truy cầu. Song, bởi vì cái bảo bối kỳ diệu khó diễn bày gọi là "thường trụ chân tâm, tánh tịnh minh thể" của chúng ta bị Ngũ ấm che khuất, cho nên bảo bối đó không thể xuất hiện được. Rồi thì do vô minh nên mình lại bỏ gốc chạy theo ngọn, bỏ cái gần chạy theo cái xa, mà không biết quay đầu nhìn lại tự tâm mình.

Có điện não bên ngoài là do có điện não trong tự tánh của mình. Ðiện não đó gọi là Thần não, cũng có thể gọi là Thánh não, Phật não, hay Ðại Trí Huệ. Hiện tại các khoa học gia tuy phát minh được đủ thứ tân kỳ, song chúng đều là những thứ ở bên ngoài tự tâm, càng cầu càng tìm chúng thì lại càng xa gốc. Các khoa học gia chỉ hiểu những thứ hời hợt bề ngoài mà thôi; tuy có vẻ như đạt được chỗ sở đắc, kỳ thật, họ đánh mất đi bản hữu trí huệ của họ, cho nên gọi là "bỏ gốc, theo ngọn."

Người tu Ðạo thì phải "bỏ ngọn, theo gốc," phải làm sao để Phật tánh bản hữu của mình được viên mãn, phải làm thế nào để phản bổn hoàn nguyên, để khôi phục lại bản hữu trí huệ, tức là Ðại Viên Cảnh Trí, Bình Ðẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, Thành Sở Tác Trí. Nếu đem điện não so sánh với bốn Trí này thì điện não bất quá chỉ bằng một phần trong hàng trăm ngàn vạn ức phần của bốn Trí kia. Nhiều người lấy đồng thau mà cho là vàng thiệt, thật đáng thương xót!

Cho nên, chúng ta là kẻ tu Ðạo thì phải nhận chân được bản hữu trí huệ của mình, không cần phải truy cầu những thứ cao siêu xa vời ở bên ngoài.

Chúng ta hoàn toàn không cần đến những vật bên ngoài ấy sao? Tôi đã từng nói rằng điện não là thứ yêu quái do khoa học sinh ra, làm cho con người thất nghiệp, lười biếng giải đãi, ưa thích phóng túng, ghét làm lụng cực nhọc. Nếu tệ trạng này tiếp tục thì chẳng bao lâu loài người sẽ biến thành đồ phế thải, không còn dùng được nữa. Khi con người đã vô dụng thì đương nhiên cuộc hý trường tại thế gian này sẽ mau chóng bế mạc; bởi vì con người thành vô dụng thì cần con người làm gì nữa? Song ngược lại, nếu con người giác ngộ, thì họ sẽ dùng trí huệ để sử dụng kỹ thuật, không để cho kỹ thuật khống chế con người. Lúc đó, đương nhiên con người sẽ tạo ra rất nhiều sản phẩm có lợi ích cho nhân quần!

Nói tóm lại, cũng là một sản phẩm song điều quan trọng là chúng ta có biết sử dụng nó hay chăng. Mình phải sử dụng điện não, không để nó khống chế mình! Cho nên nói rằng:

 

"Kiến sự, tỉnh sự: xuất thế gian,

Kiến sự, mê sự: đọa trầm luân."

Dịch là:

 

"Thấy việc, liền thức tỉnh: vượt trần gian,

Ðụng chuyện, mà lờ mờ: đọa luân hồi."

 

44

 

 

NÂNG CAO TIÊU CHUẨN HÀNG TĂNG SĨ,

TÍCH CỰC XIỂN DƯƠNG KINH LĂNG NGHIÊM

(Vạn Phật Thành ngày 14 tháng 4 năm 1983)

 

Chúng ta đang ở trong thời Mạt Pháp, đã xa Phật quá lâu, song Pháp chưa hoàn toàn tiêu diệt. Các vị vẫn còn cơ hội y chiếu theo lời Phật dạy mà tu hành, các vị vẫn còn cơ hội chứng quả thành Phật!

Nếu bản thân là kẻ xuất gia thì mình phải quyết tâm giữ gìn cái tông chỉ là dù gặp hoạn nạn khó khăn tới đâu cũng không bao giờ thay đổi lập trường. Mặc ai tới phá hoại, mình đừng để bị dao động. Chỉ cần nhận thức rõ ràng việc mình làm, con đường mình đi là quang minh chính đại, rồi cứ dũng mãnh mà tiến bước.

Trong thời Mạt Pháp, thiên ma, ngoại đạo, ly mỵ, vọng lượng, sơn yêu, thủy quái, sợ nhất là Chú Lăng Nghiêm vì Chú Lăng Nghiêm có công năng phá tà hiển chánh, và vì Chú Lăng Nghiêm mà Phật đã giảng Kinh Lăng Nghiêm, một bộ kinh cốt tủy của Phật Giáo!

Con người nếu không có xương tủy thì chết, Phật Giáo không có Kinh Lăng Nghiêm thì Phật Pháp diệt. Cho nên phương pháp tốt nhất để hộ trì Chánh Pháp trong thời Mạt Pháp là học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm cho nhuần nhuyễn. Sau khi đọc và học thuộc lòng đến chỗ hết sức thuần thục, hãy tận lực phát huy đạo lý của Kinh và diễn thuyết cho mọi người nghe. Thế giới này nếu thiếu Chú Lăng Nghiêm thì yêu ma, quỷ quái chẳng sợ hãi gì nữa, chúng sẽ tha hồ hoành hành. Song bởi vì trên thế giới còn có người trì Chú Lăng Nghiêm nên bọn bàng môn, tả đạo, vọng lượng, ly mỵ, sơn yêu, thủy quái, còn kiêng sợ, không dám công nhiên xuất hiện. Nếu không có Chú Lăng Nghiêm thì thế giới này trở thành thế giới của bọn yêu ma, quỷ quái!

Các vị coi, hiện tại tư tưởng con người cũng hết sức cổ quái, có kẻ không bằng loài cầm thú. Ðó là do bọn yêu ma, quỷ quái lộng hành ở thế gian, mê hoặc người đời, khiến họ mất đi trí huệ căn bản, biến thành hạng người tráo trở, hết biết nhân nghĩa, làm chuyện thấp hèn không bằng loài trâu ngựa nữa. Ðó cũng là do càng ngày càng ít người biết tụng Kinh Lăng Nghiêm, trì Chú Lăng Nghiêm nên thiên ma ngoại đạo mới hoành hành, không còn kiêng nể gì cả!

Tuy nhiên Vạn Phật Thành là nơi phát nguyên của Phật Pháp ở Tây phương, là chỗ quy tập tinh hoa của những người tu Ðạo chân chính trên thế gian, cho nên Vạn Phật Thành không phải là địa bàn hoạt động của bọn yêu ma quỷ quái, bọn chúng không thể nào đặt chân tới Vạn Phật Thành được! Có những kẻ không thể ở Vạn Phật Thành được là do họ không đủ đức hạnh, tư tưởng đầy dẫy những thứ tà tri tà kiến, nên chỉ ở một thời gian là họ bị lộ nguyên hình, phải bỏ đi chỗ khác.

Từ đây về sau, ở Vạn Phật Thành, các vị xuất gia và đệ tử tại gia đều cần phải học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm. Như vậy thì đối với Phật Pháp không có công lao nào lớn bằng. Bởi vì có những giáo sư nổi tiếng, những vị học giả trứ danh, thậm chí còn có cả kẻ xuất gia, hiện giờ công khai nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!

Vì sao họ lại điên đảo như vậy? Là do Kinh Lăng Nghiêm đề cập đến Bốn điều răn dạy về sự thanh tịnh, và đồng thời Năm mươi thứ ấm ma. Do đó, bọn họ không thể chịu nổi khi đứng trước những tấm kính chiếu yêu được nói đến trong Kinh Lăng Nghiêm này. Khi họ tự so sánh với năm mươi thứ ấm ma thì bản chất yêu quái của họ hiện ra rõ ràng, và khi tự so sánh với bốn điều dạy về sự thanh tịnh thì họ không làm sao giữ được những quy củ nói đến trong bộ Kinh này. Bởi không chịu nổi sự thật đó nên họ mới che đậy lương tâm, và dèm pha cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!

Cho nên, đối với Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm, chúng ta cần phải nhận thức rõ ràng là không có chú nào linh nghiệm bằng Chú Lăng Nghiêm, không có kinh nào chân chính hơn Kinh Lăng Nghiêm. Là vì kinh này đem tất cả những điều sai trái của thiên ma ngoại đạo, và của cả chúng sinh, trình bày vô cùng rõ ràng, xiển minh hết sức tường tận.

Nếu không có Chú Lăng Nghiêm thì Phật Pháp chẳng còn, thiếu Kinh Lăng Nghiêm thì Chánh Pháp bị tiêu diệt! Vì thế, các vị hãy vì hộ trì Phật Pháp mà nhất định học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm! Nếu lúc nào cũng có thể thuyết giảng được thì mới không hổ thẹn là một đệ tử chân chính của Phật, không hổ thẹn là đã xuất gia một cách uổng phí.

Bởi vậy cho nên các vị đừng để những "học giả trứ danh," những "giáo sư nổi tiếng," hoặc những "Ðại Pháp Sư" làm cho mê hoặc, như kẻ đui đi theo người mù mà tin rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo! Dựa vào đâu mà họ dám nói Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo? Với lời lẽ mù quáng, cống cao, đầy dẫy tà kiến, ngã mạn, cuồng vọng, tương lai họ sẽ chịu quả báo khó tưởng tượng nổi.

Mặc cho gia phong của những đạo tràng khác ra sao, ở Vạn Phật Thành ai muốn xuất gia thì tối thiểu phải có bằng Cử nhân! Nếu các vị đỗ Cử nhân ở trường khác thì cần phải gia nhập chương trình huấn luyện Tăng Già ở Vạn Phật Thành; các vị phải trải qua ba năm huấn luyện nghiêm túc để cho học vấn và đạo đức được ưu tú, rồi mới đủ tư cách thọ giới Cụ Túc làm Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni.

Ở thời đại này, người xuất gia nhất định cần phải xuất chúng, đặc biệt siêu việt, có bối cảnh giáo dục ưu tú, thì mới có thể trở thành bậc Pháp Khí được. Nếu là kẻ không rành chữ nghĩa, cả ngày chỉ biết đi tìm cách móc nối, thủ đoạn, xin xỏ, lợi dụng; hoặc là kẻ giả làm sư để kiếm ăn qua ngày, hoặc chỉ làm những chuyện hoàn toàn không cao thượng, không thanh tịnh, chuyên môn phá giới, thì kẻ đó chỉ làm ô nhục cửa Phật mà thôi, làm sao khiến cho Phật Giáo ngày càng sáng lạng được? Làm sao khiến cho người ta sinh lòng cung kính Tam Bảo đặng?

Vì thế từ đây về sau, những ai muốn xuất gia ở Vạn Phật Thành, bất luận là nam hay nữ, già hay trẻ, trước hết cần đỗ bằng Cử nhân, sau đó cần thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm và Kinh Lăng Nghiêm thì mới đủ tư cách xuất gia. Ngoài ra, người xuất gia cần học thuộc lòng Giới Sa Di, 53 Tiểu chú, Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới và thông đạt Tứ Phần Luật (tức là Giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni). Trước kia, trong đạo tràng này, tiêu chuẩn xuất gia tuy không nghiêm khắc như bây giờ, song tôi không thu nhận đồ đệ một cách cẩu thả. Trước khi thâu nhận ai, tôi hết sức cẩn thận, cho họ trải qua một thời gian dài để quan sát tư tưởng, ngôn hạnh của họ như thế nào rồi mới thâu nhận, thế phát cho xuất gia. Song ở thời Mạt Pháp này, tà ma lộng hành nên tôi chẳng thể không sửa đổi cho triệt để và tích cực đề cao phẩm cách đạo đức và học vấn của người xuất gia. Phàm là kẻ

theo tôi xuất gia thì cần phải "đầu đội trời, chân đạp đất," văn võ toàn tài, là long tượng trong cửa Phật. Thậm chí nếu lấy con mắt tục mà nhìn, thì phải là bậc nhân tài trác tuyệt, phi phàm. Những kẻ theo tôi xuất gia đã lâu cũng cần học thuộc Kinh Lăng Nghiêm và phải có thể sẵn sàng giảng giải nếu cần. Như vậy thì mới thực sự đảm nhận trách nhiệm hoằng dương Chánh Pháp, tiếp nối sứ mệnh của Phật, và cũng không uổng phí sự nghiệp xuất gia của mình!

 

45

 

 

ÐẠO TRÀNG MỚI LẬP

(Vạn Phật Thành ngày 15 tháng 4 năm 1983)

 

Vạn Phật Thành mới được thành lập, mọi sự đều chưa ổn định, nên có những chuyện tạp loạn, không trật tự. Người ngoài tới đây trú ngụ thì hoàn toàn không hiểu rõ quy củ, nên nhiều chuyện làm chưa được viên mãn. Trong giai đoạn này, kẻ tới Vạn Phật Thành thì có tốt có xấu, rắn rồng lẫn lộn. Kỳ thật, kẻ xấu là cái gương cho người tốt, người tốt cũng là cái gương cho kẻ xấu, cho nên hai bên làm gương cho nhau, hỗ tương thuyết pháp, hỗ tương soi chiếu nhau. Con người như vậy, Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp cũng thế, và thiên ma ngoại đạo cũng vậy.

Ởấ đây đạo tràng mới thành lập, có rất nhiều Hộ Pháp. Vì có lẽ từ xưa chưa hề làm qua công chuyện hộ pháp, hoặc vì làm biếng, muốn nghỉ xả hơi, cho nên gặp chuyện rắc rối xảy ra thì họ không biết làm sao giải quyết cho êm đẹp. Cũng giống như người mới tới Vạn Phật Thành, gặp chuyện gì cũng không biết làm sao xử lý. Do đó có rất nhiều thiên ma, yêu quái muốn nhân cơ hội tới đây thừa dịp "nước đục thả câu" để trục lợi.

Tuy nhiên không viên mãn là sự bắt đầu của viên mãn. Những người sống ở Vạn Phật Thành tuyệt đối cần phải có đức hạnh; không có đức hạnh thì không thể nào ở đây được vì họ sẽ cảm thấy không tự do, tự tại. Kẻ có đức hạnh thì thấy thân tâm rất an lạc, rất sung sướng, tự tại. Do nơi cảm giác đó mà có thể biết được Vạn Phật Thành là đạo tràng như thế nào. Người có đức hạnh thì Phật Bồ Tát, Hộ Pháp hết sức hoan hỷ; song bọn ma quỷ lại không ưa. Chúng muốn làm cho những người đức hạnh này phải bỏ đi; do đó chúng dùng mọi thứ ma thông, yêu thuật huyễn hoặc, để làm cho họ phải loạn tâm. Thậm chí có những thứ súc sanh ngu dốt, những thứ côn trùng, cũng tới Vạn Phật Thành để thi triển bản lĩnh, tác yêu tác quái.

Trên đời, có tốt thì có xấu, cho nên chúng ta phải biết:

 

"Trạch thiện nhi tùng,

Bất thiện nhi cải.

Thị Ðạo tắc tiến,

Phi Ðạo tắc thối."

Dịch là:

 

"Lựa tốt thì theo,

Không tốt thì sửa.

Là Ðạo thì tiến tới,

Không phải là Ðạo thì thối lui."

 

Cần có chánh tri, chánh kiến nghĩa là cần có sự hiểu biết đúng đắn, có quan niệm đúng đắn. Thế nào là hiểu biết và quan niệm đúng đắn? Tức là không tranh, không tham, không truy cầu, không ích kỷ, không làm điều tự lợi, mà cũng chẳng dối trá!

Tới Vạn Phật Thành mà còn cái ngã to tướng, cho rằng mình hay mình giỏi, thì các vị đã lầm lẫn rồi! Ở Vạn Phật Thành, nếu là rồng thì phải cuốn mình lại, nếu là cọp thì phải nằm phục xuống; tất cả đều phải nghiêm thủ quy luật, không có ngoại lệ. Nếu các vị nhận thức được đức hạnh và thiện căn của mình thì đừng lãng phí, đừng vào núi vàng mà chẳng biết rồi tay không rời núi!

Vạn Phật Thành và những đạo tràng khác chẳng có gì khác nhau. Chỉ có một điểm không giống nhau là Vạn Phật Thành không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối!

 

46

 

 

BỐN ÐIỀU RĂN DẠY VỀ

TÁNH THANH TỊNH CHÂN THẬT, BẤT HƯ

(Vạn Phật Thành ngày 17 tháng 4 năm 1983)

 

Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh (Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối) trong Kinh Lăng Nghiêm là: "Ðoạn dâm, Ðoạn sát, Ðoạn thâu, Ðoạn vọng" (dứt dâm dục, dứt giết chóc, dứt trộm cắp, dứt nói dối). Bốn điều đó tương quan rất chặt chẽ với nhau. Nếu phạm giới dâm thì dễ dàng phạm giới sát và cũng dễ dàng phạm giới thâu, tức là ăn cắp, và giới vọng ngữ tức là nói láo. Bởi vì phạm giới dâm thì sát, đạo, vọng, đều đã bao gồm trong đó rồi, cho nên tuy chia làm bốn, nhưng hợp lại mà nói thì là nhất thể!

Phật thật là vô cùng từ bi, hết lòng hết dạ dạy bảo chúng ta hết sức rõ ràng Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh. Tuy nói rõ như vậy, nhưng có người lại không tin. Không phải chỉ có một số người không tin mà thôi, trong đó, những kẻ không tin lại là những học giả, những vị giáo sư, những kẻ xuất gia không giữ giới luật. Những người đó không có niềm tin nên không có cách gì cải thiện, cũng không cách gì để bài trừ cái gốc tà kiến của họ được; bởi vì những điều hiểu biết sai lầm của họ đã chằng chịt, thâm căn cố đế, làm cho họ mất lòng tin và công nhiên cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!

Trong các bộ kinh mà Phật nói ra, Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh hết sức trọng yếu. Dù cho các vị học giả, giáo sư, những kẻ không giữ giới luật, cho đến những kẻ dùng đủ thứ thần thông, hiện ra mười tám phép biến hóa, tới nói với tôi rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả đi nữa, thì tôi cũng không tin được! Tại vì sao? Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm dạy đạo lý hết sức chân chính, chỉ căn bịnh của chúng sinh hết sức rõ ràng; đó là "vô minh tội nghiệp." Kinh này chính là "đối bịnh cho thuốc," là lời khuyên răn rõ ràng nhất. Song người ta không ai muốn uống thuốc đắng, mặc dù thuốc hay thì quá đắng, khó mà chịu nổi. Nên dù có bậc thầy thuốc giỏi đưa toa thuốc ra thì họ cũng vất đi không dùng, nói rằng thuốc chẳng có hiệu lực gì, rằng thứ thuốc này chỉ để lừa người ta. Như vậy đúng là tự mình lừa mình và lừa người khác, tự mình làm hại mình rồi hại người khác vậy!

Bởi vậy cho nên những kẻ không hiểu biết cứ chạy theo những người này, nói rằng có những vị học giả danh tiếng như vầy, có những nhà giáo sư nổi tiếng như kia, hoặc có những vị Ðại Pháp Sư có tên tuổi như nọ nói rằng Kinh Lăng Nghiêm này là giả; rồi họ chạy theo những người đó như những kẻ đui đi theo những người mù, cùng nhau kẻ xướng người họa. Người ta nói làm sao thì họ nói làm vậy, do đó rốt cuộc tà thuyết đầy dẫy.

Nếu thật sự đúng như vậy, tức Kinh Lăng Nghiêm là giả, thì các vị trong Phật Giáo không cần phải giữ giới luật làm gì, cũng không cần nghe Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh này làm gì, và cũng không cần biết đến Năm Mươi Thứ Ấm Ma là ra sao, tất cả mọi thứ đều nhất tề vất bỏ hết! Các vị thử nghĩ coi, loại người như vậy thật là ác độc vô cùng; nếu những người như thế đó mà không bị xuống Ðịa ngục Cắt Lưỡi thì thật là không còn công lý gì nữa!

Mới đây tôi có nói đến một em bé bị bịnh thần kinh (em bé này có bịnh tâm lý biến thái, hành vi quái dị, toàn thân đều có bịnh). Ðứa bé này sở dĩ bị bịnh là vì kiếp trước đã từng hủy báng kinh điển Ðại Thừa, tạo nên tội nghiệp đọa địa ngục Vô Gián, bây giờ sinh ra làm người phải chịu quả báo như vậy. Ðó cũng là vì loài người chúng ta không hiểu đạo lý, lại còn tự cho mình là hay là giỏi, rồi công nhiên tạo ra đủ thứ tội nghiệp, còn trợn tròn mắt mà nói láo. Hành động như vậy thật là mất hết lương tri, lương năng, làm cho bản hữu trí huệ của mình bị hủy diệt đi; thật là đáng thương thay!

Bởi những kẻ hủy báng kinh điển Ðại Thừa đó đã dùng tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý tạo ra đủ thứ ác nghiệp, nên khi họ sinh làm người thì thành những kẻ mắc bịnh tâm lý biến thái, trở nên vô tri, vô giác, đến khi thọ ác báo rồi, lại còn cho rằng mình là hay là giỏi lắm!

Chúng ta không nên dùng cái "thông minh giả" của mình mà hủy báng lời Phật. Nào là những kẻ rất có tiếng tăm, nào là những nhà học giả trứ danh, nào là những vị giáo sư uyên bác, nào là các vị Pháp Sư nổi tiếng, một khi họ nói ra lời hủy báng Phật Pháp thì vô hình trung, lời nói của họ sẽ ảnh hưởng đến trăm ngàn vạn ức, vô lượng, vô biên người khác, khiến cho những người đó đánh mất đi lòng tin chơn chính. Cho nên các vị thấy, tạo ra tội nghiệp như vậy không phải là tai hại vô cùng sao? Trăm ngàn kiếp về sau, họ sẽ đầu thai làm kẻ thọ quả báo, trở thành những người câm! Bởi vì họ làm hại tri kiến của kẻ khác, nói lên những lời khiến kẻ khác hiểu lầm đạo lý, như thế thật là vô cùng nguy hại!

Các vị hãy nghĩ coi, vì sao những người đó cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo? Là bởi vì họ không thể làm được Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh: Không dâm dục thì họ không thể làm được, không sát sinh thì họ cũng chẳng làm nổi! Không trộm cắp thì ở trên bề mặt có thể nói rằng họ không trộm cắp, nhưng thực sự có rất nhiều học giả, giáo sư thường lấy trộm văn chương của học sinh hay của kẻ khác rồi vá víu lại để làm của mình; nếu đem vật sở hữu của kẻ khác mà làm của mình thì đó chính là trộm cắp vậy! Nếu một ngày nào mà họ nói những lời lừa dối học sinh thì ngày đó họ đã nói láo rồi! Ðương nhiên không phải tất cả những vị học giả hay giáo sư đều như vậy, song ở trong hàng ngũ những người đạo đức luôn luôn có vô số những kẻ gian dối tác hại.

Bởi vì không làm được Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh đó nên họ sợ hãi, và không thể chấp nhận lý luận trong Kinh được. Nếu họ chấp nhận lý luận của Kinh thì họ không thể tồn tại, và dĩ nhiên họ sẽ mất đi địa vị của họ. Nhưng họ lại không muốn như vậy nên mới làm trái với lương tâm, mới nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả. Khi có ý nghĩ như vậy là họ đã phạm tội lớn tày trời:

 

"Khoát đạt không,

Bát nhân quả,

Mãng mãng đãng đãng, Chiêu ương họa."

Nghĩa là:

 

"Phủ nhận hết mọi thứ,

Bác bỏ luật nhân quả,

Thì tự chuốc lấy tai ương."

 

Trong tương lai họ sẽ thọ lãnh quả báo đọa địa ngục Vô Gián, lúc đó họ có hối lỗi thì không còn kịp nữa!

 

47

 

 

NĂM MƯƠI THỨ ẤM MA

TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

 

Hiện tại chúng ta đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, nhưng sợ rằng có đến năm trăm loại Ấm Ma sẽ xuất hiện cả đây! Cho nên các vị đừng mở cửa để hoan nghinh chúng làm loạn! Tuy nói là ma, song nhìn bề trái của nó thì chúng đến để giúp đỡ sự tu Ðạo của mình, xem chí nguyện của mình kiên cố hay chẳng kiên cố. Nếu kiên cố thì dù ngàn con ma tới mình cũng không thay đổi lập trường, vạn con ma tới mình cũng không thối lui, cái gì mình cũng không sợ cả! Nếu mình không có sở cầu, thì tức là: "Ðáo vô cầu xứ, tiện vô ưu." (Khi lòng không mong cầu, tâm sẽ hết âu lo.)

"Vô sở cầu" tức là không có điều gì sợ hãi. Sợ cái gì? Cũng giống như người sợ quỷ, nghĩ rằng quỷ hết sức ghê gớm, xấu xí. Người nào cũng nghĩ rằng người chết thì biến thành quỷ, nên họ sợ. Nhưng không ai sợ thần. Ông thần Kim Giáp là kẻ hết sức lợi hại mà chẳng ai sợ ông ta!

Khổng Tử từng nói rằng: "Kính quỷ thần nhi viễn chi." (Kính quỷ thần nhưng lánh xa họ.) Song, mình đừng sợ quỷ cũng đừng sợ thần. Mình cung kính họ nhưng không cần phải thân cận với họ.

Ma là thứ đến thử thách người tu Ðạo nên các vị đừng có lòng khủng khiếp, lo sợ. Nếu mình sợ sệt, thì dù không muốn kêu ma lại, nó cũng sẽ tới. Nếu mình không sợ, thì nó muốn lại cũng không được. Ðó là mật quyết vô cùng trọng yếu: Ðừng sợ hãi! Khi mình không khiếp nhược, không lo sợ, thì tự nhiên mình sẽ chánh. "Chánh" thì có thể hàng phục mọi thứ, vì lẽ "tà bất thắng chánh." Ma sợ nhất bốn chữ: Chánh Ðại Quang Minh. Nếu mình mà "chánh đại quang minh" thì ma sẽ nép giữ quy củ, chúng sẽ hướng về mình mà đảnh lễ.

Bây giờ hãy nghiên cứu cảnh giới Năm Mươi Thứ Ấm Ma. Năm mươi thứ đó tức là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ðây bất quá là nói sơ lược cốt tủy mà thôi. Kể tường tận thì cảnh giới của chúng thật vô số, không thể kể hết được, nên Phật chỉ nói có năm mươi thứ là để giúp người đời hiểu và quán sát dễ dàng. Khi sáng tỏ được đạo lý của Năm Mươi Thứ Ấm Ma thì mình sẽ không bị cảnh giới đó làm dao động, đó là điều hết sức quan trọng.

Nếu muốn đừng bị cảnh giới làm dao động thì đầu tiên mình phải trì giới. Giới là căn bản của tất cả các Ðịnh; Ðịnh là căn bản của Trí Huệ; Huệ là căn bản để thành Phật. Nếu muốn thành Phật thì nhất định phải tu Giới, Ðịnh, Huệ. Tu mà không tương hợp với Giới, Ðịnh, Huệ tức là mình tìm cầu pháp ở bên ngoài tâm, tức là đã "hướng ngoại truy cầu"! Khi có Giới lực thì mình sẽ đắc Ðịnh lực; có định lực thì mình sẽ có Huệ lực, vì chúng là tương sinh. Giới sinh Ðịnh, Ðịnh phát Huệ, Huệ thành Phật; thiếu một thì chẳng thành được.

Do đó, hiện tại mình phải dùng thái độ khách quan mà nghiên cứu, đừng có thái độ chủ quan. Khi có thái độ chủ quan thì rất dễ có sự thiên lệch. Mình cần phải dùng Trạch Pháp Nhãn (con mắt biết nhận định chân lý) mà quán sát, dùng Trí Diệu Quán Sát mà nghiên cứu, nhưng đừng chấp trước ở điều mình quán sát. Trí Diệu Quán Sát cũng giống như cái gương vậy, chẳng khác gì mấy với Trí Ðại Viên Kính. Trí Ðại Viên Kính thì chẳng dao động mà có thể hiện ra tướng thật của mọi sự; còn Trí Diệu Quán Sát thì có năng lực quán sát mọi vật khiến mình biết được mọi vật một cách rõ ràng.

Phải dùng thái độ khách quan, không thiên lệch, thì mới nhận thức được cảnh giới một cách rõ ràng. Các vị mà nhận thức thấu đáo được cảnh giới thì sẽ không bị nó làm cho mê loạn!

 

48

 

 

LĂNG NGHIÊM ÐẠI ÐỊNH

 

Vì sao Chú Lăng Nghiêm có nhiều điều tốt đẹp như vậy? Bởi vì niệm Chú Lăng Nghiêm thì có thể nhập Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh. Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh này không phải là định mà cũng chẳng phải là không định, song không lúc nào là chẳng định (vô định, vô bất định, vô hữu bất định thời). Cho nên nói rằng: "Na-già thường tại Ðịnh, Vô hữu bất định thời." (Na-già, tức là rồng, lúc nào cũng ở trong Ðịnh, không bao giờ chẳng định.)

Lăng Nghiêm Ðịnh là định hết sức kiên cố, phát sinh ra vô lượng trí huệ, các thứ thiên ma, ngoại đạo không thể nào phá hoại nổi.

Nhưng nhập Ðịnh để làm gì? Ví như tới Disneyland vậy, nơi đó có đủ trò vui, đồng thời cũng có đủ trò kinh dị, mình sẽ thấy những điều chưa từng thấy, nghe những điều chưa từng nghe. Cũng vậy, khi nhập Ðịnh, mình sẽ trải qua những cảnh giới chưa từng thấy hay nghe qua. Nếu như trong Ðịnh mà "như như bất động, liễu liễu thường minh," không bị cảnh giới làm cho dao động, thì mình có thể xoay chuyển tất cả cảnh giới. Ðó chính là sự kỳ diệu khi nhập Lăng Nghiêm Ðịnh.

Không có Lăng Nghiêm Ðịnh thì mình sẽ tùy theo cảnh giới mà xoay chuyển, cái gì lại thì mình chạy theo cái đó, luôn luôn bị cảnh giới dắt dẫn. Khi mình có Lăng Nghiêm Ðịnh này thì mình không còn bị cảnh giới xoay chuyển nữa. Mắt mình nhìn hình sắc mà bên trong tâm không có rung động; tai mình nghe tiếng nhưng lòng không bị lôi cuốn theo. Khi thấy việc gì xảy ra mà mình tỉnh giác thì sẽ ra khỏi vòng phiền trược; nhưng nếu gặp việc mà mê muội, không tỉnh giác, thì mình sẽ rớt vào vòng luân hồi.

Ở trong Ðịnh mình có thể phát sinh vô lượng trí huệ, cho nên nói rằng Ðịnh sinh Huệ. Nếu không nhập Ðịnh thì không thể khai được trí huệ, cũng giống như chưa tới Disneyland thì không biết trong đó có gì. Cho nên có một vị cư sĩ mời tôi đi Disneyland chơi, muốn tôi coi đây coi đó; họ cho rằng tôi chưa từng thấy qua những chuyện đó bao giờ. Thật ra những hình sắc hay tất cả những đồ vật đều không có gì đặc biệt cả. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay đã thấy qua không biết bao nhiêu thứ, không biết bao nhiêu chuyện nữa, bất quá mình đã nhìn qua rồi quên mất đi. Nếu như mình nhớ được một cách rõ ràng thì không cần phải coi lại làm gì nữa.

 

49

 

 

ÐỪNG HAM THẦN THÔNG DỊ ÐOAN

(Vạn Phật Thành ngày 19 tháng 4 năm 1983)

 

Trên thế giới này có nhiều chuyện kỳ quái, nhiều đến độ không thể nói hết được. Vì sao mà có đủ sự việc kỳ quái như vậy? Bởi vì tâm lý con người "hiếu kỳ," thích sự kỳ quái.

Con người có lòng hiếu kỳ nên thế giới mới có những việc kỳ quái xuất hiện. Những thứ đó một khi xuất hiện thì mê hoặc tâm người, khiến mình không còn làm chủ chính mình nữa. Một khi đã không có chủ, gia đình và quốc gia cũng sẽ rối loạn. Ðã loạn, thì những quỷ quái đó mặc tình hiện thần thông, làm cho con người điên điên đảo đảo, chạy bên đông chạy bên tây, đi tìm chuyện kỳ diệu, thần thông, linh nghiệm. Ðó đều là bị cảnh giới làm xoay chuyển rồi vậy.

Tại sao mình bị cảnh giới xoay chuyển? Là bởi vì có tâm hiếu kỳ. Tâm hiếu kỳ này vốn là tâm tham. Những chuyện kỳ quái phát sinh trên trần gian này, nếu mình nghiên cứu sâu xa tận gốc rễ của nó, thì cũng do lòng tham này tạo ra. Nếu không có lòng tham thì không cần thiết phải hiện ra những thứ kỳ quái, làm ra vẻ đặc biệt kỳ quái để cho người ta nhìn mình là linh nghiệm như vậy, tốt đẹp như vậy, khác thường như vậy. Bởi vì con người có tâm tham nên bị những thứ kỳ quái đó hấp dẫn, lôi cuốn.

Những điều kỳ quái khác thường đó đều là những việc không chánh đáng, đều thuộc về ma nghiệp. Những việc chánh đáng là nghiệp của Phật. Cho nên hiện tại có rất nhiều người mất đi chánh tri chánh kiến, cái biết cái nhìn đúng đắn. Bạn giảng Pháp chân chánh thì họ nghe không lọt tai, giảng cách nào họ cũng không chấp nhận, thậm chí lời vào tai bên trái thì chạy ra tai bên phải. Song nếu bạn nói những điều kỳ quái, đặc biệt thì họ vĩnh viễn nhớ không bao giờ quên, đó chứng minh là con người bị lòng tham tác quái!

Vì sao mà họ không nhớ được điều chân chánh? Bởi vì họ cảm thấy không có gì lợi cho họ cả. Kỳ thật điều chân chánh mới thật là lợi ích. Những người trên thế gian này đa số nhận cái giả mà không chịu nhận cái chân thật, nhận kẻ cướp làm con của mình. Vì vậy khi mình nói điều ngay thẳng, chân thật thì họ chẳng muốn nghe, nhưng khi nói những điều nịnh hót thì họ hết sức vui vẻ. Thật là: "Trung ngôn nghịch nhĩ, lợi ư hành, Lương dược khổ khẩu, lợi ư bịnh." (Lời trung thật tuy khó nghe nhưng lợi cho việc làm, Thuốc tốt tuy đắng nhưng trị lành được bịnh.)

Ða số người đời đều không muốn tiếp thọ lời trung ngôn, tức là lời nói ngay thẳng, cũng như không muốn uống thứ thuốc tốt, nhưng rất là đắng. Nếu mà đưa cho họ thuốc đắng thì họ nhăn mặt làm ra vẻ khó chịu, nói rằng: "Ô! Thuốc này khó uống quá". Nhưng thuốc khó uống như vậy thì bịnh mới lành được!

Thời đại bây giờ người ta là vậy đó, giảng chuyện của Phật, của Bồ Tát thì không ai muốn nghe cả; nhưng nếu kể chuyện yêu ma quỷ quái thì họ lại thích nghe. Thí dụ như nghe kể chuyện trai gái không giữ quy củ, sống hết sức phóng túng, thì người ta lại thích thú bởi vì chính họ cũng không muốn giữ quy củ. Ðó là những ý tưởng hết sức hèn hạ, hết sức tệ hại.

Cho nên, có những người tới Vạn Phật Thành rồi mà không ở lâu được là vì sao? Là vì họ không có tinh thần hy sinh, không có tư tưởng chân chính vì Pháp quên mình. Người chân chính vì Pháp quên mình thì dù đuổi họ, họ cũng không đi; đánh chưởi họ, họ cũng chẳng chạy. Họ cảm thấy rằng đây qủa thật là chỗ Chánh Pháp trụ thế, họ muốn tiếp cận với Chánh Pháp!

Chúng ta ở đây đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, đối với thời đại này thì hết sức hữu dụng. Chúng ta muốn hoằng dương Phật Pháp thì phải có tinh thần đại hy sinh, đừng tham lợi ích tiện nghi gì cả. Hễ có kẻ cúng dường phẩm vật mà mắt mình sáng rực, miệng mình cười toe toét, thì mình thật là chẳng ra gì!

 

 

50

 

 

MUỐN ÐỘ CHÚNG SINH THÌ

TRƯỚC HẾT MÌNH ÐỪNG ĂN THỊT

 

Chúng sinh là do nhân duyên hòa hợp mà thành, từ mười hai nhân duyên mà biến thành người. Từ con kiến cho đến những thứ vi khuẩn đều là chúng sinh. Chúng ta không cần phải đi ra bên ngoài mà tìm chúng sinh, ngay trong tự tánh của mình cũng có vô lượng chúng sinh.

Khoa học hiện tại phát triển đã chứng minh rằng trong thân thể ngũ tạng lục phủ con người có vô số loại vi khuẩn và vi sinh trùng; như vậy có nghiã là có vô lượng chúng sinh. Khi con người ăn thịt loại động vật nào, thí dụ như heo, bò hay cá, thì trong đó có vô số loại vi khuẩn. Con người ăn loại thịt đó vào trong bụng thì tự nhiên sẽ có chủng tử của những thứ vi khuẩn đó; ăn càng nhiều thì mình cùng với những thứ vi khuẩn đó kết làm quyến thuộc càng mạnh, kết duyên với nó càng sâu, cho đến chỗ là mình với nó không còn phân ly, chia cách nữa!

Ăn thịt heo càng nhiều thì mình rất có cơ hội để biến thành heo, ăn thịt bò càng nhiều thì mình rất có thể sinh làm bò. Nếu mà ăn gạo càng nhiều thì mình có thể biến thành gạo chăng? Gạo là loại vô tình, còn chúng sinh là loài hữu tình. Nếu ăn loài hữu tình thì mình có thể trở thành những thứ chúng sinh hữu tình. Nếu ăn những loại vô tình (thực vật) thì mình có thể giúp cho sự phát triển của Pháp thân, Huệ mạng. Nếu con người không ăn thịt chúng sinh nào thì tức là mình độ cho chúng sinh đó, khiến chúng vượt qua khổ hải, tới bờ Niết Bàn. Con người nếu hiểu được đạo lý này thì không nên ăn thịt chúng sinh.

Khi xưa, có kẻ vì ăn thịt chúng sinh nên khi chết rồi thì bị đọa lạc xuống gặp Diêm La Vương. Lúc còn sống ông ta ăn qua những loại thịt của chúng sinh nào, thì những thứ đó bây giờ đều tới để đòi nợ. Người ăn thịt tự biện hộ như vầy: "Tôi tuy là ăn thịt nhưng tội không phải thuộc về tôi mà thuộc về người bán thịt mới đúng!"

Bấy giờ vua Diêm La mới truyền lịnh kêu người bán thịt lại; người bán thịt cũng tự biện hộ rằng: "Tôi sở dĩ mà bán thịt là vì có người mua thịt, nếu không có người mua thì bán thịt làm gì?"

Người bán thịt với người ăn thịt, hai người mới tranh luận với nhau, sau cùng thì hai người đó đổ trách nhiệm lên anh chàng đồ tể.

Diêm La Vương lại kêu anh chàng đồ tể vào. Anh đồ tể này cũng tự biện hộ rằng: "Tôi đúng là đồ tể, nhưng vì có người mua cũng như có người ăn thì tôi mới làm nghề đồ tể. Nếu chẳng có người mua cũng chẳng có người ăn thì tôi cũng chẳng làm nghề này được!"

Vì thế, mọi người đều nói lên cái lý của mình, lý lẽ mà họ nói ra đều là tạo tội nghiệp cả. Kết quả, Diêm La Vương phán rằng người ăn thịt phải bồi thường nợ máu. Cho nên, chúng ta ăn thịt một loài chúng sinh nào là kết oán với loài chúng sinh đó. Có bài thơ rằng:

 

"Nhục" tự lý biên lưỡng cá nhân,

Lý biên nhân thực ngoại biên nhân,

Chúng sinh hoàn thực chúng sinh nhục

Tử tế tư lượng nhân thực nhân."

Nghiã là:

 

"Ở trong chữ "nhục" có hai người,

Người bên trong ăn người bên ngoài,

Chính chúng sinh ăn thịt chúng sinh,

Nghĩ cho kỹ là người ăn người!"

 

Trong Kinh Lăng Nghiêm có chép: "Dương tử vi nhân, nhân tử vi dương." (Dê chết trở làm người, người chết trở làm dê.) Con dê có thể làm người, thì con heo cũng có thể làm người. Nếu chưa có Thiên Nhãn Thông thì mình không quán sát được nhân duyên đó nên cho rằng heo là heo, dê là dê. Con người mà ăn nhiều thịt chúng sinh thì bản hữu trí huệ của họ bị che lấp, mất linh tánh và biến thành ngu si.

Bởi vậy muốn độ chúng sinh thì trước tiên đừng nên ăn thịt! Con người muốn độ chúng sinh thì phải độ tự tánh của chúng sinh, độ sinh thì phải ly tướng. Không có chấp trước thì mới thật sự là độ sinh vậy!

 

51

 

 

ÍT PHIỀN NÃO, ÍT TƯ DỤC

(Vạn Phật Thành ngày 24 tháng 6 năm 1983)

 

Người tu Ðạo sợ nhất là có phiền não, cho nên nói rằng:

 

"Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn."

Ðoạn phiền não là việc rất khẩn cấp, chuyện gì tới mà mình không sinh phiền não thì đó là có định lực. Không sinh phiền não tức là không có tư dục. Tư dục là gốc sinh phiền não, sinh ra đủ thứ ngu si và do đó sinh ra đủ thứ bịnh tật.

Không phiền não chẳng phải là vì không ai làm phiền nên mình không có phiền não; mà là có người tới nhiễu loạn, phiền hà, trở ngại, đánh mắng, chưởi bới, nhưng mình không sinh phiền não. Ðó mới thật là có định lực vậy!

Tải về xem
Khai Thi 2 Tiep Theo 2