Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh
Kinh Hiền Ngu (tiếp theo 1)
H.T Thích Trung Quán dịch


Kinh Hiền Ngu Quyển Thứ Ba


15/ Phẩm thứ mười lăm CỨ ĐÀ THÍ THÂN


Chính tôi được nghe: Một thời đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ, tại núi Kỳ Xà Quật.

Đức Thế Tôn khi đó bị cảm chứng phong, các đệ tử đi triệu ông Kỳ Vực Y Vương vào điều trị, ông hòa ba mươi hai vị dược tô dâng lên và bạch Phật rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Thời khí năm nay bất hòa, biến nhiều thứ bệnh lạ, con thành kính luyện thứ thuốc này, cúi xin mỗi ngày dùng ba mươi hai lạng.

Đức Thế Tôn hoan hỷ nạp thụ và chú nguyện cho ông.

Thuở đó ông Đề Bà Đạt Đa thường đem lòng ghen ghét với Phật, tự cao tự đại, ý muốn ngang hàng với Phật, nghe biết Phật uống dược tô cũng gọi ông Kỳ Vực luyện thuốc cho uống.

Khi ông luyện xong dâng Ngài và thưa rằng:

- Thưa Ngài! Thuốc này mạnh lắm, mỗi ngày chỉ dùng được bốn lạng!

Ông Đề Bà Đạt Đa hỏi: - Phật uống ngày mấy lạng?

- Thưa Ngài! Phật uống mỗi ngày ba mươi hai lạng!

Ông Đề Bà Đạt Đa hỏi:

- Vì lẽ gì Phật uống nổi ba mươi hai lạng mỗi ngày? Ta chỉ uống được bốn lạng thôi?

- Thưa Ngài! Phật khác! Ngài khác! Nếu Ngài uống như Phật, tất bị tổn thương đến thân thể!

- Ta uống cũng có đủ lực tiêu hóa, thân ta, thân Phật khác chi, để ta uống coi, có hiệu lực như Phật không!

- Thưa Ngài! Việc đó xin tùy ý, nhưng xảy ra chúng tôi không chịu trách nhiệm!

- Dĩ nhiên! Ông khỏi lo.

Ông Đề Bà Đạt Đa cân đủ ba mươi hai lạng uống luôn một lúc, uống xong ông ngã quay lơ, sùi bọt mép như đống xà bông, vật giường trên, lăn xuống giường dưới, kêu lên rầm rĩ.

Đức Thế Tôn thương ông đau đớn, nên Ngài từ xa duỗi cánh tay vàng, bằng lực thần thông tới xoa đầu cho ông, thuốc ấy nhờ sức Từ bi được tiêu hóa, bệnh hoạn tan không, thân tâm an lạc! Nhìn lên thấy tay Phật, ông tự nói rằng:

- Tất Đạt có nhiều phép lạ, với đời vô dụng, giờ lại học nghề thuốc đều cầu danh lợi.

Tôi (A Nan) nghe thấy ông thốt ra lời vô nhân nghĩa quá nên quỳ xuống bạch Phật:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Ông Đề Bà Đạt Đa vô ân bất nghĩa quá! Ngài cứu cho khỏi, không cảm ơn thì thôi, lại thốt ra những lời tệ bạc, sao lại có những lòng dạ như vậy? Luôn luôn chỉ một niềm ghen ghét với Thế Tôn?

Phật bảo tôi rằng:

- A Nan! Đề Bà Đạt Đa, chẳng những ngày nay mang lòng nham hiểm hại ta đâu, đời quá khứ đã dùng mưu này kế khác hại ta.

Tôi lại thưa rằng: - Kính lạy Ngài, không hay đời quá khứ ông ấy làm hại thế nào, cúi xin chỉ giáo cho chúng con được rõ?

Phật dạy: - Ông hãy nghe kỹ, ta vì ông mà nói!

- Dạ! Con xin đón nghe.

Phật dạy: - A Nan! Ông nên biết, đời quá khứ cách đã rất lâu kiếp A tăng kỳ tới số không thể tính xuể, cũng ở Châu Diêm Phù Đề này, có một nước lớn tên là Ba La Nại, ông vua nước ấy tên là Phạm Ma Đạt tính nết hung tàn không có Từ tâm, lại ham mê sắc dục hay làm tổn thương cho muôn loài, nọc độc nằm chặt trong đáy lòng.

Một hôm ông nằm mộng thấy con thú lông vàng, trên những đầu lông tía ánh sáng sắc vàng tỏa ra hai bên tả hữu. Khi tỉnh giấc ông tự nghĩ con thú ta vừa mộng thấy trên đời này ắt phải có. Nghĩ rồi cho triệu tập các người đi săn lại phán rằng:

- Các khanh! Hôm nay mời các khanh vào đây, muốn nói một câu chuyện trong mộng của ta cho các khanh rõ: Đêm qua vào lúc canh ba đương ngon giấc, ta thấy một con thú, lông trên mình toàn sắc vàng, trên những đầu lông phóng ra những tia sáng, ta chắc rằng trên rừng cũng có loài thú như vậy các khanh tìm bắt lấy nó, rồi lột lấy da cho ta, ta sẽ trọng thưởng cho con cháu các khanh bảy đời được đầy đủ vật dụng ăn uống, nếu không để tâm tìm bắt cho ta, ta sẽ tiêu diệt hết họ hàng nhà các khanh.

Các người sợ toát mồ hôi! Nhưng không biết trình bày làm sao! Đều lạy tạ lui ra.

Trở về họ hội họp lại một nơi để giải quyết công việc nhà vua vừa giao phó như sau:

- Thưa các bạn, việc này rất khó cho bọn mình: Nhận thấy từ thuở biết cầm cái súng đi săn đến nay, tôi chưa từng nhìn thấy con thú như nhà vua nằm mộng! Nếu bọn ta không bắt được con thú lông vàng, họ hàng chúng ta sẽ bị hạ sát dưới tay cường quyền áp bức của nhà vua. Chi bằng tụi mình đưa vợ con trốn sang nước ngoài làm ăn cho thoát!

Một thanh niên tiếp rằng:

- Thưa quý bạn! Nhận thấy trong núi này độc trùng ác thú rất nhiều, đường sá nguy hiểm, có ngày đi không hẹn ngày về, ngụ ý của tôi chỉ mượn người hộ là hơn!

Mọi người đều tán thành! Sau mượn được một người đến, họ sẽ làm lời cam đoan rằng: - Anh hãy tận tâm vào rừng săn hộ tôi con thú lông vàng, trên đầu lông có ánh sáng, nếu anh được tốt lành trở về, chúng tôi sẽ trọng thưởng cho anh một số vàng bạc; nếu anh bị hại nơi rừng xanh, chúng tôi sẽ đem số vàng bạc đó cho vợ con anh ăn dùng.

Người ấy tự nghĩ như vầy: - Ta vì sự cứu người, dầu mất mạng cũng cam lòng.

Nghĩ xong nói: - Thưa quý bạn, tôi xin bảo lãnh việc đó giúp quý bạn và tôi nguyện rằng nếu được thành công mới trở về.

Họ đều vui mừng! Sắm sửa lương thực tiền bạc để anh đi ăn đường.

Khi bắt đầu ra đi, mọi người đều chúc anh được mọi sự tốt lành trở về, anh từ giã ra đi, đi lâu ngày trải bao những sự gian hiểm, lương thực gần hết, bị đói khát, thân thể gầy còm, sức lực mỏi mệt, qua bãi sa mạc trời nắng làm cho bãi cát như rang, như nấu, khí nóng bức lên ngùn ngụt, mồm khát, cổ khô, chỉ còn chờ tắt hơi là qua đời. Đương lúc cùng cực đau khổ, thốt ra lời nói:

- Ai là người có lòng Từ bi, thương đến tôi, cứu được thân mạng tôi giờ?

Trong núi ấy có loài dã thú tên là Cứ Đà, lông vàng vì trên đầu lông có ánh sáng, nó nghe thấy đằng xa có tiếng người kêu cứu; động lòng thương dấn thân đi tìm qua những dòng suối nước lạnh, tới nơi thấy một người nằm phơi trên mặt đất hình như sắp chết, nó ủ ấp bằng thân của nó, hồi lâu tỉnh táo, nó bế tới một khe nước, tắm gội cho mát, rồi đi lấy các thứ quả ngon về cho ăn, ăn xong thân thể được khỏe mạnh.

Người đó khi tỉnh dậy tự nghĩ như vầy:

- Con thú lông vàng này! Chính ta đương đi săn bắt nó đem nộp cho nhà vua, song lúc ta gặp cơn nguy biến, được nó cứu thoát, ơn ấy ta chưa đền đáp nỡ đâu lại còn hại nó. Nhưng nếu không bắt nó nộp cho nhà vua thì tất cả nhà những người đi săn kia đều bị giết chết.

Nghĩ thế rồi trong lòng rầu rĩ khó giải quyết.

Cứ Đà hỏi: - Tại sao anh không vui?

Anh rơi lệ đáp: - Tôi đương nghĩ một việc riêng!

Cứ Đà hỏi tiếp: - Việc gì xin nói cho tôi rõ!

- Việc này khó giải quyết và cũng không dám nói.

Cứ Đà hỏi luôn: - Anh hãy nói ra, nếu tôi có thể giúp được thì tôi xin giúp.

Anh chàng này ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thực tình nói mục đích bắt thú lông vàng cho Cứ Đà nghe.

Cứ Đà hoan hỷ nói: - Việc không khó, da của tôi có thể đem biếu anh được! Anh nên biết rằng: Nếu cứ tính cái thân chết của tôi từ quá khứ tới nay, vô lượng vô số, không thể đếm được. Nhưng xét rằng những thân ấy chưa từng làm được việc gì hữu ích, hôm nay tôi được đem cái da vàng mạng sống của tôi để cứu người thì còn gì vui thú hơn. Vậy anh cứ việc lột lấy, tôi vui lòng nhưng chớ làm tuyệt mạng tôi vội, với sự cho anh đây tôi rất hoan hỷ, không hối hận chút nào!

Anh chàng đi săn nghe Cứ Đà nói trong lòng vẫn băn khoăn hối hận bất đắc dĩ phải rút dao lột da của Cứ Đà.

Đầu tiên anh đặt dao vào mũi, rạch mạnh, máu tươi chảy ra như rót rồi kéo qua đầu xuống tận đuôi, bắt tay vào kéo xả ra hai bên.

Nhìn Cứ Đà vẫn thản nhiên không hề dãy dụa, rồi nguyện rằng: - Tôi thành thực hy sinh da tôi để cứu sống mọi người, nguyện đem công đức này, hướng về tất cả chúng sinh, qua thoát khỏi biển khổ sinh tử luân hồi về nơi Niết bàn an lạc.

Lời của Cứ Đà phát nguyện vừa xong, ba ngàn thế giới tự nhiên chấn động sáu lần, các cung điện cõi Trời nghiêng ngửa, những Thiên Tử đều kinh ngạc! Ngó nhìn xem chuyện chi, thấy Bồ tát lột da bố thí cứu sinh, họ bay xuống tận nơi, tung hoa cúng dàng ai nấy đều sa nước mắt.

Lột da xong, thân thể Cứ Đà đỏ như gấc chín, huyết chảy lênh láng, nhìn rất rùng rợn không dám ngó lâu, ruồi kiến bâu xúm xít đầy mình, rỉa thịt uống huyết. Đau quá! Định trở mình, nhưng sợ tổn thương loài ruồi kiến, đành phải nhẫn khổ không dám động đậy.

Những loài ruồi kiến ấy nhân được ăn thịt của Bồ tát sau khi mệnh chết được sinh Thiên.

Người được da mang về dâng vua, nhà vua rất hài lòng, khen ngợi kẻ đã tử công phu vì ta; ban thưởng cho tước lộc ngôi cao, vàng bạc rất nhiều.

Nhà vua dùng nó để trải nằm, khi nằm cảm thấy tâm an vui khoái lạc.

Tới đây đức Phật nhắc lại cho tôi biết rằng:

- A Nan! Ông nên biết: Cứ Đà có phải ai đâu? Chính tiền thân của ta đấy, vua Phạm Ma Đạt nay là ông Đề Bà Đạt Đa, những ruồi kiến ăn thịt uống huyết của Cứ Đà thuở đó, khi ta mới thành Phật chuyển Pháp Luân đều được đắc đạo sinh lên các cõi Trời, ông Đề Bà Đạt Đa thời đó làm tổn thương tánh mạng ta cho đến ngày nay không có một chút thiện tâm gì đối với ta, suốt ngày chỉ muốn tìm cách để hại ta thôi!

Lúc đó tôi và tất cả đại chúng, nghe Phật nói thế, ai nấy cũng buồn và cảm động! Nhiều người thấy vậy gắng công cầu phép yếu, nên có người được quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm cho đến quả A la hán, cũng có người gây nhân Bích Chi Phật, cũng có người phát tâm Vô thượng Đạo; có người trụ ngôi bất thoái, ai nấy đều vui vẻ kính tin phụng hành tạ lễ mà lui.


16/ Phẩm thứ mười sáu VUA ĐẠI QUANG MINH


NGƯỜI có trí lanh lợi, thì sự nhận xét minh mẫn, gặp việc gì trở ngại cũng giải quyết mau lẹ, gặp một duyên nhỏ có thể làm đại nghiệp. Kẻ biếng nhác ngoan độn, dẫu có gặp thắng duyên cũng không thể phát tâm cao cả.

Bởi thế con người luôn luôn phải có sự tiến hóa làm lòng, lập chí tạo tác những thiện duyên gây thành đại nguyện thì mai này sẽ kết quả rực rỡ tôn nghiêm.

Khi đó đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà.

Bấy giờ có bốn bộ đệ tử vua quan dân chúng đương vây quanh đức Thế Tôn để cúng dàng. Trong đại hội có nhiều người nghĩ như vậy:

- Không rõ đức Thế Tôn bởi nhân duyên gì phát tâm Vô thượng Bồ đề lúc ban đầu? Tới nay thành Phật làm lợi ích cho muôn loài chúng sinh, vậy chúng ta cũng nên phát tâm cầu thành Phật đạo để nối chí của Ngài mà làm lợi ích chúng sinh.

Tôi (A Nan) biết họ nghĩ như vậy đi lấy áo mặc chỉnh tề tới trước Phật quỳ gối chắp tay bạch rằng:

Kính lạy đức Thế Tôn! Đại chúng đây đều muốn biết rõ xưa kia Ngài từ nhân duyên gì phát Bồ đề tâm, kính xin chỉ giáo để cho tất cả mọi người đều được lợi ích!

Phật dạy rằng: - Này ông A Nan! Hay lắm! Hay lắm! Ông hỏi như vậy có rất nhiều sự lợi ích, ông hãy nghe cho kỹ và suy nghĩ cho rành, tôi sẽ vì ông mà nói.

Bấy giờ trong đại hội đều im lặng, tất cả núi sông gió nước chim bay thú chạy cũng đều chiêm ngưỡng, không một tiếng động, đại chúng, trời, rồng, quỉ thần đều dốc lòng trông Phật, ai nấy vừa sợ vừa ham nghe.

Phật dạy rằng: A Nan ông nên biết, thời quá khứ đã quá lâu xa kiếp, A tăng kỳ vô lượng vô biên không tính xuể, cũng Châu Diêm Phù Đề này có một ông vua nước lớn tên là Đại Quang Minh, trí tuệ thông minh phúc đức cao dày, nhân tướng oai nghiêm thuần hậu, có chơi thân với ông vua nước láng giềng, hai ông giúp đỡ nhau từ tinh thần đến vật chất, nhất là có vật gì quý cũng tặng lẫn cho nhau.

Một hôm ông vua nước láng giềng đi săn được hai con voi còn nhỏ, mình trắng như pha lê rất là quý đẹp, nhà vua mừng thầm và tự nghĩ như vầy:

- Ta đem voi này tặng vua Quang Minh.

Đưa về trang sức cho voi rất đẹp rồi sai người dắt sang hiến vua Quang Minh.

Vua Quang Minh coi thấy con voi lạ cũng cho là một bảo vật đáng quý, nên trao cho người quản tượng tên là Tán Xà dặn rằng: - Trông coi cho cẩn thận, dạy bảo cho thuần thục, cho ăn uống ngon lành.

Quản tượng đưa về dạy bảo một thời gian được thuần thục, rồi đến tâu vua rằng:

- Tâu Bệ Hạ! Hạ thần vâng mệnh nuôi voi đã lớn, sự điều voi của hạ thần nhất mực bảo sao nghe vậy, cúi xin Bệ Hạ cho voi ra thí trường để dân chúng coi sự điều khiển của hạ thần.

Nhà vua vui vẻ đáp rằng: - Hãy khoan ít ngày để ta truyền cho quan quân, dân chúng hay tin trước.

Sau khi được chiếu chỉ của nhà vua, từ thành thị cho đến thôn quê kéo nhau đi xem rất đông đảo, nhà vua cỡi voi ra thí tràng, trông rất oai nghiêm, đi sau có các quan văn võ. Con voi trai trẻ này, khí lực đương cường tráng, dục vọng nồng nàn, đi sắp tới thí trường nó nhìn thấy mấy chị voi cái đang ăn ngó sen bên mé hồ, tự nhiên lửa dâm dục bốc khởi, túm cẳng chạy thẳng đến mấy chị voi cái kia, voi cái hoảng chạy! Đuổi mãi, đuổi mãi! Cho đến rừng xanh cũng không thôi. Làm cho nhà vua áo rách mũ rơi, gai góc đâm xiên vào mình, máu huyết chảy đẫm áo, nhà vua tối mắt chẳng biết đông tây, sợ quá tự nghĩ rằng:

- Bây giờ làm cách nào để xuống được?

Quản tượng thưa: - Xin Bệ Hạ hãy níu lấy cành cây để sa xuống đất.

Nghe lời quản tượng, nhà vua níu lấy cành cây xuống đất được vô sự, nhưng sờ lên đầu thấy mất mũ áo, trên mình rách ngang rách dọc và đẫm máu, thân thể đau đớn! Đương lúc đau khổ lại không biết lối ra.

Quản tượng cũng níu lấy cành cây nhảy theo rồi đi tìm vua. Một lát thấy nhà vua đương ngồi dưới gốc cây coi vẻ âu sầu buồn bã, quản tượng quỳ xuống thưa:

- Cúi xin Bệ Hạ xá tội cho, và đừng buồn phiền nữa! Con voi này khi hạ cơn dâm dục nó sẽ nhớ cỏ ngon nước sạch thì lại trở về.

Nhà vua nói: - Thôi nhà ngươi còn nói chi nữa, từ nay ta sẽ không nhận ngươi và con voi ấy nữa.

Quản tượng không biết nói sao! Đành phải ngồi yên chờ vua nguôi cơn giận.

Khi đó các ông quan chạy theo sau, có ông nhặt được cái mũ, cái áo, cái hia, hoặc thấy máu me rải rắc từng giọt, đột nhiên thấy nhà vua cởi con voi khác trở về. Khi đó có các bà Hoàng hậu, Hoàng Phi, Hoàng Tử, Công Chúa nhân dân đều lo xanh mặt, vì sợ nhà vua bị chết ai nấy đều rơi lệ như mưa.

Khi thấy nhà vua đã trở về, mọi người vui vẻ!

Qua thời gian ngắn con voi đã thỏa mãn lòng dâm, bị ăn cỏ hôi, uống nước bẩn nơi rừng xanh, lại trở về kinh thành.

Quản tượng thấy voi về, vội vào triều tâu vua rằng:

- Tâu Bệ Hạ! Con voi hôm nay đã trở về, xin Bệ hạ ra coi.

- Thôi, từ nay ta không muốn nhìn thấy ngươi và con voi ấy nữa.

Quản tượng lại thưa: - Tâu Bệ Hạ, nếu Bệ Hạ không muốn thấy hạ thần và con voi ấy nữa, nhưng xin Bệ Hạ hãy xem cách điều phục voi của hạ thần một lần nữa.

Nhà vua nói: - Khanh đã nói thế ta cũng cho!

Quản tượng bái tạ ra về, sửa soạn nơi thí tràng và định ngày cáo thị cho dân chúng đến xem.

Tới ngày đó, vua quan ra thí tràng, nhân dân đến xem rất đông. Quản tượng dắt voi ra và đem theo bảy viên sắt lớn thầm nghĩ như vầy:

- Giờ đây ta bắt voi nuốt sắt, voi chết cũng hoài, vậy ta hãy tâu vua may ra Ngài có hối tâm chăng.

- Tâu Bệ Hạ! Con voi trắng này, chỉ vua Chuyển Luân mới có, nó phạm chút lỗi nhỏ xin Bệ hạ tha thứ, không nên hủy bỏ.

Nhà vua nói: - Nếu ngươi không điều phục được nó, thì mời ta ra đây làm chi? Dầu ngươi có điều phục được, ta cũng không dùng nó và ngươi nữa.

Quản tượng thưa: Tâu Bệ Hạ! Bệ Hạ không dùng hạ thần thì thôi, nhưng rất tiếc không dùng voi.

Nhà vua giận nói: - Khanh đi ngay, bước ngay lập tức bây giờ!

Quản tượng đứng dậy vừa khóc vừa nói: - Bệ Hạ không có thân sơ, chỉ ưa những lời nói khéo, nói ngọt, nịnh hót!

Tất cả mọi người nghe đều sa đôi hàng lệ, và chăm chú nhìn voi, vì họ nhìn thấy bảy viên sắt đương nung đỏ tại lò, quản tượng sẽ bắt voi nuốt.

Quản tượng thị oai lớn tiếng nói:

- Voi mày nuốt viên sắt này đi, nếu không nuốt ta sẽ lấy móc sắt móc óc mày ra.

Voi thấyquản tượng nói, sợ hãi run rẫy, quỳ hai gối xuống đất, chầu về nơi nhà vua ngự nước mắt chảy ròng! Có ý xin vua xá tội, nhưng nhà vua vẫn chưa nguôi cơn giận, lại càng bực tức thêm, rồi ngoảnh mặt đi. Quản tượng lớn tiếng nói:

- Mày không chịu nuốt à, còn chờ tao móc ư!

Voi liếc mắt nhìn xung quanh xem có ai can gián để cứu mình không! Nhưng không! Tự biết mình phải chết, vì không còn một thế lực gì nữa có thể trông cậy, bất đắc dĩ nằm ngửa há mồm.

Quản tượng bỏ bảy viên sắt nóng vào mồm bắt phải nuốt hết, nuốt xong nổ ruột chết liền.

Tất cả mọi người thấy thế cảm động thương voi. Ai nấy đều phải sa lệ.

Nhà vua cũng phải kinh sợ và ngạc nhiên, kêu Quản tượng lại hỏi:

- Quản tượng, khanh có tài điều phục voi như vậy, tại sao lúc ở rừng không ngăn được nó.

Lúc ấy ông Tịnh Cư Thiên biết vua Quang Minh đã phát tâm Bồ đề, dùng thần lực khiến Quản tượng quỳ xuống thưa rằng:

- Tâu Bệ Hạ! Kẻ hạ thần này chỉ có thể điều phục được thân nó chứ không thể điều phục được tâm của nó.

Nhà vua hỏi: - Vậy có người nào đều phục được cả thân lẫn tâm nó không!

Đáp: - Tâu Bệ Hạ, chỉ có Phật điều phục được cả thân lẫn tâm của nó.

Nhà vua hỏi tiếp: - Khanh nói Phật, thì lấy chủng tính gì sinh ra Phật?

Đáp: - Tâu Bệ Hạ! Có hai chủng tính sinh ra Phật: Một là trí tuệ, hai Từ bi! Chăm làm sáu việc: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thuyền định, trí huệ cũng gọi là sáu Ba La Mật, công đức và trí tuệ của sáu việc đầy tròn nên gọi là Phật! Như vậy có thể điều phục được mình và tất cả chúng sinh.

Nhà vua nghe quản tượng tâu xong, có vẻ vui sướng! Đứng dậy vào hậu cung tắm rửa sạch sẽ, mặc áo đội mũ tề chỉnh, lên lầu cao một mình, đốt trầm hướng về bốn phương thề nguyện rằng:

- Từ đây tôi sẽ đối với tất cả chúng sinh, phải có một tâm "Đại Từ Đại bi", rồi đọc bài kệ khấn rằng:

Nguyện đem công đức này

Hồi hướng về Phật đạo,

Sau này được thành Phật,

Tự điều phục tâm mình,

Và tất cả chúng sinh.

Nếu một chúng sinh nào.

Ở Địa ngục A Tỳ.

Trải qua đến một kiếp.

Có thể làm lợi ích,

Và cứu khổ họ được,

Tôi sẽ vào ngục ấy,

Không bỏ tâm Bồ đề.

Nhà vua thệ nguyện dứt lời, thì sáu phương chấn động, trời đất rung chuyển, trên hư không văng vẳng, có tiếng âm nhạc, các ông thiên tử đánh đàn ngợi khen rằng:

- Ngài phát nguyện cao cả ấy, chẳng bao lâu nữa được thành Phật, xin độ cho lũ chúng tôi trứơc ở pháp hội thanh tịnh này.

Tới đây Phật nhắc lại cho các vị Tỳ kheo biết rằng:

- Tỳ kheo các ông nên biết! Con voi trắng bị quản tượng bắt nuốt viên sắt nóng thuở đó nay là ông Nan Đà. Quản tượng nay là ông Xá Lợi Phất, vua Đại Quang Minh chính tiền thân của ta. Nhân lúc thấy quản tượng điều phục voi ta phát khởi tâm cầu đạo Phật bắt đầu.

Trong đại hội khi nghe Phật nói sự phát khởi tu đạo của Ngài xong, ai nấy vui mừng, rồi có người được chứng quả thứ tư, có người phát đại đạo tâm, mỗi người đều kính tin cúi đầu tạ lễ mà lui.

Vua Quang Minh gặp một tiểu duyên, mà giải quyết được đại sự, là do trí dũng mãnh tinh tiến. Còn như kẻ lười biếng, dầu có gặp được duyên lớn cũng chẳng thành sự nghiệp gì. Chúng ta phải nên mạnh dạn bớt bỏ lòng tham dục si mê, chuyển theo con đường sáng của đức Phật đã vạch ra, thì một ngày kia ta sẽ ngồi trên đài liên hoa, bay đi khắp thế giới nhiếp phục chúng sinh cũng như Ngài không khác, mục đích cứu họ ra khỏi vòng phiền não ô trọc, xấu xa, được trí tuệ thần thông cao sáng, qua thoát khỏi sinh, già, bịnh, chết.


17/ Phẩm thứ mười bảy ƯU BA TƯ NA


MUỐN thành Phật phải tôn trọng Phật, phải khao khát giáo lý của Ngài, phải đọc tụng thọ trì, phải diễn thuyết kinh pháp. Chính những người cư gia tụng kinh thuyết pháp, chư thiên quỷ thần còn ham nghe, phương chi người xuất gia cho đến người đi đường tụng kinh đọc kệ thường thường vẫn có chư thiên theo nghe.

Là Phật tử phải chăm niệm Phật, tụng kinh, trì chú, thuyết pháp thì đời vị lai sẽ được quả báo trang nghiêm rực rỡ.

Thuở đó đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ, tại Kỳ Hoàn Tinh xá cùng với các đại Tỳ kheo một số đông.

Khi Ngài mới đến rừng này nhân dân cảm mến công đức vô lượng vô biên. Các người lương thiện nghe thấy danh đức của Phật, họ đều hoan hỷ và tán dương. Trái lại những kẻ ác, nghe thấy người lương thiện thì sinh lòng thù ghét.

Người hiền thiện không bao giờ bới xấu người, mà chỉ đem những điều lành của người ra nói thôi, vì muốn điều lành ấy lan ra cho nhiều người được nghe, thấy kẻ làm ác biết sự hành động ấy của nghiệp kết sử thì thương họ và tha thứ cho họ không chấp nhặt sự ngu si của họ.

Như vậy những người cõi nhân, cõi thiên đã đầy thiện duyên gặp Phật xuất thế thì họ tán dương, và đem giáo pháp của Ngài tuyên truyền cho các nước.

Thuở đó có một nước nhỏ thuộc quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc, phần nhiều những người tà kiến vì không có giáo lý của Phật truyền bá, song thôn xóm kia có một người con gái tên là Ưu Ba Tư Na, hôm ấy đi sang nước Xá Vệ, nơi vua Ba Tư Nặc ở, công việc đã xong, ra về cùng người thân tín đạo Phật, trọ tại bên nhà người Ưu bà tắc. Sau được nghe họ nói công đức của Phật cô liền theo họ, đến rừng Kỳ Hoàn để yết kiến Phật, tới nơi thấy Phật tướng hảo đoan nghiêm, uy nghi lẫm liệt quang minh sáng lạn, tâm sinh vui vẻ khát ngưỡng, cúi đầu lễ sát đất rồi lui ngồi về một bên.

Lúc đó đức Thế Tôn thuyết công đức của năm giới cho đại chúng nghe như sau:

- Không sát sinh, được quả báo sống lâu, không bệnh tật.

- Không trộm cướp, được quả báo giàu sang, không bị ngũ gia cướp đoạt.

- Không tà dâm, được quả báo nhân thiên kính trọng, thân người tốt đẹp.

- Không nói dối, được quả báo người đời kính trọng yêu mến, nói ai cũng tin theo.

- Không uống rượu, được quả báo thông minh.

Cô Ưu Ba Tư Na nghe xong tâm rất hoan hỷ! Cảm mến đức Phật, tới trước quỳ bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Con không biết có phúc duyên gì hạnh ngộ, hôm nay tới đây, được chiêm ngưỡng Ngài và được nghe công đức của năm giới, con thành tâm cúi xin năm giới của Thế Tôn, xin Thế Tôn trao cho con, con nguyện suốt đời vâng giữ, dẫu cho chết mất thân mạng con quyết không hủy phạm. Năm giới đối với con, cũng như người đói giữ cơm, người khát giữ nước, như người bệnh giữ mạng, con giữ năm giới cũng thế.

Phật dạy: - Con biết tuân hành thọ trì năm giới là người có phước lành đã trồng nhiều kiếp, con hãy lắng lòng nghe cho kỹ và ghi vào tâm thức chớ quên, ta nói đến đâu con lãnh thọ đến đó.

Ưu Ba Tư Na bạch: - Dạ kính lạy đức Thế Tôn, con xin chú ý lãnh thọ!

Khi cô lãnh giới xong, lại bạch Phật rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Con ở nước xa xôi, giờ đây con phải trở về, cúi xin trao cho con một bài kinh để hằng ngày tụng đọc và thờ kính. Các đức Phật quá khứ, các đức Phật đời vị lai cũng một kinh pháp ấy.

Theo lời cầu nguyện của cô, Ngài trao cho cô một quyển kinh "Pháp Cú" và dặn rằng:

- Con mang kinh này về, chiều sớm ban hôm chăm chỉ thụ trì đọc tụng, sẽ được công đức vô lượng.

Cô cúi đầu lễ ba lễ, nhiễu ba vòng rồi trở ra về.

Từ khi được thấm nhuần giáo lý đạo Phật, cô coi đời như giấc chiêm bao, tất cả gia đình sự nghiệp chỉ là trò huyễn ảo gây ra trong thời gian vô định, nên cô chỉ chăm chú vào quyển kinh sớm hôm đọc tụng, suy nghĩ giáo pháp cao siêu của tam thế chư Phật. Một buổi nọ lúc giữa canh khuya cô ngồi tụng kinh trên lầu cao, văng vẳng nghe trên không gian có tiếng nói rằng:

- Hay lắm! Hay lắm! Chị tụng kinh hay lắm! Chúng em muốn tặng chị một chút bảo vật song không thích hợp với tư tưởng của chị, vậy xin giới thiệu một lời để dâng chị. Hiện nay Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên tới đây đương nghĩ trong rừng, sáng ngày mai chị mời hai Tôn giả cúng dàng thì được phúc vô lượng, khi Tôn giả chú nguyện thì hô đến tên của chúng tôi.

Ưu Ba Tư Na nghe xong ngửa mặt lên hỏi:

- Ông là ai? Xin cho tôi được biết quý danh.

Đáp: - Tôi là Quỷ Vương tức là Tỳ Sa môn Thiên Vương nhân sang nam phương qua đây vì muốn nghe tụng kinh nên đứng lại!

Cô trả lời: - Người cõi Thiên không bao giờ nói lầm như vậy, ông là người trời, tôi là người thế, tuyệt không có nhân do, tại sao gọi tôi là chị.

Tỳ Sa môn đáp: - Đức Phật là ngôi Pháp Vương cũng là cha lành cõi nhân, cõi thiên, tôi là Ưu bà tắc, chị là Ưu bà di cùng chung một cha lành tu học một pháp vị, cho nên cũng có thể kêu là chị em được.

Cô vui vẻ hỏi tiếp: - Khi cúng dàng xưng tên của ông thì được lợi ích gì.

Thiên Vương đáp: - Tôi là Thiên Vương, tai nghe được rất xa, xưng tên tôi nghe thấy thì thêm thế lực của tôi và uy đức của tôi, khi đó tôi dùng thần lực sai khiến các quỷ thần ủng hộ người đó được phước lộc nhiều, và khiến cho họ thoát khỏi khổ nạn.

Thiên Vương nói xong rồi Từ biệt. Ưu Ba Tư Na trong lòng vui vẻ! Và thầm nghĩ như vầy:

- Đức Phật trăm kiếp ngàn đời, chăm tu khổ hạnh cũng là vì ta, và tất cả chúng sinh. Hôm nay cũng do uy đức của Phật nên ông Thiên Vương đối với ta một cách thận trọng, lại còn xưng tên ta là chị, đức Phật là một đấng cha lành cho muôn loài.

Cô ngồi tư duy nhận xét đạo lý mãi đến gần sáng mới thiu thỉu ngủ; trời vừa tang tảng, các cô gái vào rừng kiếm củi trèo lên cây cao chặt những cành cây khô, xa xa nhìn thấy hai vị Thánh Tăng, một vị là Xá Lợi Phất, một vị là Mục Kiền Liên, với năm trăm Thầy Tỳ kheo đương ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây, cô gái ở nhớ rằng "độ nọ được đi hầu bà sang nước Xá Vệ, gặp hai vị Thánh Tăng này một lần bà chủ ta tôn kính lắm".

Ngừng lấy củi cô lại tận nơi lễ bái thưa rằng:

- Kính thưa Tôn giả, chúng con là gia nhân của Ưu Ba Tư Na tới đây để bái mừng và đến thăm Tôn giả.

Tôn giả đáp: - Ưu Ba Tư Na có được vui vẻ không, có được an lạc giải thoát không?

- Thưa Tôn giả: - Ưu Ba Tư Na vẫn được an vui kể từ ngày được thọ giáo đức Thế Tôn, Ưu Ba Tư Na xin thỉnh hai Tôn giả tới nhà dùng bữa cơm hôm nay.

Tôn giả đáp: - Ngươi hãy về nói với Ưu Ba Tư Na. Hay lắm! Hay lắm! Ưu Ba Tư Na, là Ưu bà di khéo biết thời và khéo biết việc thích ứng, Phật vẫn thường khen năm pháp thí được phúc vô lượng.

Một là, bố thí cho người ở nơi xa tới,

Hai bố, thí cho người đi xa.

Ba là, bố thí cho bệnh nhân.

Bốn là, bố thí thức ăn cho người đang bị đói.

Năm là, bố thí pháp cho người biết pháp.

Năm pháp bố thí này nếu ai thực hành làm ngay, thì được phúc báo hiện tại.

Các cô nghe xong, vâng lời lễ tạ lui ra, về nhà gặp cô gái ở nhỏ bèn hỏi:

- Bà chủ ở đâu mày?

- Bà đang ở trên gác, đem qua bà ngủ không được, vừa mới ngủ đấy.

- Mày đi lên gọi bà dậy.

Đáp: - Em không dám!

- Không dám gọi thì để chị gọi.

- Tùy ý.

- Bà ơi! Mời bà dậy!

- Ngươi hỏi gì?

- Thưa bà, Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên đến rừng này con đã mời Ngài đến nhà dùng bữa cơm ngọ hôm nay.

Cô Ưu Ba Tư Na vui vẻ! Lấy bộ khoen vàng thưởng cho cô gái ở.

- Thưa bà, Tôn giả có những lời rất hay giáo hóa cho con.

- Con nhớ không? Nói cho ta nghe!

- Thưa bà, Tôn giả nói rằng: - Ưu Ba Tư Na là người Ưu bà di, khéo biết thời và khéo biết việc thích ứng. Phật vẫn thường khen năm pháp thí được phúc vô lượng.

Thứ nhất là thí cho người ở xa tới.

Thứ hai là cho người đi đường xa.

Thứ ba là thí cho người có bệnh hoạn.

Thứ tư là bố thí thức ăn cho người đương bị đói.

Thứ năm là bố thí pháp cho người biết pháp.

Năm pháp thí này nếu ai thực hành làm ngay, thì được phúc báo hiện tại.

Ưu Ba Tư Na nghe xong sung sướng quá, cũng như hoa sen khi gặp ánh nắng của mặt trời mà tung nở, trong lòng sáng tỏ tự nhiên phấn khởi tinh thần cũng như hoa sen kia đua nở vậy.

Ưu Ba Tư Na tháo chuỗi hột vàng trên cổ tặng thêm cho cô gái ở.

Cô gái ở vui mừng, đỡ lấy rồi nói:

- Mời bà dậy đi! Rửa tay, rửa mặt sửa soạn các món ăn mà cúng dàng, con sẽ đi mời các Ngài hầu bà.

- Ta vui lòng lắm! Nếu con đã vì ta làm việc này, hãy cứ làm đi, không phải nói nữa, ta cho tùy ý, và cũng không riêng gì cho ta, nếu cho làm việc tốt lành ấy, bất luận tại gia, hay xuất gia, nơi tụ lạc, thành ấp đều được sáng thịnh yên vui.

Nói xong đứng lên đi rửa tay bảo gia nhân và các người lân cận, người nấu cơm kẻ đốt lửa, gánh nước hái rau, kê bàn, trải chiếu, hái hoa, phân phó các việc xong, còn mình lấy thuốc giã rây hòa luyện cẩn thận. Khi các thứ đã đầy đủ rồi sai người đi mời hai Tôn giả và các Thầy Tỳ kheo.

Được tin mời, hai Tôn giả và các Thầy Tỳ kheo mặc áo tề chỉnh đi phó trai. Các vị tới nhà thăng tòa ngồi yên tĩnh.

Ưu Ba Tư Na ra lễ bái mừng! Cầm thau món ăn sẻ vào các bát, sắc hương thơm ngát một lòng thành kính dâng lên.

Sự cúng dàng được phúc báo tùy theo lòng thành kính:

Làm thức ăn ngon, lại đẹp thì được nhan sắc đẹp, mùi ngon thơm tốt thì được phúc danh thơm đồn xa, món ăn đầy đủ, được phúc báo tùy ý muốn gì được nấy, thân người vạm vỡ khỏe mạnh.

Chúng Tăng độ xong, Ngài Tôn giả Xá Lợi Phất làm phép chú nguyện.

Ưu Ba Tư Na thưa: - Kính xin Tôn giả hô đến tên ông Tỳ Sa môn Thiên Vương.

Ngài chú nguyện, xong, hỏi:

- Con đối với Tỳ Sa môn Thiên Vương có nhân duyên gì mà hô tên ông ấy?

- Kính bạch Tôn giả! Thực là một việc ly kỳ quá! Tối hôm qua con đương tụng kinh, ông Thiên Vương ấy đứng ở trên hư không, khen con và gọi con là chị. Lúc ấy con hỏi ông là ai nghe tiếng, mà không thấy người, ông ấy nói: - Tôi là Quỷ Vương Tỳ Sa môn Thiên Vương thấy người tụng kinh tôi đứng đây nghe, tôi muốn lấy trân bảo cõi Trời tặng nhưng không phải một thứ mà chị ưa muốn, nên xin tặng một lời đó thôi! – Con lại hỏi, ông muốn bảo gì?

Ông ta nói:

- Sáng mai Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên, đến rừng này, chị nên sửa trai cúng dàng, khi cúng thì hô đến tên tôi.

Con lại hỏi: - Xưng tên ông thì được lợi ích gì?

Ông ta nói:

- Tai tôi nghe được rất xa, nếu xưng tên tôi thì thêm thế lực của tôi, và uy đức của họ hàng tôi, tôi sẽ dùng thần lực sai quỷ thần ủng hộ cho người đó, thoát khỏi những khổ nạn, bởi nhân duyên ấy nên xưng tên.

Tôn giả nói: - Đấy, cũng là một việc lạ, con ở đạo người, kẻ kia ở đạo trời, họ đối với con có lòng kính trọng lại còn nhận là chị em.

- Kính thưa Tôn giả! Còn một việc lạ nữa: Trong nhà con thường có thần nhân đi lại viếng thăm một cách thân mật và cũng như một bạn gái vậy, khi con bố thí, thì vị thần bảo con rằng: Vị này là A la hán, vị này là Tu đà hoàn, vị này là Tư đà hàm, kẻ này là phàm phu, người này là trì giới, kẻ này phá giới, người này trí tuệ, kẻ này ngu si. Con tuy nghe thấy nhưng ý của con không phân biệt phá giới hay trì giới, trí tuệ hay ngu si, bất luận vị nào con đều coi như một vị La Hán.

Tôn giả nói: - Cũng hay lắm, ngay đấy con có tâm bình đẳng không phân biệt.

- Bạch Tôn giả! Con lại có một việc lạ nhất: Con là phận nữ nhi tại gia mà tiêu diệt được hai người thân kiến, đắc quả Tu đà hoàn!

Tôn giả nói: - Đấy con có phước lớn làm thân gái mà chứng được quả Tu đà hoàn!

- Bạch Tôn giả: - Con lại có một việc kỳ nữa, con sinh hạ được bốn đứa con đều ác kiến, chồng con cũng là tà ác quá đỗi, đối với Phật Pháp Tăng chẳng biết tin kính, con cúng dàng Tam bảo, hoặc cho kẻ bần cùng, lại sinh lòng giận tức tiếc của, và nói rằng: - Ta làm khổ sở mới có tiền, lại đem làm việc vô ích, tuy thế, nhưng đạo tâm bố thí cúng dàng tu thiện của con, không hề thay đổi và cũng không buồn hận gì!

Tôn giả nói: - Làm thân đàn bà suốt đời không bao giờ được tự tại, khi còn bé nhỏ ở với cha mẹ, thì cha mẹ cấm đoán, khi có chồng thì chồng đàn áp dưới ách di nô, khi già thì con cái ngăn đón, riêng đối với phúc lực của con thì không bị chồng cấm đoán, tùy ý tu thiện, này Ưu Ba Tư Na, tối hôm nay đức Thế Tôn sang rừng Tỳ Nữu Can Đặc, con lại viếng thăm Ngài.

Nói xong hai Tôn giả và các Thầy Tỳ kheo ra về. Ưu Ba Tư Na thầm nghĩ:

- Tôn giả mách bảo thật là một việc rất hay, ta sắm sửa vật thực để cúng dàng.

Ngày mai Ưu Ba Tư Na gọi các người thân tín đi viếng thăm Phật, tới nơi rừng Tỳ Nữu Can Đặc, thấy đức Thế Tôn dung nhan tươi sáng như vừng nhật nguyệt, uy phong lẫm liệt. Cô và mọi người thụp lạy trước Ngài, dâng hoa lên cúng rồi lui ngồi về một bên.

Hôm đó đức Thế Tôn thuyết pháp nói về công đức bố thí trì giới, sinh thiên, đoạn dục và Niết bàn, nghe thuyết pháp xong nàng bạch Phật rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Thôn xóm con thuần những người tà kiến, không biết Phật Pháp Tăng, và không ưa việc bố thí. Cho nên những vị Sa môn, Bà la môn, có vào làng không ai biết cúng dàng, nên các vị chỉ vào nhà con. Kính xin Ngài có thời gian nào đến ấp làng con giáo hóa cho mọi người biết tín ngôi Tam bảo, hơn nữa chúng con lại được cúng dàng.

Bạch xong lễ tạ lui ra, lần lượt đi thăm các vị Tỳ kheo, cuối cùng thấy một vị mang bệnh nằm trong hang cỏ, liền hỏi:

- Đại đức bệnh hoạn thế nào? Đau lâu mau thế nào? Phải dùng những thức gì điều trị, xin cho con được rõ.

Đáp: - Tới đây thủy thổ bất hòa, tôi không hợp nên phải thụ bệnh, giờ đây nếu được thứ thịt tươi ăn thì khỏi.

- Bạch Đại đức, ngày mai con xin dâng Đại đức dùng, việc ấy không khó!

- Hay lắm! Quý hóa lắm!

Ưu Ba Tư Na lễ sát dưới chân xin phép ra về, đi đường thầm nghĩ rằng:

- Ta có phước đức lớn, hôm nay được yết kiến Phật và các Tôn giả.

Ngày mai sai người ở đi chợ mua thịt, không mua được trở về thưa rằng:

- Thưa bà, hôm nay ngày rằm chợ không bán thịt, và hôm nay ngày quốc cấm, nếu ai sát sinh bán thịt sẽ bị trọng phạt!

- Thế à! Mày cầm một ngàn đi mua, chỉ lấy số thịt giá một trăm đồng thôi, hoặc có kẻ nào ham lợi thì họ bán!

Kẻ đó mang tiền đi chợ lần nữa, nhưng vì luật nhà vua quá nặng nên không ai giết lợn bán, về thưa rằng:

- Thưa bà, hôm nay ngày quốc cấm không ai dám giết thịt bán.

- Mày cầm tiền vàng đi các nhà đồ tể mua một giá rất đắt!

Vâng lời bà chủ đi mua, nhưng các nhà sát sinh cũng không ai dám mổ heo bán, về thưa cùng bà chủ rằng:

- Thưa bà con đã hết lời năn nỉ họ, nhưng luật nước quá nặng, không ai - Thôi để ta liệu!

Ưu Ba Tư Na thầm nghĩ rằng:

- Ta đã hứa dâng Ngài dùng mà không có thì Ngài mong ta, hoặc vì thế mà Ngài chết thì lỗi tại ta. Song lại nhớ tới vị Bồ tát ngày xưa vì một con chim bồ câu, còn cắt thịt để cứu mạng sống của nó, phương chi đây là một vị Tỳ kheo ta không nên quá yêu thân ta, ta nên cắt thịt của ta để cứu lấy bịnh của Ngài. Nghĩ xong đi tắm rửa sạch sẽ gọi một người thân tín nhất vào phòng nói rằng:

Ngươi làm ơn lấy dao này cắt thịt bên vế đừi cho ta một cân.

Người đó cầm dao cắt, trong lúc xẻo thịt, mặc lòng đau đớn khổ não; nhưng cứ bấm gan chịu, đứa ở gái lấy băng buộc chặt lấy chỗ đau. Sau mang ra nhào các thứ dược thảo nấu chín, bỏ vào cà mèn, đưa đến rừng dâng lên vị Tỳ kheo có bệnh.

Tỳ kheo ăn thịt xong, thân thể an lạc các bệnh đều khỏi, lành mạnh như xưa.

Đoạn này chồng của Ưu Ba Tư Na về, không thấy vợ liền hỏi gia nhân rằng:

- Chúng bây đâu!

- Dạ! Ông chủ hỏi gì ạ.

- Chúng bây có biết Ưu Ba Tư Na đi đâu không?

- Dạ! Thưa ông, bà đương nghỉ trong phòng!

Vào phòng thấy vợ nhan sắc biến đổi, có vẻ đau đớn, hỏi:

- Em đau à? Coi vẻ ủ rũ đấy!

Bước ra sai người gọi Thầy lang về chẩn mạch.

Thầy lang đến.

- Thưa bác nhà tôi bị đau, nhờ bác chẩn mạch cho thuốc.

- Vâng! Chị ấy nằm đâu?

- Trong nhà, mời bác vào!

- Thế nào, bác đau sao?

- Bệnh tôi lúc nào cũng đau, hiện đang đau lắm không ngớt đau chút nào.

Thầy lang chẩn mạch không biết bịnh gì, yên lặng lui ra.

Thầy lang nói: - Bác ạ, tôi không rõ bác gái bệnh gì!

Anh chàng hỏi:

- Bệnh em làm sao nói cho tôi biết?

Thầy lang có giỏi cũng không biết được bệnh tôi! Thôi anh không phải lo, ít ngày em sẽ khỏi bệnh.

Anh chàng lui ra, gọi gia nhân hỏi:

- Lũ bây có biết Ưu Ba Tư Na bệnh gì không?

- Thưa ông bọn tôi không biết, ông hỏi người hầu cận bà thì biết.

Anh chàng gọi đứa ở gái ra chỗ vắng hỏi:

- Mi có biết Ưu Ba Tư Na bệnh gì không, nói thực cho ta biết.

- Thưa ông! Bà cắt thịt đùi ra, nấu cúng dàng cho một vị Tỳ kheo ăn, nên bà bị đau đó!

Anh chàng nghe nói, hầm hầm nổi giận ra ngoài đường lớn tiếng nói:

- Làm Sa môn Thích Tử mà ăn thịt người, có khác gì Đồ Bác Túc Vương ngày xưa không?

Chàng lê la nói mãi, khiến cho những người tín đồ của Phật vừa tủi thẹn vừa tức bực! Anh chàng dám mạ Phật, Pháp, Tăng, rồi một số đông đến chỗ Phật lễ xong lui ngồi một bên.

Phật hỏi: - Các ngươi tại sao buồn thế.

- Kính lạy đức Thế Tôn! Có một chành dòng Phạm Chí ra chỗ đông người lớn tiếng phỉ báng Phật, Pháp, Tăng rằng: - Trước đây Đồ Bác Túc Vương ăn thịt người, ngày nay Thầy Sa môn đệ tử của Phật cũng ăn thịt người, cúi xin đức Thế Tôn ra lịnh cho các vị, từ nay không được ăn thịt nữa.

Đức Phật đánh chuông họp chúng rồi gọi vị Tỳ kheo có bệnh lên hỏi.

Vị Tỳ kheo lên lễ Phật xong lui ngồi về một bên.

Phật hỏi:

- Quý tử bệnh gì?

- Kính lạy đức Thế Tôn, vài hôm trước con mắc chứng bệnh sốt, nhưng hôm nay đã bớt nhiều.

Phật hỏi:

- Hôm nay ngươi ăn món gì?

- Bạch lạy Thế Tôn! Con ăn thịt và uống nước thịt.

- Ăn thịt tươi hay thịt khô?

- Dạ con ăn thịt tươi!

- Thịt tươi tức là thịt không để cách đêm.

Phật nói: - Nghe đây! Bất luận tươi hay kho trước khi ăn ngươi có hỏi tịnh hay bất tịnh không?

- Dạ! Lạy đức Thế Tôn, bệnh con đau quá, được thịt thì ăn ngay chứ không kịp hỏi.

Phật nói: - Tỳ kheo tại sao lại dùng món ăn bất tịnh? Phép của Tỳ kheo những món ăn của thí chủ, trước khi ta ăn phải hỏi, đây là thịt gì? Nếu thí chủ nói: Đây là tịnh nhục, thì phải xem xét có thể tin được mới ăn, nếu không tin được thì không ăn.

Từ đấy Phật cấm các vị Tỳ kheo không được ăn thịt bất tịnh như sau:

Nếu Tỳ kheo nhìn thấy họ giết con vật ấy, thì không được ăn.

Nghe thấy tiếng nó kêu khi bị người giết, cũng không được ăn.

Nghi ngờ không được ăn.

Như thế là phân biệt nên ăn hay không, khi đó Ưu Ba Tư Na được tin Phật cấm các vị Tỳ kheo không được ăn thịt, chính bởi tại mình, trong lòng phát sinh đau khổ, buồn phiền, bởi vì mình mà các vị sư không được ăn thịt liền kêu chồng đến nói rằng:

- Anh mạ Phật, Pháp, Tăng có tội lớn, ngày mai anh mời Phật và chư Sư về nhà cúng dàng và sám hối, nếu anh nghe lời tôi thì đi ngay, bằng không thì tôi sẽ tự sát thân tôi trước mặt anh cho biết.

Anh chàng vốn không có lòng kính tin Phật, sau cũng vì sợ vợ tự tử, đáp rằng:

- Vâng! Tôi xin tuân lời của cô, xin cô đừng nói nữa, tôi sẽ đi mời Phật ngay bây giờ!

Nói xong anh chàng đi ngay, tới thưa rằng:

- Thưa Ngài Cồ Đàm Sa môn, ngày mai chúng tôi xin mời Ngài, và mấy vị đệ tử đến nhà dùng cơm.

Đức Phật thấy anh lỗ mãng vô lễ, Ngài Từ bi lẳng lặng tỏ ý nhận lời.

Anh chàng cũng biết Ngài nhận lời của mình, vái tạ ra về, khi tới nhà nói với vợ rằng:

- Ông Cù Đàm đã nhận lời mời của tôi rồi đấy!

Ưu BaTư Na sai gia nhân sửa soạn các món ăn, hương hoa, ghế ngồi trang trí trong nhà rất tôn nghiêm, sớm mai sai người vào rừng mời Phật.

Khi Phật và các vị Tỳ kheo đến nhà ngồi an tĩnh, không thấy Ưu Ba Tư Na Ngài hỏi:

- Ưu Ba Tư Na đâu? Không thấy ra chào?

Anh chàng đáp:

- Dạ! Đương bị đau bệnh nằm trong giường.

Nói xong chạy vào phòng gọi:

- Thầy cô gọi cô đó!

- Anh ra bạch rằng: - Ưu Ba Tư Na lễ dưới chân Phật và các vị Thánh Tăng, vì có bệnh đau quá không thể ra được, cúi xin xá tội. Nhưng anh ăn nói cho có lễ độ mới được!

Anh chàng ra thưa rằng:

- Dạ! Thưa Ngài, Ưu Ba Tư Na lễ dưới chân Phật, Pháp, Tăng, vì mang bệnh đau quá không thể ra chào được.

Phật kêu: - A Nan

- Dạ!

Ông vào phòng gọi Ưu Ba Tư Na ra ta hỏi.

- Dạ!

Tôi vào tới phòng, Ưu Ba Tư Na cố gượng ngồi dậy chắp tay nói:

- Kính bạch Đại đức, con xin lễ dước chân Phật, Pháp, Tăng, rất muốn ra yết kiến đức Thế Tôn, như kẻ đói được cơm, kẻ rét được áo mặc, như khi nóng nực được mát mẻ, như kẻ lạc đường muốn về lối cũ. Con muốn ra lễ kính Phật cũng như thế, tâm con khao khát, nhưng thân con hiện giờ đau lắm không ra được! Kính xin Đại đức ra bạch Phật hộ con.

Tôi đi ra trình Phật những lời của Ưu Ba Tư Na vừa nói, thì Phật bảo tôi rằng:

- Ông cho người khiêng Ưu Ba Tư Na ra đây!

- Dạ! Con xin tuân lệnh.

Tôi bảo gia nhân khiêng đến trước Phật.

Khi đó đức Như Lai phóng quang minh, ánh sáng chiếu vào chúng sinh nào thì chúng sinh ấy được phần lợi ích, kẻ điên rồ được an chính, kẻ loạn tâm được bình tĩnh, kẻ bệnh hoạn được hết bệnh hoạn. Ưu Ba Tư Na nhờ oai thần của Phật ánh hào quang soi tỏ cõi lòng, ngay giờ phút đó được lành mạnh hết đau.

Ưu Ba Tư Na kính sợ vui mừng giao cảm, đứng lên thụp lễ dưới chân đức Thế Tôn, lui ra cầm một cái bình bằng vàng lấy nước rửa chân Phật, đặt các món ăn, sắc đẹp mầu thơm ngào ngạt dâng cúng đức Thế Tôn và các hàng Thánh Tăng. Dùng cơm xong Phật thuyết về luận "Bố thí", luật "Trì Giới", tu "Thập Thiện", quả báo sinh thiên, sinh tử là tội lỗi của tham dục, muốn xuất ly sinh tử phải tu "Tịch Diệt", diệt khổ được an vui, nói về Mười Hai Nhân Duyên luân duyển không dứt.

Ưu Ba Tư Na nghe Phật thuyết pháp xong thì đoạn tuyệt được lòng tham dục, giận tức, si mê, chứng quả "A na hàm". Người chồng cô tự bỏ được tà kiến, biết tôn kính ngôi Tam bảo, và xin thụ giới Ưu bà tắc, tất cả họ hàng quyến thuộc đều xin thụ Tam Quy Ngũ Giới.

Bốn chúng đệ tử Phật, khi đó có người đắc quả Tu đà hoàn, có người đắc quả Tư đà hàm, có người đắc quả A la hán, mọi người ai nấy đều vui vẻ khát ngưỡng Pháp bảo Vô Lượng.

Ngoài ra còn có nhiều người nghĩ như vầy:

- Kẻ nữ nhân dám cả gan cắt thịt cúng dàng Sa môn, thực là một chuyện chưa từng thấy bao giờ! Chúng ta nếu bỏ quê hương nhà cửa, cũng là một việc khó.

Sau đó những người dân bản xứ, có nhiều người bỏ nhà cửa họ hàng đi xuất gia, chăm chỉ tư hành đoạn trừ kết lậu, thành ngôi A la hán từ đó nơi thôn dã ấy nhiều người biết tin theo đạo Phật, giáo pháp được lan rộng khắp nơi.

Cũng bởi thế, những người có trí tuệ sáng suốg cho đến kẻ nữ nhân cũng chăm tụng đọc kinh Phật, tinh siêng không biết mỏi mệt, nên cũng nhiều người đắc quả. Kẻ trượng phu lòng chăm tu đạo, há lại không thành công sao?

Coi đây, các thiện nam tử, thiện nữ nhân cần phải tu đạo nghiệp, sợ sinh tử khiến cho kết sử nhẹ bớt, có ngày sẽ lìa được sinh tử, tuy đời mạt pháp chưa được độ song công đức ấy cũng được sinh nhân thiên, hưởng phúc vô cùng tận.

Ngài Di Lặc Thế Tôn cách năm mươi sáu ức bảy ngàn muôn năm sẽ thành Phật thuyết pháp độ sinh, bấy giờ tùy lòng cầu nguyện của mình muốn chứng đạo quả nào sẽ được đạo quả ấy.


(Quyển Thứ Ba Hết)


Kinh Hiền Ngu Quyển Thứ Tư


18/ Phẩm thứ mười tám XUẤT GIA CÔNG ĐỨC


CHÍNH tôi được nghe: Một thuở nọ đức Phật ở nước Ma Già Đà, tại thành Vương Xá trong vườn Trúc Ca Lan Đà.

Buổi thuyết pháp này đức Phật nói về công đức xuất gia. Ngài nói rằng:

- Nếu người nào cho con trai con gái, đứa ở trai đứa ở gái, hoặc người dân hay chính mình đi xuất gia, công đức ấy thực là vô biên nếu đem tỷ với phước báu của bố thí, dầu có được hưởng phúc đến mười đời trên cõi nhân, cõi thiên cũng không bằng công đức cho một người đi xuất gia hay tự mình đi xuất gia.

Tại sao thế? Vì phúc báo bố thí chỉ có hạn định, còn phúc xuất gia không có hạn định, nên không thể bì kịp, hoặc phúc báu trì giới, hoặc phúc của các vị thần tiên có đủ năm phép thần thông, cho đến phúc báu cùng tột của cõi trời Phạm Thiên, đem ví với phước báu xuất gia trong Phật – Pháp cũng không sánh nổi, hơn nữa người xuất gia còn được đạo Niết bàn, nên phước ấy không thể nói bàn cho xiết được.

Giả như có người nào, xây tháp bằng Thất bảo, cao tới cõi trời Đao Lợi, công đức ấy cũng chưa bằng cho người đi xuất gia, vì tháp Thất bảo kia có ngày bị kẻ gian ác ngu si phá hủy.

Muốn cầu một pháp lành, ngoài Phật Pháp ra không còn pháp gì có thể cao hơn. Cũng tỷ như một trăm người, bị lòa đôi mắt, gặp Thầy thuốc chữa lành sáng tỏ, hoặc trăm người bị tội móc mắt gặp được người có sức hùng mạnh cứu thoát, phước cứu hai người nói trên, tuy lớn nhưng không bằng cho một người đi xuất gia.

Đức xuất gia cao cả, phước cứu hai người lành đôi mắt chỉ được một đời, rồi đây nó cũng bị hoại.

Cho người đi xuất gia, hay tự mình đi xuất gia, sau khi được thành tựu quả Bồ đề họ sẽ đem giáo lý đạo Phật giáo hóa chúng sinh, được con mắt trí tuệ muôn ngàn kiếp bất diệt, vì con mắt trí tuệ không bao giờ bị hoại.

Những người được hưởng phúc trong cõi nhân cõi thiên, chỉ phóng túng say mê về dục vọng, họ không có con mắt trí tuệ nhận xét: Nó là giả dối, không sự thật, nó là hố lửa sâu, thui đốt con người ngu si tham vọng, nó làm hầm cạm bẫy đưa dắt người vào nơi ác thú luân hồi.

Pháp xuất gia tiêu diệt họ hàng nhà ma, làm lợi ích cho dòng xuất thế của Phật Pháp, nuôi thiện pháp, trừ tội cấu, thêm phúc lành, được thành Phật.

Đức Phật nói: - Công đức xuất gia cao như núi Tu Di, sâu như biển cả, rộng như hư không.

Những ai làm cản trở người phát tâm đi xuất gia, kẻ đó sẻ bị tội đọa vào Địa ngục hắc ám, và không có mắt, cũng ví như tất cả các nước sông lớn sông nhỏ, ngòi, lạch, suối, ao, đều chảy về biển, tội báo của kẻ đó cũng thế, những tội ác chất ở thân kẻ đó cũng ví như núi Tu Di bị thời tai kiếp đốt cháy tiêu tan, kẻ đó vào Địa ngục hỏa thiêu vô thời hạn, cũng như vị thuốc độc Ca Lưu Lâu Hê Ni đem tỉ với vị thạch, một sự báo ứng của thiện ác cũng thế.

Cho người đi xuất gia, hay chính mình đi xuất gia, công đức như trời xanh, như biển thẳm. Người xuất gia lấy kinh điển làm nước, để rửa những cấu nhơ của nghiệp kiết sử, trừ bỏ được khổ, sinh, già, bệnh, chết, và làm cái nhân của đạo Niết bàn, lấy giới làm chân bước lên đất thanh tịnh trang nghiêm, lấy luật làm mắt để coi xem những thiện ác của thế gian, đi trên đường Bát Chánh tới thành Niết bàn, vì những lợi ích ấy nên cho người đi xuất gia, hay tự mình đi xuất gia.

Thời đó có một Trưởng giả tên là Thi Lợi Bí Đề (Tàu dịch là Phúc Tăng) tuổi đã một trăm, nghe biết người ta thuật lại công đức xuất gia cao cả như vậy, ông thầm nghĩ như vầy:

- Ta nay tuổi đã già yếu đối với việc xuất gia tu đạo trong Phật Pháp, phúc đức lớn lao, sao lại không xuất gia chả uổng lắm ư?

Nghĩ xong gọi vợ con lên bảo:

- Bà và các con ở nhà làm ăn, tôi muốn đi xuất gia tu đạo, có vui lòng không?

Ông lão này vợ con đều ghét bỏ, vì ông chỉ ăn hại, không làm được việc gì, lại hay bẳn gắt, nên họ đều mừng và trả lời:

- Dạ! Phải, nguyện ông đi cho rồi, đi sớm được giờ phút nào, là hay cho lũ tôi giờ phút đó!

Ông lên đường đi hỏi thăm đến vườn Trúc nơi đức Thế Tôn ngự. Tới nơi không may ngày đó Phật đi vắng, ông vào hỏi các vị Tỳ kheo rằng:

- Bạch Đại đức, Phật Ngài ngự phòng nào, xin chỉ giùm tôi?

- Đức Thế Tôn, Ngài đi giáo hóa nơi khác không có ở nhà!

- Bạch Đại đức, Phật đi vắng thì vị Thượng túc của Ngài là ai?

Các vị đều chỉ tay đến chỗ Ngài Xá Lợi Phất, ông lão lọm khọm chống gậy tới, bỏ gậy xuống đất chắp tay làm lễ thưa rằng:

- Bạch lạy Đại đức Thế Tôn giả con một lòng thành kính tới đây xin xuất gia học đạo, cúi xin Ngài Từ bi thâu nạp, được đội ơn vạn bội!

Ngài Xá Lợi Phất đưa mắt nhìn xong tự nghĩ rằng:

Người này già yếu, học hỏi, tọa thiền, trợ việc chúng, trong ba việc, không làm được một, có tu cũng vô ích.

Nghĩ rồi đáp rằng: - Ông già yếu lắm rồi, không thể xuất gia được.

Sau ông đi thưa với Ngài Ca Diếp, Ngài Ưu Ba Ly, Ngài A Nâu Lâu Đà, cuối cùng đến năm trăm vị La Hán, các vị đều hỏi:

- Ông đã thưa với vị nào chưa?

Ông đều thưa với các vị rằng:

- Trước hết con hướng đức Thế Tôn, nhưng Ngài không có ở Tinh xá, con có thưa với Ngài Tôn giả Xá Lợi Phất, Ngài nói rằng ông già yếu lắm rồi, không thể xuất gia được. Thì các vị đều trả lời rằng:

- Ngài Xá Lợi Phất là một vị trí tuệ thứ nhất, còn không dám thâu nạp vào hàng xuất gia, ta cũng thế, cũng tỷ như một ông Thầy thuốc giỏi, biết bệnh nhân không thể chữa được, ngoài ra các Thầy lang khác cũng phải khoanh tay, còn chữa sao nổi, độ sao được!

Có lẽ ông lão này tử tướng đã xuất hiện, nên Ngài Xá Lợi Phất không độ, cho đến các vị Tỳ kheo cũng từ chối.

Ông Thi Lợi Bí Đề xin xuất gia không được, trở ra ngoài ngõ Trúc viên than khóc một mình rồi lẩm bẩm nói:

- Ta từ thuở sinh làm người đến nay, chưa làm một lỗi gì lớn, thế mà tại sao chỉ riêng một mình ta không được xuất gia? Ông Ưu Ba Ly là người bần tiện, ông Ni Đề là người hốt phân thuê, ông Ương Quật Ma La là kẻ giết người rất nhiều, ông Đà Tắc Ky là kẻ ác nhân làm giặc, mà còn được xuất gia? Vậy mình có tội gì không được xuất gia?

Đương phàn nàn một mình, hốt nhiên thấy Phật đứng ở trước mặt, ông nhìn thấy quang minh chói sáng, tướng mạo đoan nghiêm, tựa như vua Thiên Đế Thích trên cung trời Đao Lợi.

Phật hỏi: - Thi Lợi Bí Đề làm sao khóc?

Ông vui mừng quá! Vội vàng cúi đầu lễ dưới chân khóc mà bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Có những chúng sinh: Kẻ giết người, kẻ làm giặc, kẻ nói dối, kẻ phỉ báng, kẻ hạ tiện, những kẻ đó đều được xuất gia, con xét thân con từ thuở sinh làm người đến nay đã một trăm tuổi chưa từng làm điều gì ác, mà các vị Tỳ kheo không thâu nhập cho con được xuất gia! Bạch lạy đức Thế Tôn! Ở nhà thì vợ con ghét bỏ, đến đây nương bóng Từ bi Ngài không có ở Tinh xá, các vị Tỳ kheo cho con già quá không nhận, bây giờ về cũng khốn nên con muốn bỏ mạng ở nơi đây.

Phật hỏi: - Ai nói người này trẻ được xuất gia kẻ kia già không được xuất gia?

- Kính lạy đức Thế Tôn, Ngài Thượng túc Xá Lợi Phất!

Ngài an ủi ông rằng:

- Thôi chớ buồn nữa, ta sẽ cho xuất gia tu học, ông Xá Lợi Phất không phải là một người đã chăm làm những hạnh khổ trong ba đại kiếp A tăng kỳ và đã tu phúc trong trăm kiếp, ông không phải đời ấy đời khác đã chăm làm những việc rất khó, như: Chặt đầu móc mắt, chẻ xương lấy tủy, óc, cắt thịt chọc tiết, lột da, chẻ xương chân tay, cắt cái mũi bố thí; ông không phải là người đã đem mình cứu hổ đói nhảy xuống hố lửa sâu, đóng trên mình một ngàn cái đinh để cầu nghe đạo, khoét mình ra một ngàn lỗ để đốt đèn; ông không phải là người đã đem quốc, thành thê, tử, nô tỳ, voi, ngựa, Thất bảo ra bố thí, ông không phải là người kiếp sơ A tăng kỳ cúng dàng tám vạn tám ngàn đức Phật, kiếp hậu A tăng kỳ cúng dàng mười vạn ức đức Phật, xuất gia giữ giới đầy đủ đối với pháp tự tại ông Xá Lợi Phất không có thể nói: Người này được xuất gia, hay kẻ kia không được xuất gia, Ta một người đối với pháp tự tại cỡi xe Lục độ, mặc áo giáp Nhẫn Nhục, ngồi tòa Kim Cương, dưới cội cây Bồ đề hàng phục Ma Vương thành ngôi Vô thượng Pháp Vương, không ai bằng ta, người an tâm theo ta về Tinh xá, ta sẽ cho xuất gia.

Đức Thế Tôn an ủi xong làm cho nỗi phiền não của ông được tiêu tan, trong lòng vui vẻ sạch lâng! Theo sau Phật về.

Khi về tới Tinh xá đức Phật, gọi ông đại Mục Kiền Liên giao cho phải chịu trách nghiệm dạy bảo và thế phát làm lễ xuất gia.

Vì Đức Phật, Ngài có con mắt trí tuệ nhận thấy những chúng sinh có duyên với người nào thì người ấy mới độ được. Tỷ như người có duyên với Phật thì Phật độ cho họ, người khác không độ được, người có duyên với người khác thì người khác độ, Phật không độ được, người có duyên với Ngài Xá Lợi Phất thì Ngài Xá Lợi Phát độ cho họ, chứ Ngài Mục Liên, Ngài Ca Diếp, Ngài A Na Luật, Ngài Kim Tỳ La và tất cả vị Thanh văn sao độ cho họ được, vì họ không có duyên với các vị. Nói tóm lại những người có duyên với mình, thì mình độ, không có duyên thì không thể độ được.

Ngài Mục Liên vâng lời Phật lãnh trách nhiệm, rồi thầm nghĩ như vậy:

- Ông lão này niên cao già yếu, tụng kinh, tọa thiền, trợ việc chúng ba việc không được một. Song Phật đã giao cho, ta lẽ nào dám trái mạng.

Sau ít bữa thế phát đăng đàn thọ giới cụ túc.

Tuy thế nhưng ông lão đã có trồng nhân lành với Phật Pháp từ đời quá khứ, đã từng tu tập các công đức, các pháp môn của Phật giáo, nên kiếp này tuy xuất gia muộn, nhưng sự tinh anh học hiểu rất mau chóng.

Từ khi ông được thế phát xuất gia làm Sa môn ngày đêm cố gắng tu tập nghe rành hiểu rõ, nên chẳng bao lâu đã khai ngộ.

Hiềm vì tuổi già sức yếu nên oai nghi lễ kính đối với các Thượng tọa không đủ bổn phận, các vị niên thiếu Tỳ kheo, thấy ông có những hành vi thô tháo, không có lễ độ nhà thiền, cũng có khi răn bảo hoặc quở trách, thì ông lại kiêu căng tự đại, cậy mình niên cao học rộng, không chịu cung kính thừa sự. Thấy các vị có cử chỉ đối với mình như vậy, ông thầm nghĩ vầy:

- Ta ở tại gia vợ con ghét bỏ xúc não, nay đi xuất gia, mong được chỗ an vui, qua con mắt trái ngược nơi tục lụy, ai ngờ lại bị các Tỳ kheo niên thiếu khinh miệt, không biết ta phải tội gì đến thế, lại thêm nghiệp phiền não cho ta, thà bỏ mạng cho qua đời là hết chuyện.

Ông liền đi sang khu rừng, bên đó có một con sông, vừa sâu vừa chảy mạnh, cởi áo Cà sa vắt trên cành cây, quỳ thẳng chắp tay hướng lên tấm áo khóc mà thề rằng:

- Con xin bỏ mạng nơi đây, nhưng không bỏ Phật, Pháp, Tăng, cái áo của con đây, xin dâng cúng các vị Tỳ kheo trì giới thanh tịnh tinh tiến tu hành, nguyện xả thân này, được sinh vào nhà phú quý vui vẻ! Họ hòa thuận không làm ngăn cản những thiện pháp con muốn làm, và được gặp ngôi Tam bảo xuất gia tu đạo, đắc ngộ minh sư thiện hữu, chỉ bảo cho những ý nghĩa lý sâu huyền tu chứng thành công trên đường giải thoát an lạc.

Thế rồi, ông nhảy xuống sông. Khi đó Ngài Mục Kiền Liên ở trong rừng Trúc, dùng thiên nhãn nhìn xem ông đệ tử già mình làm gì, chợt thấy ông nhảy xuống sông, Ngài dùng lực thần túc vớt ông lên bờ, rồi bay tới tận nơi hỏi:

- Pháp Tử làm gì thế?

Thi Lợi Bí Đề ngửa mặt nhìn thấy Thầy, thẹn hổ quá! Và cũng không biết dùng lời lẽ gì để thưa cùng Thầy, ông thầm nghĩ:

- Ta không nên nói dối Thầy, đời đời bị tội không lưỡi. Song Thầy ta có thần thông biết trước, nếu ta nói dối Thầy ta cũng biết. Trên đời những người có trí tuệ thông mình tính chất thật thà ngay thẳng, các ông trời còn phải kính trọng, nếu người có trí tuệ mà tâm siểm dối, cũng làm nhân sư và được người ta cúng dàng, người không có trí tuệ mà tâm ngay thẳng, tuy không giúp được người, nhưng đã tự cứu được mình, nếu kẻ vừa ngu si vừa siểm nịnh lừa dối thì bị người ta khinh rẻ chê bai, là đồ hèn hạ, dẫu có nói gì người ta đều cho là kẻ lừa bịp không thật, nếu có nói thật đi nữa người ta cũng không tin dùng, ấy thế nếu nói dối Thầy dĩ nhiên không hay cho bản thân ta.

Thưa rằng: - Bạch Thầy con đã chán cái cảnh tục lụy, đi xuất gia để cầu an lạc, trái lại không thấy an lạc, mà chỉ thấy phiền não nhiều! Vì thế con muốn bỏ mạng ở đây, xin Thầy xá tội!

Ngài Mục Liên thầm nghĩ:

- Ông lão này nếu ta không dùng một phương pháp sợ hãi thì đối với việc xuất gia của ông không kết quả.

Nghĩ xong nói: Pháp Tử hãy nắm chặt lấy góc áo Cà sa của ta, khi bay lên hư không phải chính niệm chớ có loạn tưởng.

- Dạ! Thầy dạy con xin tuân mạng.

Ông nắm áo cẩn thận, Ngài bay vút lên hư không như cơn gió thổi mạnh, ông đệ tử nắm áo Ngài, cũng như luồng gió cuốn bụi, như chiếc bông bay trên không gian. Chỉ một chớp loáng đã tới biển cả. Ngài hạ chân xuống bãi, hai Thầy trò đi trên bãi biển, gặp một người con gái mới chết nằm phơi thây dưới ánh mặt trời, ruồi nhặng ào ào bâu kín, nhìn thấy một con trùng bò ra rồi chui vào lỗ mũi, sau lại luồn ra hai mắt, qua mắt rút vào lỗ tai, coi rất ghê sợ. Ngài đứng lại lập phép quán tưởng, quán xong lại đi.

- Bạch Hòa thượng! Người con gái này vì lý do gì chết tại đây? Lại có con trùng bò ra, rúc vào như vậy?

- Một lát ta sẽ nói cho hay!

Hai Thầy trò đi được vài dặm, gặp một nguời con gái, đội cái vạc bằng đồng đến mé biển đổ nước đầy lửa đun sôi sùng sục, cởi áo nhảy vào trong vạc nước sôi ấy, tóc lông rụng hết, chân tay rã rời, xương thịt tả tơi, nhừ nát thân thể, nước sôi mạnh quá làm cho xương thịt tung hết ra ngoài, gặp một cơn gió làm cho da thịt chắp liền với nhau, thành lại hình người như cũ, người con gái ấy cứ xé thịt mình ra, rồi bỏ vào mồm ăn như ngon lành lắm. Ông đệ tử già sợ quá hỏi:

- Bạch Hòa thượng, cô này tội gì như vậy, xin Thầy nói cho con được rõ?

- Hãy khoan! Lát nữa ta nói cho hay!

Hai Thầy trò đi khoảng vài dặm, thấy một thân cây to lớn, có rất nhiều sâu bám kín, cho đến cành lá chỗ nào cũng có sâu ăn rúc, lại nghe thấy tiếng kêu khóc! Làm cho chấn động, như tiếng kêu trong Địa ngục, sợ quá! Hỏi:

- Bạch Hòa thượng tiếng kêu đó là những người nào, tại nguyên nhân gì?

- Hãy khoan! Rồi ta sẽ nói.

Thầy trò lại bắt đầu đi, vừa được một lát, thấy một quả núi lớn có rất nhiều dao kiếm nhọn sắc, cắm ngược mũi lên trời, tua tủa như các hàng cây mọc, lại thấy một người nằm lăn mình từ trên đỉnh núi xuống đến chân, thân thể người ấy bị dao kiếm đâm nát tươm, máu chảy lênh lánh coi rất rùng rợn, hoặc có cái dao, cái kiếm nào bị đổ, người ấy lại dựng đứng lên như cũ, rồi bắt đầu trèo lên đỉnh núi lăn như trước, cứ như thế mãi không thôi.

Sợ quá! Hỏi: - Bạch Hòa thượng người này tại sao khổ như thế?

- Hãy khoan, tới thời ta sẽ nói!

Qua quả núi này thấy một người con trai to lớn, chung quanh mình mọc hình những đầu các con thú rất ghê gớm, lại thấy các quỷ thần ác, tay cầm cung hoặc nỏ, mỗi cái tên có ba ngạnh, đầu bịt sắt nhọn có thuốc độc, và cháy đỏ, họ thi nhau, tranh nhau bắn người con trai ấy, thân thể cháy xám đen, kêu la thảm thiết!

Sợ quá hỏi: - Bạch Hòa thượng! Người này phải tội gì như vậy?

- Hãy khoan, rồi ta sẽ nói.

Thầy trò đi được vài dặm thấy một quả núi lớn, núi này thuần xương không có đất đá, cao tới bảy trăm do tuần, che khí sáng mặt trời, làm cho khoảnh bể ấy vị tối om, Thầy trò trèo lên đi trên sườn núi một cách dạo chơi ung dung, thong thả. Thi Lợi Bí Đề tự nghĩ, giờ đây ta hỏi những việc vừa qua có lẽ Thầy ta nói, nghĩ xong hỏi:

- Bạch Hòa thượng! Xin thuật lại những chuyện việc vừa qua cho con rõ ư.

- Pháp Tử để ý nghe cho kỹ, ta sẽ nói cho rõ nguyên nhân các câu chuyện vừa qua cho biết.

- Dạ con xin chú ý nghe.

Đầu tiên người con gái chết nằm trên bãi biển: Cô đó vợ của anh Tát Bạc người nước Xá Vệ có nhan sắc đẹp, nên anh chồng cô yêu mến lắm. Tát Bạc đi buôn, vì quá yêu vợ, nên anh đưa vợ đi buôn, cùng với năm trăm người khách buôn ra biển. Cô này hay điểm tô má phấn môi son trâm gài, lược giắt ra ngắm vào vuốt, soi gương nhìn thấy mặt đẹp khởi lòng kiêu mạn lại thêm ham mến cái đẹp của mình. Thuyền đương đi gặp phải con rùa lớn, nó đạp thuyền bị thủng đắm chìm dưới đáy biển, mọi người đều bị chết cả, biển không chứa tử thi. Vì thế các quỷ Dạ xoa, quỷ La sát làm sóng gió đánh giạt những thây ấy lên bờ, chúng sinh tùy theo tâm ái luyến và lòng tưởng niệm khi chết sẽ bị đọa vào nơi ước muốn ấy. Cô này vì yêu sắc đẹp của mặt mình, tiếc sắc đẹp nên bị đọa làm con trùng để coi cái bộ mặt, thế cho nên con trùng cứ vơ vẩn từ mồm rúc ra, lại luồn qua mũi sang tai, vào mắt, mà không được giải thoát.

Nếu ai hỏi: Cứ theo tâm ái luyến tham trược đâu, thì sinh nơi đó, vậy ai yêu Địa ngục làm chi, mà vào Địa ngục cho khổ, thì trả lời họ rằng:

- Kẻ nào lúc bình sinh ăn trộm tiền của Tam bảo hoặc của cha mẹ, hoặc sát nhân, tội ấy rất lớn phải đọa vào địa ngục hỏa thiêu. Kẻ đó trước hết mắc phải bệnh phong hàn lãnh, làm cho bức não thân tâm, trong lúc óc bệnh luôn luôn nghĩ đến nóng vì trong người lạnh, nên muốn tìm đến chỗ có lửa, đương khi tưởng niệm thì chết, hồn trút khỏi xác, tất nhiên nó sẽ theo lòng tưởng niệm mà đọa vào hỏa ngục.

Nếu kẻ nào ăn trộm đèn thờ Phật cùng các đồ vật khác, hoặc của chư Tăng đèn đuốc, củi cỏ, hoặc phá phòng Tăng, giảng đường, hoặc mùa đông rét mướt lột áo của người, hoặc cậy thế lực, trời rét lấy nước hành phạt người bằng cách dội nước lên đầu, khiến người ta chết rét, hoặc cướp trộm lột áo người ta. Tội báo ấy sẽ bị đọa vào địa ngực hàn băng.

Trước hết kẻ đó bị chứng bệnh nhiệt, làm nóng sốt thân thể cường nhiệt luôn luôn nghĩ đến giá lạnh, trong khi tưởng niệm ấy thì chết, hồn trút khỏi xác liền đọa vào Địa ngục lạnh, như Địa ngục: Ưu Bát La, Bát Đâu Ma, Câu Vật Đà, Phan Đà Lợi v.v… trong những ngục hàn lãnh này, kẻ tội nhân lạnh buốt, thân thể khô khan như hạt đậu rang, óc tủy như gạo rang, xương đầu tan vụn ra trăm ngàn muôn phần, xương mình gãy nát như tên vót nhọn.

Nếu kẻ nào mang lòng tham xẻn giựt của người, làm cho người ta chết đói, đói hoặc ăn uống không có thời tiết, kẻ ấy sẽ đọa vào loài quỉ đói, trước hết mắc phải bệnh khí, bụng đầy, ăn uống không tiêu, Thầy thuốc xem bệnh lấy những thức ăn dỗ dành: Thứ này ngon, thứ này ngọt, thứ này chua, để dễ tiêu, ngươi cố gắng ăn đi thì bệnh sẽ khỏi. Kẻ bệnh nhân ấy tự phát lòng nóng giận nói: - Tôi ghê lắm! Tôi sợ lắm! Bao giờ cho con mắt tôi không trông thấy các món ăn này, trong lúc đương tưởng niệm ấy thì chết, hồn trút khỏi xác cứ theo tâm tư tưởng, ấy đọa vào quỉ đói (Ngạ quỉ).

Cũng có kẻ ngu si không tin ngôi Tam bảo, hoặc phỉ báng hoặc khinh hủy, không theo đúng đạo làm người: Cha con hoặc mẹ con, anh em, tông thân dâm dục hỗn độn không phân biệt, hoặc bất hiếu không tin tội phúc vân vân…

Khi ốm nằm tựa như con chó, co quắp không thẳng, đó là do nghiệp sử nhiên, không muốn nghe lời nói lành. Cha mẹ anh em họ biết rằng: Bệnh nhân phải chết, họ khuyên rằng:

- Tụng kinh cho ngươi nhé! Quy y Phật cho ngươi nhé! Ngươi nên ngắm kính hình tượng Phật và mời chư Tăng về thuyết pháp cho ngươi nghe nhé, ngươi chịu khó niệm Phật cho khỏi tội lỗi được nhiều phúc đức, những của vật này đem bố thí cầu phước cho ngươi nhé!

Khuyên thế, nhưng tâm kẻ đó vẫn không vui vẻ! Lại sân nộ ác ý nói: Tôi nguyện rằng "không bao giờ nghe thấy những lời nói như vậy, đối với tôi, là không có gì hết, không phúc đức chi hết, chết là hết".

Kẻ đó chết, hồn trút khỏi xác đọa vào loài Súc sanh, vì Súc sanh không có văn hóa, đạo đức, không tôn thân cha mẹ, anh em, cũng do tâm niệm của họ gây nên cả.

Nếu ai ham tu điều lành, trồng nhân cõi người, giữ năm giới, người ấy sẽ không bị bệnh hoạn làm bức bách thân tâm tới khi chết tâm ý không rối loạn, biết rằng sắp chết, nên anh em họ khuyên rằng:

Người muốn nghe Kinh Pháp không? Muốn ngắm hình tượng Phật không? Muốn gặp chư Tăng nghe thuyết pháp không? Muốn thọ trai thọ giới không? Muốn cúng dàng Tam bảo không?

Bệnh nhân đáp: - Hay lắm! Tôi muốn như thế lắm!

Họ lại nói tiếp cho nghe:

- Tụng kinh ngắm hình Phật, sẽ được thành Phật đạo; cúng dàng in kinh Pháp, sinh nơi nào cũng có trí tuệ cao sáng hiểu thấu các pháp tướng; cúng dàng Tăng, sinh nơi nào cũng được giàu sang sung sướng, ý muốn dùng gì cũng đầy đủ.

Bệnh nhân nghe xong sung sướng phát nguyện rằng:

- Nguyện cho con sinh nơi nào cũng được gặp ngôi Tam bảo nghe Pháp ngộ đạo.

Người đó khi chết được sinh làm người, nếu người nào trồng nhân thập thiện để cầu sinh thiên hoặc trì giới thanh tịnh làm hạnh bố thí ham nghe kinh Pháp, chăm tu mười điều: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói ác, không gận tức, không ngu si, người ấy lúc mệnh chung được an vui và nằm ngửa, được nhìn thấy hình tướng Phật, và nghe nhạc trời, nhan sắc hòa vui, cất tay hướng lên, phút cuối cùng tắt thở hồn bay lên Trời.

Đây vợ Tát Bác vì ham luyến cái sắc đẹp của mình, cho nên lúc chết, phải sinh làm con trùng, ở ngay xác chết của mình, sau khi bỏ thân trùng phải đọa vào Địa ngục chịu khổ vô cùng.

- Bạch Hòa thượng! Kẻ thiếu phụ tự ăn thịt của mình căn nguyên tại sao xin nói cho con được rõ?

- Người này ở nước Xá Vệ là đứa ở gái của một người Ưu bà di. Người Ưu bà di này, nguyện cúng dàng một vị Tỳ kheo trì giới thanh tịnh trong một khóa an cư là chín mươi ngày, làm riêng một căn nhà, cho vị đó ở, hàng ngày sửa soạn các món ăn ngon lành thơm sạch, tới bữa ăn sai đứa ở gái dâng Ngài, xong các món ăn ngon nó đều sơi hết, chỉ dâng Ngài các món thừa thải không ngon.

Qua một thời gian, Ưu bà di thấy nhan sắc nó béo tốt đẹp đẽ, hỏi:

- Mi ăn vụng các món ăn của Thầy ta hay sao độ này mập mạp vậy?

- Thưa bà đâu có, con cũng tin tội phúc chứ, con đây không phải là kẻ tà kiến đâu, có lẽ nào con dám ăn trước, Thầy ăn xong có còn thừa cho con, con mới dám ăn! Con thề rằng: Nếu con ăn trước Thầy thì đời đời con phải tự ăn thịt của con.

- Pháp Tử nên biết! Chính đứa ở gái ăn vụng thức ăn của vị Tỳ kheo, sau chối và thề nguyện nên phải thụ quả báo tự ăn thịt mình. Như nay tức là Hoa báo, sau phải đọa vào Địa ngục, lúc bấy giờ mới chính là quả báo, khổ đau vô cùng tận, nói không xiết.

- Bạch Hòa thượng còn cây to lớn có những con trùng ăn rúc, tiếng kêu dữ dội như thế là do nhân duyên gì?

- Đó là một vị Tỳ kheo giữ của thường trụ, tên là Lại Lợi Cha, lấy của thường trụ và những hoa quả, thức ăn uống cho anh em họ hàng và người bạch y, những người ấy sau khi chết, phải đọa vào Địa ngục lớn làm những con trùng con sâu này để ăn rúc thân cây, còn thân cây này, là vị Tỳ kheo nói trên (Lại Lợi Cha).

- Bạch Hòa thượng! Cái người bị bắn kêu khóc lửa cháy cả toàn thân đó là vì tội gì như vậy?

- Người này lúc sinh thời, là một gã đi săn, sát hại các loại cầm thú, bởi tội ấy chết phải đọa xuống địa ngực, chịu khổ báo như vậy, chưa biết ngày nào được thoát!

Bạch Hòa thượng, cái người lăn từ trên đỉnh núi xuống, máu me đẫm mình, họ tạo tác tội gì, xin nói cho con được rõ?

Người này ở thành Vương Xá, là một ông Đại Tướng đi tiên phong sát hại nhân dân, giết người không nhởn, vì thế phải tội báo này, sau phải đọa vào đại Địa ngục chịu lấy sự thống khổ vô thời hạn.

- Bạch Hòa thượng, còn cái núi xương đây là gì?

- Núi xương này là con cá Ma Kiệt, chính nó là tiền thân của ông, vì ngươi còn là phàm phu, cách ấm bị mê, nên không biết đấy thôi!

Thi Lợi Bí Đề nghe xong tâm hồn thổn thức, sợ hãi thưa rằng:

- Bạch Hòa thượng tâm hồn con còn mê tối không hiểu biết, cúi xin Hòa thượng nói cá nguyên nhân tội gì con phải làm thân cá?

- Pháp Tử nên biết, sinh tử luân chuyển không có bờ bến, nhưng đối với nghiệp báo của thiện ác thì không sai lạc, không tài nào trốn thoát được, tạo nghiệp gì phải báo nghiệp đó. Đây từ đời quá khứ, có một ông vua ở Châu Diêm Phù Đề, tên là Đàm Ma La Bí Đề (Tàu dịch là Pháp Tăng). Ông chăm làm việc bố thí, giữ giới, nghe kinh, có tâm Từ bi, tính không bạo ác, không bao giờ làm tổn thương đến tính mạng của một loài nào. Xứng đáng một ông vua có đạo đức. Ông dùng chánh pháp để trị dân, làm vua đã được hai mươi năm, đương buổi thừa nhàn đánh bạc chơi vui, lúc ấy có người phạm tội sát nhân, quan tòa vào tâu rằng:

- Tâu Bệ Hạ! Ngoài thành có kẻ phạm tội ghét người, trị tội thế nào xin cho hạ thần được rõ?

Nhà vua mãi chơi không suy xét rõ, đáp rằng:

- Cứ theo quốc pháp mà trị tội.

Theo quốc pháp, nếu kẻ nào mà giết người thì bị tử hình, chiếu luật đem người đó ra xử trảm.

Xong cuộc vui chơi nhà vua hỏi các quan rằng:

- Kẻ tội nhân ấy nay ở đâu, để ta đoán quyết?

- Theo quốc pháp, phạm nhân đã đem ra xử tử rồi.

Nhà vua nghe nói giựt mình! Lo sợ ngã xuống đất, tả hữu đỡ dậy hồi lâu tỉnh lại, thân phiền nói:

- Các cung tần mỹ nữ, voi ngựa ở lại đây, riêng ta phải vào Địa ngục chịu đau khổ một mình. Khi ta chưa làm vua thì cung điện này cũng có người cai trị, chẳng bao lâu ta chết, cung này tiếp tục cũng có người thống ngự, ta làm vua giết hại mạng người, đó là làm vua đồ tể. Chẳng biết đời đời kiếp kiếp nó sẽ đưa ta đến chốn nào? Ta quyết định không làm vua nữa, từ nay quyền chính giao cho các ông ở lại trông coi việc nước, tôi vào núi để tu đạo, cầu giải thoát từ đây.

Sau một thời gian, ông vua này chết phải đọa sinh làm loài cá Ma Kiệt ở trên bể lớn thân dài bảy trăm do tuần. Các ông vua kế vị và các ông quan đại thần nước ấy, cậy có quyền thế ức hiếp nhân dân làm những điều tàn nhẫn, vợ bỏ chồng, con lìa cha, bóc lột dân đen, sau khi chết bị đọa làm cá Ma Kiệt hết thảy, có những con vi trùng ở trong vẩy rỉa rúc ăn thịt, đau như lưỡi câu sắt móc mình. Lúc bị cắn đau sát mình vào núi pha lê làm cho những con trùng bị giập chết, máu chảy đỏ ngầu trong trăm dặm bể, vì tội ấy chết phải đọa vào Địa ngục. Những con cá này, cứ mỗi giấc ngủ là một trăm năm lúc tỉnh dậy đói quá không có thức ăn phải há mồm cho nước biển thuyền bè tôm, cá chảy vào. Giữa lúc há miệng thì có năm trăm người lái buôn trong thuyền vì nước chảy mạnh quá nên chiếc thuyền này theo dòng trôi thẳng vào mồm cá. Mọi người đều khủng khiếp lo sợ! Gào khóc la, kẻ niệm Phật, người cầu kinh, kẻ kêu trời! Người khấn đất! Kẻ cầu thần! Cũng có người kêu gọi cha mẹ vợ con! Rồi kể lể rằng: Hôm nay là phút cuối cùng Từ biệt cõi nhân gian thôi! Thôi! Không bao giờ ta được thấy gia đình lần thứ hai nữa. Thuyền sắp tới mồm cá, sự sợ hãi dồn dập vì thế nên nhiều người lớn tiếng niệm "Nam Mô Phật".

Cá Ma Kiệt nghe tiếng niệm Phật, động lòng Từ bi ngậm mồm lại, nước hết chảy, thuyền được yên, mọi người thoát chết trong mồm cá.

Cũng vì thế nên cá bị chết đói, thần hồn được sinh vào thành Vương Xá. Sau khi cá chết, quỷ Dạ xoa, La sát vứt con cá ấy lên bãi biển, trải qua những ngày tháng mưa gió dãi dầu da thịt tiêu tan còn đống xương tại đây. Lắng nghe, ông vua Pháp Tăng thuở đó nay chính là Thi Lợi Bí Đề, bởi tội sát nhân phải đọa làm con cá Ma Kiệt ở dưới bể này, nay đã được làm thân người sao không chán ghét sinh tử để an tâm tu đạo giải thoát hay sao? Lại còn muốn chết ở nơi đây làm chi? Nếu chết sẽ bị đọa vào Địa ngục, bấy giờ muốn ra cũng khó.

Thi Lợi Bí Đề nghe Hòa thượng giảng thuyết xong biết rõ thân cũ của mình tự xét biết sợ sinh tử, nhớ nghĩ phép tu, để lòng chú ý quan sát đống xương cá là tiền thân của mình, thấu hiểu pháp vô thường, chán lìa sinh tử, giữa giờ phút ấy được trút hết lậu, đắc quả La Hán. Ngài Mục Kiền Liên hoan hỷ nói:

- Pháp Tử, công việc của người làm đã được thành tựu hãy theo đây nhân lực của ta, người tự dùng lấy thần túc mà đi.

Nói xong, Ngài rướn mình lên hư không như chim phượng hoàng vô cánh, ông Thi Lợi Bí Đề cũng bay theo sau, như chim mẹ bay trước chim con bay sau, một lát đã tới rừng Trúc từ từ hạ xuống Tinh xá.

Các vị niên thiếu Tỳ kheo chưa biết ông đã đắc đạo, nên các Ngài vẫn coi thường và có khi còn la mắng. Vì ông đắc đạo, tâm đã điều thuận, nên vẫn êm đềm vui vẻ, không nói sao hết.

Đức Phật thấy thế, muốn ngăn đón tâm ngã mạn của các niên thiếu Tỳ kheo và muốn hiển dương cái đức của vị lão thành nên giữa trong đại chúng Phật nói:

- Thi Lợi Bí Đề hôm nay ra biển về phải không?

- Dạ! Lạy đức Thế Tôn có đấy ạ!

- Ra bể thấy những gì nói cho ta nghe?

Thi Lợi Bí Đề cung kính trình bày những việc nói trên cho Phật nghe.

Phật nói: - Quí hóa! Hôm nay thấy sự thật như vậy có lẽ từ nay ngươi được thoát cái khổ sinh tử, chứng đạo Niết bàn, và có thể nạp thụ sự cúng dàng của người cõi nhân, cõi thiên, công việc làm của Tỳ kheo ngươi đã được đầy đủ.

Nghe Phật nói xong các niên thiếu Tỳ kheo vừa lo vừa sợ, hối hận thầm nghĩ:

- Chính ông lão này là người hiền nhân trí tuệ, lũ ta thực không hiểu biết gì, từ trước đến nay tự cao tự đại, phải tội phạm đến hiền giả, tội ấy không phải nhẹ, ta nên xin sám hối trước là hơn!

Các niên thiếu Tỳ kheo đều đứng dậy, tới trước ông Thi Lợi Bí Đề năm thể chạm xuống đất bạch rằng:

- Bạch Đại đức các thiện nhân sinh, lòng Từ bi cũng sinh theo! Trước đây chúng tôi đối với Đại đức lầm lỗi, cúi xin Từ bi xá bỏ, được ân triêm công đức.

- Tôi đối với tất cả mọi người đều có thiện tâm, hối quá có thể được lắm! Hay lắm!

Ông Thi Lợi Bí Đề thấy các niên thiếu Tỳ kheo còn có ý sợ sệt, nên ông thuyết pháp xuất ly sinh tử cho các vị nghe, từ đó các Tỳ kheo gắng tiến tu hành, không lâu đã ngắt bỏ được lậu nghiệp thành ngôi La Hán. Cũng do nhân duyên nay mà tiếng khen đồn khắp thành Vương Xá.

Thật lạ quá! Ông lão một trăm tuổi mới xuất gia còn thành công đắc quả, thuyết pháp cao siêu thực là chưa từng có!

Từ đó trong thành nhiều người cho con trai, con gái, đứa ở trai, đứa ở gái đi xuất gia hoặc tự họ đi xuất gia.

Công đức xuất gia vô lượng vô biên như thế! Ông Thi Lợi Bí Đề đã một trăm tuổi mới xuất gia tu hành còn đắc đạo quả, thành tựu công đức lớn lao, những ai đã luống tuổi tại sao không xuất gia tu đạo, chăm chỉ tinh tiến tu hành để cầu một phúc báo vô biên ấy?


19/ Phẩm thứ mười chín SA DI HỘ GIỚI


NGƯỜI đã thọ giới phải giữ giới, dầu cho mất thân mạng cũng không nên phá giới. Tại sao? Giới là nền tảng của người tu Đạo, là một lối đi vững chắc qua Trời Người lên cõi Phật, là một bí pháp hết lậu nghiệp, là con đường thẳng vào thành Niết bàn, là chốn an lạc giải thoát đời đời.

Người giữ giới được thanh tịnh, công đức ấy vô lượng vô biên; ví như biển lớn, sâu không đáy, rộng không bờ, thâu nạp muôn loài, như A Tu La Ma Kiệt ngư, cùng tất cả các loài thủy tộc.

Giới cũng như thế, thâu nạp những người tam thừa, sinh trưởng ở đó.

Biển lớn kia có rất nhiều vàng, bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách.

Nhân có giới mới sinh ra các pháp lành; bốn phi thường, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thiền, tam muội, giải thoát, giải thoát tri kiến v.v…

Bể lớn kia đáy bằng ngọc kim cương, chung quanh bằng núi kim cương, có bốn sông lớn chảy vào luôn luôn, mà nước bể vẫn không đầy vơi.

Biển giới cũng thế, lấy giới làm đáy, lấy luận làm núi vây quanh, bốn A hàm làm sông, muôn dòng nước chảy vào trong bằng phẳng không thêm bớt.

Tại sao các sông vẫn chảy vào biển, mà nước biển vẫn không đầy? Vì sức lửa ở ngục A Tỳ bốc lên, nên nước biển vẫn không đầy, các sông thường chảy ra biển, nên nước biển không bao giờ vơi.

Biển giới của Phật Pháp cũng thế, không phóng dật tham lam cảnh dục nên không tăng, đủ công đức nên không giảm. Như thế biết rằng giữ giới là một công đức lớn lao.

Sau thời Phật vào Niết bàn, nước An Đà có một vị Tỳ kheo, tu hạnh Đầu Đà thích ở nơi vắng vẻ, oai nghi đầy đủ, giới đức hoàn toàn.

Khi Phật còn tại thế, Ngài thường khen các vị tu hành Đầu Đà!

Những vị Tỳ kheo tu hạnh Đầu Đà không hay ở chung với Tăng chúng; vì những vị ấy ít lòng dục, tri túc, không bỏn xẻn tham lam tích trữ, thường ngày đi xin ăn ngồi trơ trên mặt đất, không nhà không cửa, ngày chỉ một bữa ăn, với một tấm áo là đủ, lại chăm tọa thiền tụng kinh. Những người như thế rất đáng tôn trọng, mới xứng đáng ngôi Pháp Vương tử.

Trái lại những vị Tăng không có một trong đức hạnh nói trên, phần nhiều chỉ đa dục, lòng tham không biết chán, súc tích tiền của, tham lam tật đố, ghen ghét đầy lòng si ái mê muội, bởi thế cho nên mất công đức lớn, khiến cho người dân chán ghét, có khi còn làm cho người ta phỉ báng Tam bảo là khác.

Vị Tỳ kheo nói trên đức hạnh thuận hòa, có đủ lục thông, tam minh và tám phép giải thoát oai nghi đĩnh đạc, tiếng khen vang dội muôn phương, đáng làm một vị Sa môn.

Bấy giờ có một người Ưu bà tắc tin kính ngôi Tam bảo, giữ năm điều răn cẩn thận, lại chăm bố thí tu đức, được nhiều người khen ngợi. Ưu bà tắc nguyện chung thân cúng dàng vị Tỳ kheo nói trên.

Phúc cúng dàng theo nhân hưởng quả: Nếu thỉnh Tăng đến nhà cúng dàng các vị phải đi đường xa, hoặc nóng, lạnh, gió, giá, rét, bị mỏi mệt xảy ra thì làm phế bỏ sự hành đạo của chư Tăng. Người thí chủ sau có được hưởng quả báo tốt lành nhưng phải mệt nhọc, còn các vị đi ngoài đường khất thực thì không kể, mới có thể được, phúc báo ấy thì hơn, còn những vị tại chùa mình mang thức ăn lại nơi cúng dàng thì lai sinh được hưởng phúc báo tự nhiên, không khó nhọc mà vật chất tự nhiên đầy đủ tùy ý muốn.

Ông Ưu bà tắc này vì lòng tin chắc chắn, nên ông sai người mang đến tận nơi cúng dàng.

Sa môn có bốn thứ hay dở khó nhận xét, cũng như quả Am la xanh chín khó hiểu biết.

- Cũng có vị Tỳ kheo coi tướng mạo oai nghi đĩnh đạc, ung dung văn vẻ thế mà trong bụng đầy sân si, làm các hạnh phi pháp phá giới. Tỷ như quả Am la ngoài vỏ coi chín đẹp, nhưng trong lòng sống sượng.

- Cũng có vị bề ngoài coi thô sơ, oai nghi tầm thường bên trong có đầy đủ đức hạnh nào trí tuệ thiền định đạo đức. Cũng như quả Am la trong chín, ngoài xanh.

- Cũng có vị hình tướng cục mịch nói năng thô lỗ, không có oai nghi đức độ, phá giới tạo ác, trong lòng dầy sân si, ngã mạn tật đố tham dục. Cũng như quả Am la trong ngoài đều xanh.

- Cũng có vị oai nghi nghiêm chỉnh giữ giới thanh tịnh, bên trong đầy đủ đạo đức, trí tuệ rộng sâu, thiền định giải thoát, cũng như quả Am la trong ngoài đều chín.

Tại thành này có ông Trưởng giả tin kính ngôi Tam bảo, sinh được cậu con trai, ông muốn cho cậu đi xuất gia và nghĩ rằng:

- Phải tìm một vị Minh Sư đạo đức học vấn tinh thông, cho con mình nương theo, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, gần người lành, thì phát sinh lòng lành, gần kẻ ác sẽ tập nhiễm thói ác. Ví như gió không có thơm hôi, thổi qua rừng Thiên Đàn thì thấy gió thơm tho, nếu thổi qua Thiêm Bặc thì thấy gió hôi thối, cũng như tấm áo sạch để ở bồ hương, áo ấy sẽ thơm, nếu để chỗ hôi dĩ nhiên bị hôi. Gần bậc thiện trí thức, tính tình cao thượng, gần kẻ hèn hạ lòng dạ xấu xa.

Nghĩ như vậy rồi ông dẫn con đến vị Tỳ kheo nói trên thưa rằng:

- Bạch Đại đức! Cháu trai này là con của tôi, muốn để xuất gia tu học, kính xin Đại đức Từ bi tế độ!

Vị Tỳ kheo dùng đạo nhãn quan sát, xem căn khí có lớn lao không? Có thể làm hưng long cho Phật giáo được không? Có thể tu trì giới hạnh được không? Mới nhận lời, xem xong đáp:

- Quý hóa! Ông cho cháu đi xuất gia để nối chí Phật chủng, hay lắm tôi vui lòng tế độ!

Trưởng giả vui mừng lễ tạ ra về.

Đoạn này nói người Ưu bà tắc cúng dàng vị Tỳ kheo: Một hôm Ưu bà tắc có người bạn thân rủ đi xem hội, ông muốn cho cả nhà cùng đi, nhưng nghĩ "ai là người coi nhà, nếu bắt buộc một người ở lại thì không đành lòng" ông họp gia đình lại nói rằng:

- Mai đi xem hội, ai vui lòng ở lại coi nhà?

Cô con gái của ông đáp: - Thưa cha! Con xin coi nhà để cha mẹ và toàn gia đi xem hội!

Ông vui vẻ nói: - Hay lắm! Con ở nhà trông nhà cho cha, chớ đi chơi đâu nhé!

Sáng ngày mai cả nhà đi hết, ông quên không dặn con gái dâng cơm vị Tỳ kheo, cô đóng chặt cửa ngõ vào nhà ngồi xem sách, đọc chuyện để giải buồn.

Bữa cơm ngọ đã tới mặt trời chừng xế trưa. Vị Tỳ kheo không thấy mang cơm đến, thầm nghĩ rằng:

- Người trần tục bận nhiều công việc, hôm nay có lẽ họ quên dâng cơm?

Ngài gọi chú Sa di con ông Trưởng giả lại bảo:

ợi tội phỉ báng phá giới phải đọa Địa ngục, ông Chu Lợi Bàn Đặc chỉ tụng được câu kệ, vì giữ giới hoàn toàn nên được chứng quả La Hán. Giới là lối vào đạo Niết bàn, là nhân thụ hưởng khoái lạc, cõi trời cõi người.

Tỷ như quy chế trường trai ba hoặc bốn tháng của phái Bà la môn họ mời những vị cao minh giữ giới trong sạch trước hết họ đưa cho mỗi vị một phong bao, trong để vị ngọt. Bọn ấy có một người tuy học cao nhưng tính tình không được liêm khiết tham mùi ngọt ăn hết, tới ngày nhập hội mọi người xuất trình phong bao để vào, ông này không có phong bao cũng bước vào, người gác cửa hỏi:

- Phong bao của ông đâu?

- Có, nhưng đã ăn hết vị ngọt!

- Thôi! Ông không được vào nữa, ông tham một chút mùi ngọt thiệt hại cho ông bốn tháng các mùi thơm ngon và các trân bảo khác, thôi ông đi ra!

Cũng thế! Con vào thôn xóm chớ tham một việc nhỏ, lỡ phá giới của tam thế chư Phật, thì mất các sự khoái lạc của năm món dục, vui trong cõi nhân, thiên, và những Pháp bảo vô lậu ba mươi bảy phẩm trợ đạo Niết bàn v.v…Phải nhớ! Chớ phá giới của tam thế chư Phật, làm ô nhục cho Tam bảo cha mẹ, Sư Tăng.

- Dạ! Lạy Thầy con xin ghi nhớ!

Sa di lễ tạ lui ra, mang bình đeo bát đến nhà kia, gõ cửa. Cô gái chạy ra hỏi:

- Ai gõ cửa đấy! Có việc gì?

- Thưa! Tôi là Sa di lại lấy cơm về dâng Thầy!

Cô ngó thấy Sa di đến vui vẻ bụng bảo dạ rằng:

- Ta hằng mong ước được gặp, hôm nay thật là toại nguyện cho ta lắm!

Mở cửa chắp tay vái chào:

- Mô Phật! Mời Ngài vào nhà con!

Cô này xinh đẹp vô song, dong tư yểu điệu, năm ấy mới mười sáu tuổi, vì tình yêu nồng nhiệt phát động lòng dâm dục mạnh như lửa đốt! Cô làm ra vẻ õng ẹo, chớp mắt dương mi, lườm nguýt cười nói lộ tướng dâm dục.

Sa di nói: - Cô này có chứng bệnh phong hay sao? Điên cuồng như vậy hay bệnh dương giản?

Cô đáp: - Em không có bệnh chi hết!

Sa di thầm nghĩ: - Cô gái này ý muốn phá hủy giới đức thanh tịnh của ta đây, ta phải nhớ lời Thầy dạy: Cẩn thận giữ oai nghi. Sa di vốn vững lòng không thay đổi ý chí, cô này lễ dưới chân thưa rằng:

- Bạch Ngài! Em luôn luôn ước nguyện được gặp Ngài để ngỏ bày tâm sự, nhưng chưa gặp lúc nào vắng vẻ em tưởng tượng Ngài có tâm thương em, nhà em giàu có vàng bạc đầy kho chẳng khác gì bảo tàng của nhà vua Tỳ Sa môn Thiên Vương trên thượng giới, nhưng chưa có người làm chủ. Vậy Ngài hãy ném lòng làm chủ nhà em, em cùng Ngài loan phượng trăm năm, suốt đời em xin tôn kính hầu hạ, xin đừng từ chối để mãn nguyện lòng mong ước của em.

Sa di thầm nghĩ: - Ta có tội gì gặp các duyên này? Ta thà chết ở đây chứ không chịu phá giới của tam thế chư Phật. Ngày xưa có vị Tỳ kheo đến nhà dâm nữ, bị cưỡng bách hành dục, còn đâm đầu vào hố lửa chết, quyết không chịu phạm giới, các Tỳ kheo bị cướp lấy cỏ trói, chịu gió gào, nắng hét, trùng cắn, vì giữ giới không dám dứt cỏ mà đi; con ngang nuốt chuỗi ngọc, Tỳ kheo nhìn thấy, vì giữ giới bị đánh vỡ đầu mà không nói; thuyền bị ngụp vào biển, Hạ tọa Tỳ kheo dâng phao cho Thượng tọa, còn mình chịu chết chìm nơi biển cả. Các tiền bối đã khinh thân hộ giới mình là kẻ nào mà không giữ giới? Riêng những người đó là đệ tử Phật hay sao? Là vì họ giữ được giới cấm, đức Thế Tôn là Thầy của họ, không phải là Thầy của ta hay sao? Hột hồ ma ép chung với hoa thiềm bặc thì hôi, ta đã gặp được bậc thiện trí thức dạy bảo ta, dắt dìu ta, học đạo vô vi giải thoát an lạc, còn tham chi tình ái, tạo nghiệp luân hồi sinh tử làm gì, thà chết thân này quyết không phá giới để ô nhục cho Tam bảo, phụ mẫu Sư Tăng. Nếu ta ra về, sợ cô tránh sự hổ thẹn, với sự nồng nàn của lòng dâm dục của cô, lôi kéo ta, phỉ báng ta, thôn xóm họ biết thì không tránh được sự ô nhục! Ta sẽ quyên sinh tại đây!

Đáp rằng: - Cô hãy cho tôi vào phòng nghỉ, thư thả tôi sẽ thưa chuyện cùng cô.

- Vâng! Mời Ngài vào phòng khách!

Vào phòng, Sa di đóng cửa chặt, cởi áo giắt lên giá hoan hỷ quỳ thẳng chắp tay hướng về thành Câu Thi Na, nơi Phật nhập Niết bàn tự thệ nguyện rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Con không bỏ Phật, Pháp, Tăng, không bỏ Hòa thượng A Xà Lê và không bỏ chánh giới của Như Lai, chính con vì hộ trì giới để xin bỏ thân này. Nguyện cho con sinh vào nơi nào cũng được hạnh phùng ngôi Tam bảo, và được xuất gia học đạo, tu phạm hạnh thanh tịnh tẩy trừ cho hết lậu nghiệp, thành đạo Vô thượng Bồ đề.

Khấn nguyện xong rút dao đâm cổ chết! Máu chảy linh láng thân thể đỏ ngầu.

Cô đứng ngoài chờ lâu quá, nóng ruột bước lên gõ cửa bước vào, nhìn thấy tình nhân Sa di của mình chết nằm trên mặt đất, coi rất rùng rợn, cô thất sắc, lúc đó lòng dục nguội lạnh, tâm hồn tán loạn hoảng hốt, lấy tay cào lên đầu làm cho tóc rối như tơ, tỏa che khắp mặt, lăn khóc mê hồn, rồi ngất đi.

Khi cha mẹ cô trẩy hội về đứng ngoài cửa gọi con gái, gọi mãi không thấy trả lời, sai người trèo qua vào trong mở cổng, ông vào phòng thấy con gái như thế, sửng sốt hỏi:

- Ôi! Con sao thế con? Cha đi vắng ở nhà ai làm phạm đến tiết hạnh con đấy ư? Con nói cho cha hay.

Cô yên lặng không nói sao cả, và thầm nghĩ:

- Nếu mình nói thật cho cha nghe thì rất xấu hổ, nếu đổ lỗi cho bác Sa di, thì vô tình mình đã vu oan cho người lương thiện, tội ấy đọa Địa ngục chịu khổ vô cùng, thôi cứ nói rõ cho cha ta nghe là hơn.

- Thưa cha! Hôm nay Hòa thượng sai bác Sa di đến nhà ta lấy cơm, con quá yêu người đòi hỏi lòng yêu cho toại ý muốn, nên con quấy nhiễu người, và bắt theo ý muốn của con. Sư bác Sa di quyết giữ giới thanh tịnh nên người vào phòng tự sát, con nghĩ thân con nhơ bẩn lại làm hại thanh tịnh của người, tội ấy không phải nhỏ, con sợ quá, cũng không biết làm thế nào được nữa, xin cha xá tội.

Ông vẫn thản nhiên không kinh khủng gì, vì ông tự biết đó là do nghiệp báo sử nhiên, ông nói:

- Tất cả muôn pháp đều thuộc vô thường, con chớ có lo!

Ông bước vào phòng tới trước thi hài Sa di, lễ bái khen rằng:

- Quý hóa thay! Khí cao như trời mây, tri kiến như sắt đá, bỏ mạng để hộ giới của tam thế chư Phật, trên đời có một không hai.

Luật nước ấy, nếu tu sĩ nào chết ở nhà ai thì nhà ấy phải nộp cho chính phủ một ngàn quan tiền vàng. Theo lệ phạt ông mang tiền đến nộp tại cung Vua.

Nhà vua hỏi:

- Khanh có lỗi gì?

- Tâu bệ hạ! Có một tu sĩ chết tại nhà hạ thần.

- Vì lý do gì?

Ông cứ thực trình bày như trên cho vua nghe.

Nhà vua nghe xong, cũng cảm phục tâm hồn cao thượng của Sa di và nói:

- Sa di bỏ mạng để hộ giới, không có lỗi gì, khanh mang tiền về, ta sẽ đi cùng khanh.

Nhà vua lên xe đi đến nhà ông Ưu bà tắc, thấy Sa di thân đỏ như cây gỗ chiên đàn, một lòng kính cẩn lễ sát đất, khen lao công đức. Nhà vua đưa một cỗ xe quý nhất rước ông Sa di ra nơi bằng phẳng cao sạch, lấy các thứ gỗ thơm để đốt thi hài, đốt xong nhà vua đem người con gái để đứng trên đài cao cho các người dân xem coi, giữa lúc đó vua tuyên bố rằng:

- Người con gái này có thể đẹp nhất thời nay, trong hàng nữ lưu, nhưng con người còn chịu ách được dục vọng kìm hãm nơi tâm thức ai là không yêu quý mê say! Đây ông Sa di vì chưa đắc đạo, đem thân sinh tử hộ giới bỏ mạng thực là hiếm có trên thế gian này!

Sau nhà vua mời Hòa thượng lên đài thuyết pháp, xong cuộc thuyết pháp này có rất nhiều người phát tâm xuất gia trì giới, ai nấy đều cảm mến đức tin cao thượng của Sa di, cúi đầu lễ Hòa thượng mà lui.

20/ Phẩm thứ hai mươi NGƯỜI KHÔNG TAI, MẮT, MŨI, LƯỠI

Khi bấy giờ đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ tại Tinh xá Kỳ Đà giảng thuyết chính pháp cho bốn chúng.

Nước ấy có ông Trưởng giả nhà giàu sinh hạ năm cô con gái, không có con trai.

Giữa lúc vợ ông có mang thì ông chết.

Luật nước: - Nếu ai không có con trai, sau khi chết tài sản sẽ thuộc về Chính phủ.

Sau khi ông Trưởng giả này chết chính quyền địa phương lại tịch biên tài sản. Người con gái lớn của ông đến tâu vua:

- Tâu Bệ Hạ! Cha con mới chết, không có con trai, nhưng hiện nay mẹ con đương có mang, không rõ trai hay gái. Vậy xin bệ hạ khoan thứ cho một thời gian, để mẹ con ở cữ xong, nếu là con gái, khi đó chính phủ tịch thâu tài sản cũng không muộn, xin Bệ Hạ minh xét.

Vua Ba Tư Nặc, nghe lời cô tâu rất có lý, khen phải và nói:

- Con nói có lý, phải lắm, ta sẽ cho quan địa phương biết, không lo.

Cô bái tạ lui ra.

Chẳng bao lâu bà Trưởng giả sinh được đứa con trai nhưng không có chân, tay, tai, mắt, có mồm, không lưỡi cũng như một cục thịt lại có nam căn (buồi) nên họ cho là con trai, đặt tên là Man Từ Tỳ Lê.

Khi bấy giờ cô gái lớn lên tâu vua và trình bày rõ cho ông nghe.

Vua nghe xong, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói rằng:

- Em con tuy thế nhưng cũng có thể là con trai, vậy tài sản này em con có quyền được hưởng hết, chính phủ sẽ không thâu biên nữa!

- Dạ! Đội ơn Bệ Hạ! Con xin cáo lui!

Tuy thế nhưng cô vẫn buồn, vì sao? Một đứa em chẳng ra giống người được hưởng cả một gia nghiệp, con gái thực là vô ích, luật chi mà luật lạ như vậy?

Cô giận thân gái đớn hèn, luật nước bất công, từ đó bỏ nhà đi hầu hạ các phu chủ nhà khác, một cách kính trọng từ tốn, khi nấu ăn, khi dâng nước, chẳng khác đứa ở gái nhà họ.

Gần đấy có ông Trưởng giả thấy cô như vậy tới hỏi:

- Con ơi! Nhà con giàu có, đâu con phải đi hầu hạ người, đạo vợ chồng nhà ai, có lễ phép của nhà ấy, tại sao con làm thế?

- Thưa bác, cha con chết rồi! Của cải đầy kho tài sản rất nhiều, sinh hạ được năm chúng con là gái, gia nghiệp này phải nộp cho chính phủ, chúng con không có quyền an hưởng. May sao mẹ con mới sinh được đứa em trai, lại không có tai, mắt, mũi, lưỡi, tay chân, nên nhà vua cho em con được làm chủ ăn hưởng của này, con gái thực là vô ích nên con buồn mà làm thế!

- Thôi con đừng buồn làm chi, muốn thoát thân con gái, đời sau được thân nam tử trượng phu, con đi cùng bác đến yết kiến Phật.

- Dạ! Bác cho con đi cùng.

Tới chốn Phật cúi đầu làm lễ xong, ông Trưởng giả bạch Phật rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Man Từ Tỳ Lê có phước duyên gì, được sinh vào nhà giàu sang, và không biết có tội gì mà không có tai, mắt, mũi, lưỡi, cúi xin Ngài chỉ bảo cho chúng con được rõ.

Phật dạy: - Trưởng giả muốn biết chuyện ấy, ta sẽ vì ông mà nói.

- Dạ! Con xin chú ý nghe!

- Trưởng giả! Việc này về đời quá khứ, có hai anh em con ông Trưởng giả, người anh tên là Đàn Nhã Thế Chất, người em tên là Thi La Thế Chất.

Người anh nết na trung chính thành thực và hay làm hạnh bố thí, cứu đỡ kẻ bần cùng cô lộ, bởi thế nên trong nước đều kính nể tôn trọng, sau nhà vua dùng ông làm chức Bình Sự để xử đoán những việc kiện tụng trong nước.

Luật pháp nước ấy thời đó, những người vay nợ không phải viết văn tự, nếu ai có việc gì chỉ đến quan Bình Sự chứng nhận cho là đủ.

Ông Thi La Thế Chất nhà giàu hay cho vay nợ lấy lãi, hôm đó có người lái buôn đến vay ông một số tiền lớn để đi buôn, ông đồng ý cho vay. Ngày giao tiền ra tòa Bình Sự, ông đem theo đứa con trai nhỏ của ông, vì ông chỉ có một mình nó.

Ông thưa rằng: - Thưa anh Bình Sự! Người lái buôn đây, vay em một số tiền ngần này, để ra biển buôn bán, anh chứng nhận cho, nếu tôi không may chết thì số tiền này trả về cho con tôi.

Bình Sự gật đầu nói: Được, không sao, chú cứ yên tâm cho vay, chỉ cốt sao họ đi buôn được tốt lành trở về là hơn!

Qua thời gian không lâu Thi La Thế Chất chết, người lái buôn ra bể không may gặp trận bão đánh đắm thuyền mất cả, nhưng anh ta bám được một khúc gỗ trôi giạt vào bờ, thoát chết về nước nhà!

Người con ông Thi La Thế Chất biềt tin ông lái buôn vay tiền của cha mình, ra biển bị đắm thuyền được thoát chết trở về, song biết rằng bị tổn hại mất cả, nên không đòi nợ.

Khi đó có một người lái buôn khác thương tình anh buôn bán thất bại, cho anh mượn một số tiền đi buôn chuyến nữa. Lần này đi gặp sự tốt lành trở về được lãi rất nhiều, chở đầy thuyền các quý vật ở hải ngoại về, nào là vàng bạc châu ngọc vân vân.

Chuyến này anh được phát tài, mời anh em họ hàng thân quen, ăn uống vui mừng trả các món nợ, nhưng món nợ của ông Thi La Thế Chất to quá anh thầm nghĩ rằng:

- Chuyến trước ta về, không thấy con ông ta đòi hỏi gì, một là lúc ta vay cậu còn bé quá không nhớ, hai là thấy ta buôn bán thua lỗ mà không hỏi, vậy ta hãy thử xem cậu ta còn nhớ hay không, thì biết.

Hôm đó anh ta mặc áo mới đẹp cỡi ngựa đi chợ, tới chợ gặp cậu con trai ông Thi La Thế Chất, cậu hỏi:

- Tát Bạt! Hồi này nghe biết anh buôn bán phát tài, hôm nay mang tiền trả số nợ của cha tôi ngày trước có phải không?

Anh giả đò, ngẩn ngơ ra một lúc, rồi đáp rằng:

- Thực thế ư? Tôi không rõ, cậu lầm đấy không phải đâu, hay là ai? Cậu về mở sổ coi?

Anh dùng mưu để quỵt số tiền nợ, về nhà lấy một viên bảo châu đến nhà ông Bình Sự nói với bà ấy rằng:

- Thưa bà! Tôi có vay của ông Thi La Thế Chất một số tiền nhỏ, bây giờ con ông ta đòi trả, đối với gia đình tôi không thể trả được, vậy tôi xin biếu bà viên ngọc này, trị giá mười vạn, nếu cậu ấy kiện tôi thì bà nói với quan lớn, bác đơn đi, để tôi không phải trả số tiền nợ ấy!

Đáp: - Quan lớn nhà tôi trung trực lắm anh ạ, tôi không dám nói đâu!

Anh ta năn nỉ mãi thí dỗ bà một cách khéo léo, bà bùi tai nói: Thôi anh để đó về đi, mai lại đây tôi trả lời.

Đến tối quan lớn về, bà đem chuyện đó nói nhưng ông ta gạt phắt đi, rồi nói rằng:

- Bà chỉ lôi thôi! Điều thứ nhất nó là cháu tôi, và chăng tôi là người trung chính thành thực nên nhà vua mới cử làm chức Bình Sự, không làm càn thế được đâu, mai nó lại đây bà cho lính đuổi nó ra.

Anh lái buôn buổi sáng mai đến.

Bà nói rằng: Không được đâu anh ạ! Tôi có nói nhưng quan không nghe, trả lại anh viên ngọc.

Anh lái buôn ngẫm nghĩ hồi lâu, đưa thêm hai viên ngọc nữa rồi nói:

- Thưa bà lớn! Cũng là một việc nhỏ, bà chỉ mất một lời nói, mà được ba mươi vạn đồng, cậu ấy là cháu của ông, dẫu có thắng kiện được số tiền thường của tôi bà cũng chẳng được gì vào tiền đó, xin bà hoan hỷ nhận cho viên ngọc này, thưa bà ngọc này đắt lắm và hiếm lắm, bà để cho các cậu, các cô sau này có hơn không?

Bà nghe êm tai và lòng tham của bà nổi lên, nhận liền và hứa rằng:

- Anh cứ yên tâm, tôi sẽ thu xếp bằng xong.

Đến tối quan lớn về, bà nói năn nỉ mãi, nhưng Ngài không nghe, ông gắt nói:

- Không có lý như vậy, tôi là một người có tin cho thiên hạ, nếu tôi làm điều gian dối ăn hối lộ, thì hiện đời này họ không tin tôi, hơn nữa đời sau tôi sẽ bị đau khổ nhiều kiếp.

Nói xong ông đứng lên vào phòng nghỉ.

Lúc đó bà mới sanh được một cậu con trai chưa biết đi.

Bà cũng giận bế con theo vào phòng nói rằng:

- Tôi với ông kết duyên với nhau hai thân như một, gặp việc gì dẫu chết cũng không bỏ nhau và cũng không làm trái ý nhau, huống đây là một việc nhỏ, tôi nói với ông hết lời mà ông không nghe, thì tôi còn sống làm chi nữa, nếu ông không giúp tôi việc này, tôi sẽ giết đứa con tôi trước, sau tôi tự sát thân tôi cho qua đời.

Bình Sự nghe vợ nói tắt cổ như người bị nghẹt, muốn nuốt vào không được, khạc ra thì vướng! Thầm nghĩ:

- Ta có một đứa con trai, nếu chết thì gia nghiệp này giao phó cho ai? Nếu theo ý muốn của đàn bà làm trái pháp luật, hiện đời này không ai tín dụng, đời sau sẽ bị khổ, khó tả xiết.

Một việc khó giải quyết cho ông quá! Không thể từ chối được, ông phải tắc lưỡi nhận lời, rồi đáp:

- Thôi bà cứ yên tâm.

Thấy ông đã vui lòng nhận lời, nên bà rất vui vẻ! Sớm mai anh lái buôn đến bà tươi cười nói:

- Việc đó quan đã nhận lời cho anh rồi đấy! Hôm qua tôi phải làm ráo riết quan mới nhận, chứ chẳng dễ đâu.

Lái buôn nghe bà nói nét mặt tươi hơn hớn!

- Dạ! Thưa bà lớn, quí hóa lắm muôn đội ơn bà! Dạ xin phép bà cháu về!

- Phải anh về, cứ an tâm đừng lo.

Ngày mai anh lái buôn sớm rửa mặt mặc áo mới đẹp đeo rất nhiều vàng ngọc trên mình cỡi voi đi chợ. Cậu con ông Thi La Thế Chất thấy anh ra cách lắm tiền, nhiều của thầm nghĩ rằng:

- Có lẽ anh lái buôn hôm nay đem tiền ra trả mình đây!

Nhưng không! Không thấy anh nói gì, có vẻ làm lơ, cậu tới nơi hỏi: - Tát Bạt! Món tiền cha tôi anh trả đi chứ?

- Tôi không nhớ vay lúc nào cả! Nếu vay tất phải có ai chứng kiến chứ?

- Anh quên rồi quan Bình Sự chứng kiến.

- Tôi không biết! Cứ đem việc này ra quan Bình Sự!

Nói xong hai người đua nhau đến quan Bình Sự.

- Thưa bác, anh này có vay của cha con một số tiền đi buôn, bác làm chứng, lúc ấy con cũng ở đó, thực thế xin bác xét.

Bình Sự nói: - Cháu quên đấy, việc này bác không biết, thôi cháu ạ, đừng kiện tụng lôi thôi nữa.

- Không! Thưa bác lúc đó bác bảo với cha con rằng: "Được không sao! Chú cứ an tâm cho họ vay!" Bác không lấy tay chỉ vào số tiền ấy là gì, nay bác lại bảo là không biết!

Bình Sự nói: - Bác là người xử đoán cho toàn quốc, có lẽ nào bác làm trái pháp, cháu chớ nói nhiều nữa.

- Thưa bác! Bác là người trung chính nên nhà vua cử bác làm Bình Sự, người trong nước tin dụng bác, tôi là cháu ruột của bác mà bác xử phi lý như vậy nữa là người ngoài, bác còn làm oan uổng đến đâu. Thôi! Cháu cũng không biết nói sao, hư thực đời sau sẽ biết.

Nói tới đây đức Phật nhắc lại cho ông Trưởng giả biết rằng:

Trưởng giả ông nên biết! Quan Bình Sự thuở đó nay chính là Man Từ Tỳ Lê, không tai, mắt, mũi, lưỡi, hỗn độn như vậy. Bởi một câu nói dối ngày đó phải đọa vào Địa ngục lớn, chịu khổ không cùng, khi thoát khỏi Địa ngục, trong năm trăm đời chịu thân hỗn độn như vậy do cũng hay làm việc bố thí nên sinh vào nhà phú quý sang trọng và được làm tài chủ. Sự báo ứng của thiện ác dẫu cho lâu bao nhiêu kiếp, cũng không xóa nhòa được. Vì thế các ông cũng nên chăm chỉ giữ gìn thân miệng ý cho cẩn thận, chớ tạo ác nghiệp.

Tất cả đại chúng nghe Phật nói xong, có người đắc sơ quả cho đến tứ quả, cũng có người phát tâm Vô thượng Bồ đề, ai ai cũng vui mừng kính mến đức Phật làm lễ mà lui.


21/ Phẩm thứ hai mươi mốt HAI VỢ CHỒNG NGHÈO


Chính tôi được nghe: Một thời Đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ, tại Tinh xá Kỳ Hoàn giảng thuyết cho bốn chúng tu tập.

Thuở đó có ông Trưởng giả sinh được cô con gái, dong nghi tốt đẹp, vào bậc nhất nhì hạng nữ lưu trong nước, lạ thay! Cô này sinh ra đã có miếng lụa trắng bọc quanh người. Thấy thế cha mẹ cô cho là quái gở, mời Thầy về coi, Thầy nói:

- Ông bà không lo, cô gái của ông bà có phước đức lớn, và tôi xin đặt tên cho cô là Thúc Ly.

Thúc Ly lớn thì miếng lụa cũng lớn theo. Cô xinh đẹp lại con nhà sang trọng, nên trong nước nơi xa, nơi gần, đều đến cầu hôn, nhưng cô không ưng thuận một ai.

Hôm ấy cha cô gọi thợ gốm về nhà làm các đồ nữ trang, cô hỏi:

- Thưa cha! Cha làm những vật này để làm gì?

- Con đã lớn tuổi, cha làm cho những vật này để gả chồng cho con.

- Thưa cha! Vợ chồng chỉ có nhất thời, con xét vô ích, chỉ gây thêm cái đau khổ cho mình mà thôi, ý con muốn xuất gia tu đạo giải thoát là hơn.

Ông bà chỉ sinh được mình cô, nên tùy ý chứ không cưỡng ép.

Hôm sau ông đi mua lụa sạch điệp về may áo, cô hỏi:

- Thưa cha! Lụa này để may áo gì?

- Cha may áo Ngũ Điều cho con đi xuất gia!

- Thưa cha! Khỏi phải may nữa! Tấm áo con đương mặc đây đủ rồi, xin cha dẫn con đến nơi Phật ngự!

Hôm sau cả hai ông bà và cô cùng đi yết kiến Phật tới nơi cúi đầu làm lễ bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Thân người khó được, gặp Phật tại thế lại khó hơn, cúi xin Ngài Từ bi tế độ cho con được xuất gia tu đạo!

Phật dạy: Thiện Lai Tỳ kheo! Ngài nói dứt lời đầu cô rụng hết tóc, còn tấm lụa trên mình cô biến thành áo Cà sa Ngũ Điều. Phật giao cô cho bà Đại Ái Đạo Tỳ kheo Ni dạy bảo pháp tu, cô tu hành tinh tiến, chẳng bao lâu chứng quả A la hán.

Tôi thấy thế cho làm lạ nên tôi (A Nan) quỳ xuống thưa rằng:

- Kính lạy Đức Thế Tôn! Thúc Ly Tỳ kheo Ni xưa tu công đức gì, nay được sinh vào nhà tôn quý, lại có mảnh lụa trắng sinh theo, xuất gia chưa được bao lâu đã chứng quả La Hán, cúi xin chỉ giáo cho chúng con được rõ.

Phật dạy rằng: - Này ông A Nan hãy nghe cho kỹ, tôi sẽ nói cho ông hay!

- Dạ con xin chú ý nghe!

- A Nan! Đời quá khứ đã quá lâu xa, có đức Phật ra đời, hiệu là Tỳ Bà Thi, thường ngày Ngài cùng các đệ tử đi tế độ nhân gian, đi đến đâu vua quan dân chúng cúng dàng rất đông, và đặt ra những kỳ đại hội để thỉnh Phật thuyết pháp.

Khi đó một Thầy Tỳ kheo có lòng quảng đại, muốn tiếp phúc cho nhân dân, nên Ngài chăm đi khuyến hóa từng nhà, làm hạnh bố thí và nghe giảng thuyết chánh pháp của Như Lai.

Thuở đó có một thiếu phụ nhà rất nghèo khổ, hai vợ chồng chỉ có mảnh vải che thân, nếu chồng đi xin thì chồng mặc, vợ trần truồng ngồi trong đống cỏ khô, nếu vợ đi xin thì vợ mặc, chồng trần truồng ngồi trong đống cỏ khô.

Thầy Tỳ kheo đi qua ngó thấy cô, Ngài nói rằng:

- Cô nên biết: Được sinh làm người là khó, gặp Phật tại thế lại khó hơn, hiện nay đức Phật đang thuyết pháp, cô đi đến nghe thuyết pháp được phước vô lượng, con người tham sẻn bị tội nghèo đói, chăm làm hạnh bố thí được phước giàu sang.

- Dạ! Kính bạch Đại đức, con rất sung sướng được nghe lời của Ngài giáo hóa, xin Ngài hãy đứng đây chờ con một chút!

Cô vào nhà bảo chồng rằng:

- Anh ơi! Ngoài ngõ có một vị Sa môn khuyên chúng ta nên đến gặp Phật, để nghe Phật thuyết pháp, và khuyên ta nên làm việc bố thí, là vì đời trước không biết bố thí nên kiếp này bị nghèo cùng khổ não, bây giờ ta phải làm cách gì, để trồng cái nhân lành, ngõ hầu kiếp sau mới có phần an hưởng.

Đáp: - Nhà ta nghèo đói như thế này, được bữa hôm mất bữa mai, biết lấy gì mà bố thí.

- Anh ơi! Đời trước tham sẻn, lại không biết làm hạnh bố thí cho nên đời này, bị nghèo khốn, nếu kiếp này không làm nhân bố thí đời sau lấy phước gì để nương cậy? Bây giờ anh hãy nghe tôi, tôi quyết định bố thí.

Người chồng thầm nghĩ: "Hay là vợ ta có chút của riêng", thì cứ đồng ý đi:

- Phải em cứ bố thí đi, việc đó anh rất vui lòng!

- Thưa anh! Em muốn đem mảnh vải của em đang khoác đây ra để cúng dàng, anh có ưng thuận không?

- Hai vợ chồng chúng ta chỉ có một mảnh vải này, che thân để hằng ngày đi xin nuôi nhau, bây giờ đem cúng dàng thì lấy gì che thân mà đi xin, ngồi nhìn nhau mà chết hay sao?

- Anh ơi! Con người ai cũng phải chết, không bố thí với bố thí, rồi cũng chết cả, thà bố thí mà chết, đời sau còn có phước lành, hưởng quả báo giàu sang, không làm hạnh cúng dàng bố thí sau rồi cũng chết, trái lại đời sau không có nhân lành trông cậy.

Người chồng nghe vợ nói phải, vui vẻ đáp:

- Em nói thế hay lắm! Bây giờ chúng ta giữ lấy phần chết, đem cúng dàng cầu phước lành cho đời sau!

Cô thấy chồng có lòng cương quyết và vui vẻ, nên ra thưa rằng:

- Kính bạch Đại đức, xin Ngài trèo lên mái nhà, con có chút vật mọn dâng Ngài về cúng Phật.

- Muốn cúng thì dâng trước mặt ta, để ta chú nguyện cho, trèo lên mái nhà làm chi?

- Bạch Đại đức, vợ chồng con chỉ có một mảnh vải này, trong nhà không có vật gì khác nữa, sợ lõa lồ thân thể đàn bà xấu ác, tội nghiệp, nói xong vào nhà đóng cửa, cởi mảnh vải vất qua cửa sổ cúng dàng.

Thầy Tỳ kheo thấy vợ chồng nhiệt tâm như vậy, mặc dầu bẩn cũng cứ nhận làm phép chú nguyện mang về dâng Phật.

Vừa về tới Tinh xá, Phật hỏi ngay:

- Tỳ kheo mang mảnh vải ấy lại đây cho ta!

- Dạ! Kính lạy đức Thế Tôn, nhận lòng thành cúng dàng của vợ chồng nhà nghèo.

Phật liền đỡ lấy, và có vẻ thương!

Lúc đó có ông vua, Hoàng hậu, cung phi, thể nữ, quan đại thần, dân chúng đương ngồi nghe Phật thuyết pháp, ai cũng có chút tâm lạ với Phật, vì Phật cầm cái mảnh vải đầy nhơ bẩn cáu ghét tanh hôi. Phật biết tâm của đa số người như thế, Ngài nói:

- Ta xem trong đại hội này, phát tâm làm việc bố thí lớn và thanh tịnh, thì không ai hơn được người này!

Nghe Phật nói, tất cả đại hội đều sợ, Bà Hoàng hậu vui vẻ cởi áo của mình và nữ trang, vua cũng lấy áo và tiền bạc, sai người mang đến cho hai vợ chồng Đàn Ly Già, và mời ngay đến chốn Phật nghe pháp.

Nhân thế đức Phật thuyết về phước báu bố thí và tội keo sẻn trộm cắp cho đại chúng nghe, khi đó có rất nhiều người phát tâm tu hạnh bố thí!

Tới đây Phật nhắc lại rằng:

- A Nan! Ông nên biết vợ Đàn Ly Già, thuở đó nay là Tỳ kheo Ni Thúc Ly vì phát tâm thanh tịnh cúng dàng, nên trong chín mươi mốt kiếp, sinh nơi đâu cũng có tấm lụa sinh theo, lại được giàu sang sung sướng an vui. Cũng bởi nghe Phật thuyết pháp và có tâm cầu giải thoát, nên đời nay được gặp ta chứng quả A la hán như thế đó, các ông cũng nên tinh tiến nghe pháp và bố thí, ngày sau sẽ kết quả trang nghiêm.

Phật thuyết xong, có rất nhiều người phát tâm cúng dàng, làm hạnh bố thí, ai nấy đều vui vẻ lễ kính mà lui.


22/ Phẩm thứ hai mươi hai BÀ LÃO BÁN NGHÈO


KHI bấy giờ Tôn giả Ca Chiên Diên đi giáo hóa ở nước A Bàn Đề, gặp một bà lão đương ngồi khóc ở bên bờ sông! Ngài hỏi:

- Bà lão tại sao khóc?

- Bạch Tôn giả! Con tuổi tác già yếu, vì túng thiếu nghèo khổ phải đi ở mướn cho nhà ông Trưởng giả; ông ấy cay nghiệt quá! Nhà giàu lòng tham sẻn bạo ác, không có Từ tâm. Sớm hôm bắt con hầu hạ, ngoài ra còn làm các việc, ít khi được nghỉ ngơi, hoặc có lầm lỗi gì, thì bị đánh đập, áo không đủ che thân, cơm không đủ no miệng, chết cũng không được, sống thì khổ, vì thế nên con khóc!

Ngài nói: Nghèo sao bà không bán nó đi?

- Bạch Tôn giả nghèo làm sao bán? Và ai là người mua?

- Nghèo có thể bán được lắm! Muốn bán để ta bán hộ!

- Bạch Tôn giả! Bán bằng cách nào, xin Ngài nói cho con được biết?

- Muốn bán phải nghe lời ta dạy.

- Dạ! Con xin tuân mạng!

- Trước khi bán bà phải đi tắm rửa cho sạch sẽ.

Khi tắm xong Ngài dạy:

- Người thế gian khi có phước được hưởng giàu sang, chỉ buông lung tâm tính say mê dục lạc, đã không bố thí, lại còn sinh lòng gian lận hiếp đáp người lấy của, keo sẻn tham lam nên bị quả báo nghèo đói đau khổ về thể xác lẫn tinh thần. Bà muốn được an vui sung sướng trên cõi nhân thiên, phải thành kính thụ trì Tam Quy Ngũ giới, mỗi tháng sáu ngày thụ phép Bát Quan Trai, ngoài ra chăm niệm Phật, trồng các công đức lành; làm hạnh bố thí đời được hưởng phúc an lành!

- Bạch Tôn giả, con nghèo cùng lắm, thân con hoàn toàn không có một chút gì. Còn cái bình này là của chủ con, không biết lấy gì bố thí được?

- Bà đem cái bát lấy ít nước lại đây dâng ta. Ta sẽ chú nguyện cho.

Bà lão vui mừng! Thành kính cầm bát ra sông múc nước dâng Ngài.

Chú nguyện xong Ngài hỏi rằng:

- Bà có chỗ nằm ngồi gì không?

- Bạch Tôn giả! Không có! Nếu lúc nào xay lúa giã gạo xong con nằm ngay bên cối ngủ, mùa xuân, mùa thu, làm lụng xong, cũng ngủ ở đó, ngoài ra không xay lúa, thì ra đồng phân trâu trữ để bón lúa, nằm ngủ tại bên.

Tôn giả nói: - Bà giữ tâm cho khéo, làm lụng hầu hạ phải cung kính cẩn thận, chớ sinh lòng hiềm thù, oán giận, chờ chủ nhà đi ngủ xong, mở cổng ra ngoài, lấy nắm cỏ khô trải một bên, cung kính chắp tay quan sát hình tướng Phật, chớ có ác niệm.

Theo lời Tôn giả dạy, cũng làm đúng như thế, đến quá nửa đêm bà lão chết, thần hồn được sinh lên cõi trời Đao Lợi.

Sớm mai ông Trưởng giả thấy mụ già chết nằm ngoài ngõ, giận nói:

- Con mụ này đã chết tại đây tối qua rồi, lũ bay lôi nó ra rừng cho ta!

Tụi gia nhân Trưởng giả, lấy dây buộc vào chân lôi mụ ra rừng lạnh vất bỏ, không chôn cất chi hết.

Khi đó trên cung trời Đao Lợi có ông Thiên Tử mệnh chung, họ hàng có năm trăm người, thần hồn bà lão được thay thế.

Phép sinh thiên, những người lợi căn thông minh có thể nhớ được nhân do đời trước của mình tại nhân duyên gì được sinh: Còn kẻ độn căn ngu tối thì quên hết, ham hưởng dục lạc cõi thiên, chứ không biết nguyên uy lúc tiền sinh. Bà lão này cũng thế quên hết, chỉ mãi vui dục lạc với năm trăm thiên tử. Lúc đó Ngài Xá Lợi Phất cũng ở cõi trời Đao Lợi biết thế hỏi:

- Ngươi nhân phước gì được sinh lên đây?

- Bạch Tôn giả con không nhớ, xin Tôn giả chỉ giáo cho!

Ngài bèn cho mượn phép đạo nhãn, xem biết tiền thân của mình, là mụ già ở của ông Trưởng giả, do nhờ Ngài Ca Chiên Diên dạy phép niệm Phật và lực của Ngài mà được thác sinh lên đây.

Cảm ơn Ngài Xá Lợi Phất, rồi đưa năm trăm thiên tử xuống nhân gian, nơi rừng lạnh đốt hương cúng dàng tử thi bà lão. Những thiên tử thân có hào quang chiếu sáng khắp rừng và nơi thôn dã ấy. Ông Trưởng giả thấy biến tướng như thế, không biết tại sao, gọi tất cả mọi người xa gần đến xem, đến tận nơi, thấy các ông thiên tử đương cúng dàng tử thi mụ già của nhà mình. Thưa rằng:

Nói xong ai nấy đều sợ hãi! Một lòng thành kính làm lễ thi hài cho mụ già xong, rũ nhau đên yết kiến Tôn giả Ca Chiên Diên.

Mọi người tới nơi làm lễ xong lui ngồi về một bên. Ngài thuyết pháp nói về luận "bố thí", luật "trì giới", luận "sinh thiên" tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ là nhân của tâm ác đạo: Nó tạm thời khoái lạc! Lại bị lâu kiếp đau khổ: Ly dục là một pháp an vui, bất diệt.

Năm trăm thiên nữ nghe xong được xa lìa trần cấu; đắc "pháp nhân tịnh", cúi đầu bái tạ bay về thiên cung.

Nhân gian những người được nghe Tôn giả nói, ai nấy đều phát tâm ly dục, làm hạnh bố thí, cầu đạo giải thoát bái tạ lui ra.

(Quyển Thứ Tư Hết)


Kinh Hiền Ngu Quyển Thứ Năm


23/ Phẩm thứ hai mươi ba KIM THIÊN


Chính tôi được nghe: Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà giảng thuyết chánh pháp cho bốn chúng tu tập.

Tại thành này có ông Trưởng giả nhà giàu sinh được cậu con trai mình sắc vàng, phúc đức đầy đủ.

Cũng lạ thay: Khi sinh cậu tự nhiên nứt ra một cái giếng ngay giữa vườn, ngang dọc mỗi bề tám thước, sâu tám thước, giếng nước ngọt thơm, uống vào mát mẻ khoái lạc, và cũng thấy no đủ, nếu không ăn cơm cũng được sức mạnh như thường, dưới lòng giếng lại có nhiều vàng bạc. Ông Trưởng giả lấy phân cấp cho mọi người, nhân thế ai muốn gì cũng được, là vì ai cũng được ông ban phát vàng bạc cho họ tiêu xài.

Đặt tên cậu là Tu Việt Na Xà Đề (Tàu dịch là Kim Thiên). Sau khi cậu lớn tài nghệ tinh thông, nhân từ đạo hạnh, vì thế nên ông bà yêu quý không bao giờ làm trái ý. Sau ông nhờ những người lái buôn tìm một cô gái có đức hạnh sánh duyên cùng cậu.

Thuở đó ở nước Diêm Ba có cô con gái ông Trưởng giả tên là Bạt Na Ba Bà Tô (Tàu dịch là Kim Quang Minh). Cô này dong tư yểu điệu, thân thể vàng chói. Khi sinh cô ra điềm lành cũng biến hiện, như sinh cậu Kim Thiên không khác.

Ông thân phụ cô nghĩ như vầy:

- Con ta phúc đức xinh đẹp, ít người sánh kịp, phải tìm gả cho một người hiền sĩ, tướng mạo anh tuấn trượng phu, chứ không thể gả cho kẻ tầm thường được.

Danh đức cô này đồn khắp nước Xá Vệ, trái lại tiếng khen của cậu Kim Thiên cũng làm cho nhà cô nghe biết.

Nên chi hai ông Trưởng giả rất hoan hỷ, vì thân thế đôi bên cũng là một nhà thế phiệt, danh đức không kém nhau. Hai ông đồng ý gả con cho nhau, từ đó trai tài gái sắc kết duyên về nước Xá Vệ, chung hưởng cuộc đời vui thú.

Ông thân phụ của Kim Thiên muốn cho vợ chồng Kim Thiên thấm nhuần giáo lý đạo Phật, một hôm mời Phật về nhà cúng trai. Khi Phật và chư Tăng dùng cơm xong, Ngài thăng tòa thuyết pháp nói về "Bát Khổ" tức là: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, cầu chẳng được khổ, oán ghét ở với nhau là khổ, năm ấm nồng nhiệt khổ, và nói về tám giải thoát an lạc.

Vợ chồng Kim Thiên nghe xong như người tỉnh giấc mơ, như kẻ khát được uống nước cam lộ, tâm trí mở mang, hiểu thấu đời là vô thường, ngay giờ phút đó ông bà Trưởng giả và vợ chồng cậu, phá tan được những ác kiến trong hai mươi ức kiếp, đắc quả Tu đà hoàn.

Đức Thế Tôn sau khi trở về Tinh xá, vợ chồng Kim Thiên đều xin đi xuất gia, vì đã hiểu đạo nên ông bà chấp thuận không ngăn cản.

Hai người đến cúi đầu lễ Phật bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Được Pháp bảo Vô thượng của Như Lai tuyên diễn, chúng con nhận thấy đời là vô thường, ảo mộng, đạo an lạc vô vi phải cầu, nên chúng con thành kính xin Ngài Từ bi tế độ cho xuất gia tu đạo.

Phật dạy: - Thiện lai Tỳ kheo.

Ngài nói dứt lời, tóc của hai người đều rụng hết, áo mặc tại mình biến thành áo Cà sa.

Kim Thiên được ở chung với Tỳ kheo Tăng, còn Kim Quang Minh Phật giao cho bà Đại Ái Đạo giáo hóa.

Tu học không bao lâu, hai người đều đắc quả A la hán "Tam Minh", "Lục Thông", "Tám Giải Thoát" công đức rất viên mãn.

Thấy thế tôi hỏi Phật rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn, chẳng hay vợ chồng Kim Thiên trước tu công đức gì, mới sinh ra đã nhiều trân bảo, thân thể có sắc vàng, tu hành chưa được bao lâu đã đắc quả giải thoát, cúi xin nói cho chúng con được rõ?

Phật dạy: - A Nan! Ông nên biết: Cách đây chín mươi mốt kiếp, hồi ấy có Đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi, sau khi Ngài nhập Niết bàn, các Thầy Tỳ kheo đi giáo hóa nhân gian, đến thôn xóm kia dân chúng tranh nhau cúng dàng. Lúc đó có hai vợ chồng nhà nghèo tự niệm rằng:

- Lúc sinh thời cha mẹ ta giàu có, tiền của đầy kho, nay ta bị nghèo cùng cơ khổ! Nằm ngồi trên chiếc chiếu manh, áo không đủ che thân, nhà không một đấu gạo. Khi nhà giàu sang, lắm tiền nhiều của, thì không được gặp các vị Thánh Tăng, rồi òa lên khóc, nước mắt rơi xuống cánh tay vợ hỏi:

- Tại sao anh khóc?

- Em không biết hay sao? Các vị Thánh Tăng tới đây, nhân dân tranh nhau cúng dàng, nhà ta nghèo không có gì để trồng thiện duyên với các Vị, đời nay bần cùng, rồi sau lại khốn khó, thế nên anh khóc!

- Thôi anh khóc làm gì! Anh vào kho tìm xem có được đồng nào thì đem cúng dàng.

Anh đứng lên vào kho tìm mãi, may sao được một đồng tiền vàng, mừng quá mua một cái bình mới đựng nước trong sạch rồi bỏ đồng tiền vàng ấy vào trong, cô vợ mua một cái gương sáng, chung đem cúng dàng. Tới nơi Tinh xá dâng lên chư Tăng.

Chư Tăng nhận và làm phép chú nguyện, vợ chồng vui vẻ ra về.

Qua được ít năm, hai vợ chồng đều chết cả, do nhân duyên ấy được sinh lên cõi trời Đao Lợi.

Tới đây Phật nhắc lại rằng:

- A Nan! Hai vợ chồng nghèo thuở đó, nay chính là vợ chồng Kim Thiên bởi kiếp trước thành kính cúng tiền vàng, gương nước, nên đời đời được phước báo thân thể tươi đẹp, sắc vàng. Từ đó đến nay đã chín mươi mốt kiếp đều được hưởng quả báo tốt lành như nay. Thuở ấy vì phát tâm cầu đạo Vô thượng nên đời nay gặp ta được thoát sinh tử, đắc đạo Niết bàn. A Nan! Phúc đức phải nên tu, như kẻ nghèo kia cúng dàng một chút mà phước báo lớn lao như vậy.

Bấy giờ tôi và đại chúng nghe Phật nói xong, ai nấy đều ham làm việc cúng dàng bố thí, vui mừng lễ tạ lui ra.

24/ Phẩm thứ hai mươi bốn TRÙNG TÍN

Chính tôi được nghe: Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà.

Thuở đó có ông Trưởng giả, nhà giàu lại không có con trai, ông bà thường hay đi cầu đạo ở các miếu thần, vì lòng thành kính khẩn nguyền, nên bà sinh được cậu con trai quý.

Một hôm ông bà ẵm cậu đến bờ sông, để thưởng thức các thú vui ngày đầu năm của gia tộc: Ăn các mùi ngon, uống các rượu tốt, ca hát, nhảy múa xem các trò vui.

Ông vừa bế cậu vừa nhảy múa, múa xong lại trao cho bà. Muốn cho cậu bé tươi cười vui vẻ, nên bà cứ tung cậu lên lại đỡ lấy, vừa cười, vừa đi trên mé sông, vì bỡn với cậu con quý của bà, nên tâm hồn tán loạn không cẩn thận, sảy tay đánh rơi cậu bé xuống sông kêu chỏm, bà hô la khản tiếng, có nhiều người nhảy xuống mò nhưng ôi thôi! Sông sâu nước chảy mạnh tuyệt vô tăm tích! Ông bà Trưởng giả ngất đi hồi lâu mới tỉnh.

Cuối dòng sông này có một thôn nhỏ, thôn ấy có một nhà giàu cũng không có con. Hết sức cầu Trời khẩn đất, đền nọ, miếu kia, vẫn vô hiệu quả.

Hôm ấy ông sai người ở trại thả lưới tại cuối con sông này, bắt được con cá lớn đem về mổ ra, thấy một đứa bé trai bị con cá nuốt mà vẫn còn sống; anh bế nó ra tắm rửa sạch sẽ rồi đưa cho ông chủ. Ông chủ xem xong vui vẻ nói:

- Nhà ta từ trước đến nay chí thành cầu đảo, hôm nay thực là trời cho ta đứa con này, ông trao cho bà ẵm nuôi bú mớm cẩn thận.

Ông Trưởng giả mất con hay tin có người mách bảo, cuối dòng sông này có người bắt được con cá lớn mổ ra được đứa con trai vẫn còn sống.

Ông bà rủ nhau đến xem, quả nhiên là con của ông thật.

Ông thưa rằng:

- Thưa ông! Đây chính là con tôi, bữa trước bà cháu giỡn chơi với nó không may đánh rơi xuống sông, phúc đức quá! Ông bà lại cứu được cháu. Vậy xin ông bà cho tôi chuộc lại, bao nhiêu chúng tôi cũng xin trả?

- Đáp: Thưa ông, nhà tôi thành kính cầu đảo thần kỳ đã lâu, được sự báo ứng cho tôi đứa con này, tôi để nuôi chứ không thể bán được!

- Thưa ông bà, chúng tôi thương con đứt ruột, giờ đây được thấy cháu như người sống lại, ông bà hoan hỷ, nếu ông bà có lấy nửa gia tài tôi cũng xin vâng!

- Thôi ông đừng nói nữa làm chi có chuyện lạ như vậy. Con ông rơi xuống sông là mất rồi, nếu bị cá nuốt thì chết rồi, còn sống sao được, đây là cái thai của con cá, đâu phải người đẻ.

Hai ông tranh luận mãi không giải quyết được, đưa nhau lên vua xử đoán.

Ông mất con tâu rằng:

- Tâu Bệ Hạ! Bữa trước vợ tôi ẵm nó đi chơi xẩy tay rơi xuống sông, xin Bệ Hạ minh xét.

Ông được con nói:

- Tâu Bệ Hạ! Người ở nhà tôi đánh lưới được con cá, đem về thấy đứa bé này ở trong bụng, chứ không phải anh ấy sinh nó ra.

Nhà vua nói: - Bây giờ có một đứa bé hai nhà cùng nhận. Trẫm không biết cho ai là phải. Vậy hãy nghe ta giải quyết, đứa bé này ta cho hai nhà nuôi chung, sau nó sẽ là con của hai nhà, mỗi nhà cưới cho nó một con vợ, vợ nhà ai sinh thì thuộc con nhà ấy.

Hai ông đều thưa:

- Dạ! Muôn Tâu Bệ Hạ, chúng con xin tuân mạng.

Cứ thế, hai ông về nuôi chung, năm qua tháng lại không bao lâu đã lớn, mỗi nhà đều cưới cho một cô vợ, đôi bên cha mẹ giàu một mình cậu tận hưởng.

Nhân có việc cậu đi sang xứ khác, cũng là đại nhân duyên, khi xong việc ra về gặp Phật đi du hóa nhân gian, cậu nhìn thấy Phật oai đức lớn lao, quang minh sáng sủa, đầy vẻ tôn nghiêm và thấy các người dân theo Phật tu học rất nhiều, cậu tới trước lễ Phật rồi lui ngồi về một bên nghe Phật thuyết pháp như cây kia bị nắng héo khô hạn, gặp trận mưa tưới mát, cành lá xanh tươi, cậu được nghe Phật thuyết pháp cũng thế, nghe xong lễ tạ lui ra.

Về nhà cậu rất sung sướng, với một ý niệm xuất gia sắt đá đã phát khởi tự đáy lòng, mặc dầu cho đôi bên cha mẹ lắm bạc nhiều tiền, vinh hoa phú quý, cậu coi nó như mây bay, như bọt nước, thưa với cha mẹ đôi bên rằng:

- Kính thưa song thân, lúc con mới sinh, đã mắc nạn rơi xuống sông bị cá nuốt mạng thoát chết, con nhìn lại đời không có gì vững chắc, dù cho lắm bạc nhiều tiền, quyền cao chức trọng, vợ đẹp hầu sinh, không ai tránh khỏi hai chữ vô thường, chỉ có xuất gia cầu đạo giải thoát là vui thú nhất. Vậy kính xin cho con xuất gia tu học!

Ông bà Trưởng giả nghe cậu nói có lý cao siêu, nên vui lòng cho tùy ý cậu.

Sau khi được sự đồng ý của đôi bên cha mẹ, cậu lên đường đi đến chốn Phật cúi đầu làm lễ bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn, thân người khó được, đời là ảo mộng con thành thực trút bỏ nơi tục lụy, tới đây cầu Thế Tôn cho con được nhập đạo tu hành, xin Từ bi tế độ!

Phật nói: - Thiện Lai Tỳ kheo!

Ngài nói dứt lời tóc trên đầu cậu tự nhiên rụng hết, áo mặc trên mình biến thành áo Cà sa. Phật đặt pháp hiệu cho là "Trùng Tín".

Chăm chỉ tu hành không lâu đã đắc quả A la hán.

Thấy thế tôi hỏi Phật rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Không hay Trùng Tín quá khứ kiếp làm hạnh gì, trồng nhân lành gì, rơi vào mồm cá không chết, hơn nữa lại được hưởng hai gia nghiệp giàu có, cúi xin Ngài chỉ giáo cho chúng con được rõ

Phật dạy rằng: A Nan! Ông nên biết, đời quá khứ đã quá lâu có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi, một hôm Ngài đương thuyết pháp cho đại chúng, khi đó có một ông Trưởng giả đến dự thính. Buổi ấy Phật nói về phúc Bố thí, phúc Trì giới, ông vui mừng phát khởi lòng tin mạnh mẽ, xin Phật thụ Tam quy và thụ giới bất sát, thụ xong đem một đồng tiền dâng Phật. Bởi thế cho nên đời đời được phúc báo vô biên, trên cõi nhân gian, ít người bì kịp. A Nan! Ông Trưởng giả thuở đó nay chính là Trùng Tín Tỳ kheo. Từ đó tới nay Trùng Tín đã được hưởng phú quý trong chín mươi mốt kiếp, nay được hưởng thụ gia nghiệp của đôi nhà. Do Trùng Tín giữ giới bất sát được hoàn toàn, nên cá nuốt không chết, và cũng bởi thụ Tam quy nên nay mới được gặp ta, tắm gội pháp hóa của ta và đắc quả A la hán, giải thoát sinh tử ba cõi.

Khi đó tôi và tất cả mọi người nghe Phật nói xong, ai nấy đều sung sướng phát tâm tu đạo, cúi đầu lễ tạ lui ra.


25/ Phẩm thứ hai mươi lăm TÁN ĐÀN NINH


Chính tôi được nghe: Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo ở đó.

Khi bấy giờ có năm trăm người ăn mày, bằng ngày cứ theo Phật và chư Tăng xin ăn, ngoài ra không xin ai hết, đã lâu năm vẫn không thôi. Khi đó tự bảo nhau rằng:

- Lũ ta sống nhờ dưới bóng Phật và chư Tăng, đã lâu ngày, xét rằng: Cứ như thế này mãi cũng vô ích, ngày qua tháng lại, không lại hoàn không, một mai quỷ Vô thường tới bắt, chúng ta nhờ thế lực gì cứu thoát, chi bằng chúng ta xin Phật xuất gia tu đạo, cầu giải thoát là tối diệu.

Bàn xong họ đến lễ Phật bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn, chúng con bạc phúc sinh nơi hạ tiện, mong ơn cao cả hàng ngày được sống dưới bóng Từ Quang, hôm nay bọn chúng con tất cả năm trăm người một lòng thành kính cầu xin xuất gia tu đạo, cúi mong Từ bi tế độ! Sợ rằng chúng con là kẻ ăn xin, vào chúng tu hành làm nhơ tiếng của ngôi Pháp Vương, việc đó có được xin Ngài chỉ giáo?

Phật dạy! Pháp của ta thanh tịnh, không phân biệt giàu, nghèo, sang, hèn, cũng ví như nước trong sạch, đem rửa những đồ nhơ bẩn thì các vật quý vật hèn, của tốt của xấu, trai hay gái đều trong sạch cả. Pháp của ta ví như lửa cháy, tất cả núi, sông, đá, đất, hoặc trên trời dưới biển muôn vật bất luận lớn nhỏ, nếu đốt đều cháy tiêu tan. Pháp của ta cũng như hư không, con trai, con gái, giàu nghèo, sang hèn, ai cũng có thể vào được.

Nghe Phật nói xong, tất cả bọn đều vui mừng! Cúi đầu lạy sát đất đồng thành xin nhập đạo tu hành.

Phật nói: - Thiện Lai Tỳ kheo!

Tất cả năm trăm người đều rụng hết tóc, áo Cà sa thấy mặc tại mình, biến thành những Vị Sa môn tu hành không bao lâu đã dứt hết lậu nghiệp, thành ngôi A la hán.

Khi đó trong nước các nhà hào trưởng và nhân dân hay tin Phật cho những người ăn mày xuất gia nhập đạo, họ rất không bằng lòng và nói:

- Những kẻ ăn mày hèn hạ, Phật cũng cho họ xuất gia đứng vào hàng Tăng chúng. Chúng ta có tác phúc mời Phật và chư Tăng, quyết không cúng dàng bọn họ, và cũng không thể cho họ ngồi giường chiếu của nhà mình được.

Thái tử Kỳ Đà biết thế, sửa soạn cơm chay chu đáo, sai người đi mời Phật, dặn rằng:

- Anh đi mời Phật và chư Tăng, chứ không mời bọn ăn mày.

Người đó đến lễ Phật và bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Thái tử Kỳ Đà ngày mai xin mời Thế Tôn và chư Tăng đến vương cung thụ trai, cho Hoàng gia được ân triêm công đức, song Thái tử có dặn con, không mời những ông ăn mày, xin Ngài Từ bi hỷ xả cho?

Phật mỉm cười nhận lời!

Sáng mai lúc sắp đi phó trai, Phật bảo năm trăm Khất Sĩ rằng:

- Hôm nay ta và các Thánh Tăng đi phó trai tại nhà Thái tử Kỳ Đà, các ngươi đi sang xứ Uất Đan Việt ở bắc phương, lấy thứ lúa tám cánh, mang về nhà Thái tử, nơi ta phó trai, rồi cứ theo thứ tự mà ngồi!

- Dạ lạy Đức Thế Tôn, chúng con xin thụ giáo.

Khi Phật đi khỏi các vị La Hán dùng thần túc bay đi lấy lúa, trở về như đàn chim nhạn trên hư không, tới vương cung từ từ hạ xuống, oai nghi đĩnh đạc, bước vào thứ tự ngồi nghiêm chỉnh.

Thái tử thấy các vị này có thần túc tướng mạo oai nghiêm, phúc đức đầy đủ, khen thầm trong bụng! Tự nghĩ: Hôm nay nhà ta có phước lắm! Mừng lắm!

Tới trước Phật quỳ thẳng chắp tay bạch rằng:

- Kính lạy đức Thế Tôn! Các vị Hiền Thánh Đại đức từ đâu lại, cúi xin Ngài chỉ giáo?

- Phật nói: Kỳ Đà! Chắc ông không biết! Các vị Tỳ kheo này trước đây là người ăn mày, mới theo ta tu học đã chứng thánh quả, bữa qua Thái tử không mời, hôm nay sang xứ Uất Đan Việt lấy lúa tám cánh về ăn đấy!

- Thế Tôn công đức vô lượng vô biên khó tả xiết, những người ăn xin đứng vào hàng hèn hạ nhất còn được đặc ân cao quý, đời hiện tại an lạc, lai sinh nhàn cư đạo Vô Vi. Lòng Đại bi vô cùng cực không bỏ sót một chúng sinh nào.

Bạch rằng: Kính lạy đức Thế Tôn! Các vị Tỳ kheo quá khứ trồng nhân lành gì? Tu công đức gì? Nay được gặp Thế Tôn! Và không rõ tại tội gì sinh nơi nghèo khổ phải đi ăn mày, kính xin Ngài chỉ giáo cho!

Phật dạy: Kỳ Đà ông nên biết: Đời quá khứ không biết lượng nào kiếp số, cũng Châu Diêm Phù Đề này, có một nước lớn tên là Lợi Ba La Nại, nước ấy có một quả núi rất lớn tên là Sự Bạt Ta (Tàu dịch là Tiên Sơn). Trước những thời cổ xưa, có các thứ Đức Phật tu trong núi này, thời nào không có Phật lại có các vị Bích Chi Phật, hoặc có các vị Tiên Sĩ, chứ không bao giờ vắng các vị Hiền Thánh.

Thời đó, núi này có hai ngàn vị Bích Chi Phật, gặp lúc hỏa tinh xuất hiện kéo dài mười năm, đồng ruộng khô khan, không cày cấy gì được, nhân dân bị đói khát đau khổ. Lúc ấy có ông Trưởng giả tên là Tán Đàn Ninh, nhà giàu thóc gạo nhiều, ông thường cung cấp cho các đạo sĩ. Hôm ấy có một ngàn vị Bích Chi Phật đến nói với ông rằng:

- Thưa Trưởng giả! Chúng tôi ở trong núi, gặp lúc hạn, nhân dân đói thiếu, đi xin không được, Trưởng giả có thể cung cấp cho chúng tôi ở tại đây tu hành được không? Bằng không chúng tôi sẽ đi nơi khác!

Đáp: - Kính xin quý vị ngồi chơi để chúng tôi trả lời sau!

Ông gọi người coi kho hỏi:

- Thủ kho! Gạo còn nhiều không? Có thể cúng dàng được một ngàn tu sĩ ở tại đây được không?

- Dạ! Thưa Trưởng giả! Số thóc gạo còn rất nhiều, có thể cúng dàng được.

Ông ra đáp lời rằng:

- Dạ! Thưa quý vị, chúng tôi xin thành tâm cúng dàng, quý vị hoan hỷ và xin ở luôn tại nhà tôi cho tiện.

Hôm sau lại có một ngàn vị nữa đến thưa với ông rằng:

- Thưa Trưởng giả! Chúng tôi có một ngàn vị tu tại núi này, Ngài có thể cúng dàng được, thì quý hóa lắm, bằng không phải đi nơi khác.

- Dạ! Xin quý Ngài ngồi chơi!

Trưởng giả gọi thủ kho hỏi:

- Anh xem có thể cúng dàng được một ngàn vị nữa không?

- Dạ! Thưa Trưởng giả đủ.

Ông ra đáp lời quý vị rằng:

- Dạ! Thưa quý Ngài chúng tôi xin thành tâm chúng dàng!

Ông cúng dàng hai ngàn vị Bích Chi Phật, thuê năm trăm người hàng ngày để thổi cơm gánh nước giặt giũ quần áo, hầu hạ các vị đầy đủ, và một người coi đúng giờ đi mời các vị ăn cơm.

Bọn năm trăm người thấy sự hầu hạ mỏi mệt, phát giận nói với nhau rằng:

- Chúng ta chịu sự cực khổ buổi sớm ban hôm không được lúc nào nhàn rỗi cũng chỉ vì bọn ăn mày này.

Người mời này nuôi một con chó, mỗi khi đi mời cũng cho nó đi theo, một hôm mải chơi quên không đi mời, con chó có linh giác, biết rằng chủ quên mời nó tự đi đến chỗ các vị Bích Chi, cắn lớn mấy tiếng. Các vị hiểu nó đến mời, chú nguyện cho nó thoát khỏi thân Súc sanh, sớm được gặp gỡ ngôi Tam bảo.

Hôm đó thụ trai ngọ xong, các vị nói với ông Trưởng giả rằng:

- Thưa Trưởng giả, trời sắp mưa ông nên cấy lúa là được.

- Dạ! Các Ngài dạy bảo chúng tôi xin thọ giáo.

Ông sai canh điền bắt trâu cày ruộng, quả nhiên trời mưa, trồng các thứ lúa đều được tốt tươi. Nhưng lạ thay, những cây lúa ấy sinh ra những quả bầu, ông Trưởng giả cho làm lạ, đến hỏi các vị, các vị nói rằng:

- Trưởng giả không lo! Cứ tưới bón vun xới cho nó, một mai nó sẽ kết thành thóc gạo.

Sau ngày bầu chín, người ta mang về bổ xem, quả nhiên thấy lúa ở trong đầy ăm ắp.

Ông Trưởng giả vui mừng, nhân dân cho là điềm lạ! Vụ lúa này ông Trưởng giả được rất nhiều thóc, chứa đầy kho đụn, còn thừa phân cấp cho nhân dân, từ đó mỗi người được no nê sung sướng, mưa thuận gió hòa, được mùa lúa tốt.

Khi đó bọn năm trăm người nói với nhau rằng:

Năm nay được mùa lúa tốt no nê sung sướng là do nơi các vị Đại Sĩ. Trước đây chúng ta nói xấu các vị, phải đối trước quý Ngài tạ lỗi, kẻo lại sinh chịu quả báo đau khổ.

Mọi người ai nấy đều sợ nghiệp báo, nên cùng nhau đến trước các vị Bích Chi Phật, thụp lạy thiết tha sám hối.

- Các vị thấy họ đã phát thiện tâm, cũng vui lòng! Hỷ xả cứu tế.

Họ thấy các vị đã hoan hỷ rồi, mọi người đồng thanh phát nguyện rằng:

- Nguyện cho chúng con được thoát ba đường ác, lại sinh tri ngộ Hiền Thánh đắc quả giải thoát!

Tới đây Phật nhắc lại rằng:

Thái tử ông nên biết: Năm trăm người nói xấu các vị Bích Chi Phật thuở đó nay là năm trăm vị ăn mày, vì một lời nói ác nên trong năm trăm đời, phải đi ăn mày, cũng do có lòng sám hối phát nguyện. Ông Trưởng giả Tán Đàn Ninh, chính là tiền thân của ta, người coi kho này là ông Tu Đạt, người đi mời hằng ngày, nay là vua Ưu Điền, con chó lúc ấy vì cắn mấy tiếng, nên đời đời được âm thanh tốt, nay là ông Mỹ Âm Trưởng giả.

Thái tử Kỳ Đà và tất cả trong Hoàng cung dân chúng nghe Phật nói xong, ai nấy đều cảm mến lòng Từ bi thương đời của Ngài một cách bình đẳng tuyệt đối, nên nhiều người phát khởi lòng hướng theo tâm cao cả, tiêu trừ tâm ngã mạn kiêu căng.

Lúc đó có người đắc sơ quả cho đến tứ quả. Tất cả đều tạ lễ lui ra.


26/ Phẩm thứ hai mươi sáu BỐ THÍ ĐẦU


Chính tôi được nghe: Một thời đức Phật ở một nước Tỳ Xá Ly, trong vườn cây A La.<