LỤC KHAI THỊ CỦA HƯ VÂN HÒA THƯỢNG
(Hư Vân Lão Hòa Thượng giảng thuật)
Ngày hai mươi hai
Hòa thượng khai thị rằng:
“Tu đạo không khó, chỉ cần buông xả muôn duyên, nhân pháp đều dứt, bốn tướng đều không, chân thật bình dị mà làm thì tự được.”
Ngài nêu ví dụ một vị tăng, tai điếc, mắt không biết chữ, tướng mạo cực khổ, chính là người được Ngài độ thoát.
Ngày hai mươi ba
Hòa thượng dạy:
“Có đạo hay không có đạo, người sáng mắt nhìn là biết ngay.”
Rồi dẫn việc có người bình luận quan huyện, bình luận tăng nhân, bình luận xương cốt của một vị trưởng lão để làm chứng.
Ngày hai mươi bốn
Hòa thượng triệu tập bốn chúng trong chùa để huấn thị, đại ý rằng:
“Thời cuộc ngày càng khẩn cấp, sinh tử vốn có định số; không phải họa thì trốn cũng không gặp, là họa thì trốn cũng không thoát. Đại chúng không cần hoảng sợ lo âu, cứ an tâm ở đây, dũng mãnh lo việc đạo.”
Ngài căn dặn ba điều:
1. Từ tối nay trở đi, mỗi ngày sau trai sáng, trai trưa và thời hương tối, toàn thể cùng về Tổ điện niệm Quán Thế Âm Bồ Tát một nén hương, ngày ba lần, hồi hướng cho chúng sinh trong cõi đất này tiêu trừ kiếp nạn.
2. Thu xếp cất giữ hành lý quan trọng; nam nữ cư sĩ tạm mặc y phục giống như tăng ni.
3. Nếu giặc, phỉ hay trộm cướp đến, đại chúng cứ an cư như thường, không kinh sợ, đối đãi hòa nhã, không tranh chấp. Họ cần vật dụng hay lương thực thì cứ để họ lấy, không cần tranh giành.
Đại chúng nghe xong đều an tâm tu tập. Từ tối ngày hai mươi tám, toàn thể tăng tục cùng tụng niệm Quán Âm tại Tổ điện. Đến ngày ba mươi, Hòa thượng khai thị ba lần:
• Lần thứ nhất: Nói về nhân duyên thiết lập pháp niệm Quán Âm cầu tiêu tai cứu dân, cùng bản tích và cảm ứng của Bồ Tát Quán Âm, đại lược y cứ theo Kinh Lăng Nghiêm.
• Lần thứ hai: Kể các sự tích linh cảm của Quán Âm.
• Lần thứ ba: Dạy phương pháp niệm Quán Âm:
1. Chí thành vì lợi ích chúng sinh
2. Tâm miệng tương ưng
3. Phản văn văn tự tánh
⸻
Ngày mồng hai tháng bảy
Hòa thượng khai thị:
“Phó Đại Sĩ nói:
‘Có vật trước trời đất,
Không hình vốn lặng lẽ;
Làm chủ muôn vạn pháp,
Không theo bốn mùa tàn.’
Vật ấy chính là thật tướng các pháp, tất cả chúng sinh đều đồng có; ở phàm không mất, ở thánh không thêm. Cho nên nói tâm – Phật – chúng sinh, ba không sai khác. Nếu chúng sinh buông bỏ tình thức, hiển lộ chân tánh, tức là kiến tánh thành Phật. Người thượng căn lợi khí, nghe liền ngộ, ngộ liền chứng, không cần tu hành; nói tu hành cũng chỉ là phương tiện bất đắc dĩ mà thôi.”
⸻
Ngày mồng ba
Sau khi đại chúng khẩn thiết niệm Quán Âm, Hòa thượng dạy:
“Giặc không lui, quốc nạn không tiêu, một phần do cộng nghiệp chúng sinh chiêu cảm, một phần do chúng ta bình thường thiếu đạo đức, khi gặp việc tâm chưa đủ chí thành. Đại chúng phải nỗ lực sám hối, đầy đủ lòng thành.”
⸻
Ngày mồng năm
Hòa thượng khai thị:
“Phật Bồ Tát đâu cần người niệm? Chỉ vì chúng sinh chướng sâu nên Phật Bồ Tát mới chỉ bày các pháp môn. Niệm danh hiệu Phật Bồ Tát chẳng qua để làm trong sạch vọng niệm, thấy rõ bản lai mà thôi.”
“Ví như ngọc trong thả vào nước đục, nước đục không thể không trong; danh hiệu Phật đưa vào vọng tâm, vọng tâm không thể không tịnh. Nếu người dùng một danh hiệu Bồ Tát mà nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, thì ngay đó không khác Phật Bồ Tát.”
⸻
Ngày mồng sáu
Hòa thượng giảng về tâm tức là Phật, buông xả tất cả liền thành Phật, bình thường tâm là đạo, cần khéo giữ gìn đạo thể… những pháp viên đốn.
⸻
Ngày mồng bảy
Hòa thượng dạy:
“Tu hành phải buông xả tất cả mới có thể nhập đạo, bằng không chỉ uổng công. Chúng sinh vốn có tâm diệu minh, không khác chư Phật, chỉ vì từ vô thủy bị vọng tưởng trần lao trói buộc nên không hiển lộ, chìm đắm trong biển khổ sinh tử.”
“Buông xả tất cả là buông những gì? Nội lục căn, ngoại lục trần, trung lục thức – mười tám giới đều phải buông. Danh lợi, ân ái, hủy dự, được mất, cho đến tài vật, thân mạng đều phải buông.”
“Buông cho sạch, buông cho lâu dài, buông đến tận vị lai, thì bản tâm diệu minh hiện tiền, không khác chư Phật.”
Ngài dẫn nhiều ví dụ để chứng minh.
⸻
(Các ngày tiếp theo: mồng 8 đến cuối tháng
Nội dung tiếp tục xoay quanh các điểm cốt lõi:
• Giữ giới là nền tảng đoạn vô minh, trừ tập khí
• Tu hành phải phân biệt chánh – tà, thật – giả
• Buông xả mười tám giới, độc hiển chân như
• Niệm Quán Âm cần chí thành thống nhất
• Sinh tử là việc lớn, vô thường mau chóng
• Tâm Phật chúng sinh vốn không sai khác
• Nếu không liễu sinh tử trong đời này, e muôn kiếp khó lại được thân người
Hòa thượng nhiều lần cảnh tỉnh:
“Nói mà không làm thì nói cũng vô ích. Đến núi báu mà tay không trở về, thật đáng tiếc thay!”
⸻
HẬU KÝ BIÊN TẬP
Hư Vân Pháp Sư là bậc cao tăng hiếm có trong thời cận đại, đạo phong vang xa trong cả giới xuất gia lẫn tại gia. Những ghi chép của cư sĩ Tưởng Trung Hòa tại Ninh Viễn, Hồ Nam, chỉ trong một mùa hạ năm Dân Quốc 33 (1944), đã đủ khiến người đọc cảm như trực tiếp thọ giáo nơi Hư lão.
Do hoàn cảnh lịch sử, sau khi Hư lão viên tịch không có điều kiện chỉnh lý đầy đủ tư liệu, nên phần ghi chép này lại càng thêm quý giá. Bản thảo do cư sĩ Khâu Nghị liều mình gìn giữ qua thời biến động, công đức ấy thật đáng ghi nhớ cho hậu thế.
_____________________
Hoang Nguyen gởi
