Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh

 
Lược truyện TRỪNG QUÁN ĐẠI SƯ – Hoa Nghiêm tứ tổ, thầy của bảy đời vua

Thanh Lương Quốc Sư (năm 737–838, có thuyết nói 738–839), húy là Trừng Quán, tự Đại Hưu, người đời Đường, là vị Tổ thứ tư của Hoa Nghiêm tông; đời tôn xưng là Thanh Lương Quốc Sư, cũng gọi là Hoa Nghiêm Sớ Chủ. Tục họ Hạ Hầu, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang).



Sinh ra phi thường – sớm lập đại nguyện

Theo sử sách ghi lại, Đại sư sinh vào năm Khai Nguyên thứ 26 đời Đường Huyền Tông. Khi sinh ra, ánh sáng đầy phòng, chiếu rực cả xóm làng. Thuở nhỏ đã thích gom cát dựng tháp làm trò chơi. Đến khi trưởng thành, thân cao chín thước bốn tấc, hai tay dài quá gối, miệng có bốn mươi chiếc răng như tướng Phật, âm thanh vang như chuông.

Năm 9 tuổi, lễ Hòa thượng Thể Chân ở chùa Bảo Lâm làm thầy, chưa đầy một năm đã thông suốt Tam Tạng. Năm Thiên Bảo thứ 7, lúc 11 tuổi, cạo tóc xuất gia; vừa khoác ca-sa đã lên tòa giảng kinh Bát Nhã.

Thuở thiếu niên, Đại sư đã phát mười đại nguyện (gọi là “Thanh Lương thập nguyện”), suốt đời lấy đó làm chuẩn mực:

* Thân không làm tổn hại hình tướng Sa-môn
* Tâm không trái với chế pháp Như Lai
* Ngồi không quay lưng với kinh pháp giới
* Tánh không nhiễm cảnh tình ái
* Chân không dẫm bụi chùa Ni
* Hông không chạm giường cư sĩ
* Mắt không nhìn sắc phi nghi
* Lưỡi không nếm thức quá ngọ
* Tay không rời minh châu viên giác
* Ngủ không rời y bát bên mình



Du phương cầu pháp – tham học khắp nơi

Năm thứ 2 niên hiệu Chí Đức đời 唐肅宗, thọ giới cụ túc, lại theo Thiền sư Thường Chiếu thọ Bồ-tát giới.

Ngài tư chất siêu việt, lòng rộng khoáng đạt, học không gì không tìm, pháp không gì không học. Từ khi xuất gia, đi khắp danh sơn, cầu học nơi các bậc danh sư. Phàm nơi nào có đạo tràng nổi tiếng, đều có dấu chân cầu pháp của Ngài.

Ngài từng học:

* Luật tạng (Tướng bộ luật, Nam Sơn luật)
* Tam luận học
* 《Đại Thừa Khởi Tín Luận》, 《Niết-bàn Kinh》
* 《Hoa Nghiêm Kinh》
* Giáo nghĩa Thiên Thai (chỉ quán, Pháp Hoa, Duy Ma)
* Thiền tông Nam tông và Bắc tông

Cả đời rộng học Luật, Thiền, Tam luận, Thiên Thai và Hoa Nghiêm.



Hoa Nghiêm Sớ Chủ – thầy của bảy đời vua

Năm Đại Lịch thứ 11, Ngài du hành Ngũ Đài Sơn, Nga Mi Sơn, sau đó trụ tại Đại Hoa Nghiêm Tự ở Ngũ Đài, tu pháp sám.

Nhân cảm thấy các bản chú giải cũ của 《華嚴經》 còn giản lược, Ngài phát nguyện soạn 《大方廣佛華嚴經疏》 (20 quyển), mất 4 năm hoàn thành. Sau đó lại giảng giải, soạn thêm 《隨疏演義鈔》, nên được tôn là “Hoa Nghiêm Sớ Chủ”.

Năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), theo chiếu của 唐德宗 vào Trường An, tham gia dịch bộ 《四十華嚴》 (bản Hoa Nghiêm 40 quyển).

Năm sau, giảng Hoa Nghiêm cho hoàng đế, được phong hiệu “Thanh Lương Quốc Sư”.

Ngài từng trải qua chín triều đại, giảng kinh cho bảy vị hoàng đế:

* Đại Tông
* Đức Tông
* Thuận Tông
* Hiến Tông
* Mục Tông
* Kính Tông
* Văn Tông

Được các triều hết sức tôn kính – điều hiếm thấy trong lịch sử.



Biết trước ngày đi – linh tích sau khi tịch

Ngày mùng 6 tháng 3 năm Khai Thành thứ 4 đời 唐文宗, Đại sư biết trước giờ viên tịch, gọi đệ tử dặn dò, rồi ngồi kiết già an nhiên thị tịch, thọ 102 tuổi, tăng lạp 83.

Sau khi viên tịch, có vị La-hán từ Ấn Độ sang Trung Hoa, trên đường qua cao nguyên Pamir thấy hai đồng tử bay giữa hư không. Hỏi ra, hai vị nói đi thỉnh răng của “Hoa Nghiêm Bồ Tát” về Ấn Độ cúng dường, và cho biết đó chính là hóa thân của Trừng Quán.

Khi mở quan tài, quả nhiên thiếu hai chiếc răng. Từ đó mọi người biết Ngài là hóa thân của Hoa Nghiêm Bồ Tát, tùy nguyện tái lai giáo hóa chúng sinh.



Kết luận

Cả đời Đại sư tuy được tôn vinh nhưng vẫn giữ chí thanh đạm, nghiêm trì bản nguyện tu hành. Hậu thế tôn Ngài là Hoa Nghiêm tứ tổ.

Ngài giảng 《華嚴經》 hơn 50 lần, trước tác hơn 400 quyển, trở thành phần quan trọng trong kho tàng Phật học Trung Hoa.

Theo sử chép, vua 唐文宗 vì Ngài mà bãi triều ba ngày, lại soạn bài tán:

“Giáo pháp dung thông như biển núi,
Ân đức bao trùm khắp trời đất,
Hai bộ sớ đứng đầu thiên hạ,
Khai mở u tối, nâng dậy người mê.”
 
________________


Hoang Nguyen gởi