MỸ KHÔNG GIÚP HỒ CHÍ MINH KHIẾN NƯỚC VIỆT TRÔI VỀ PHÍA CỘNG SẢN
Hồ Chí Minh từng cầu viện Mỹ nhưng Mỹ từ chối, khiến một khúc rẽ của lịch sử Việt Nam trôi vào bóng tối Cộng Sản.
Ít người biết rằng, trước khi Việt Nam bước hẳn vào quỹ đạo Liên Xô và Trung Quốc, Hồ Chí Minh từng tha thiết cầu viện Hoa Kỳ. Nếu nước Mỹ khi ấy dang tay ủng hộ ông Hồ Chí Minh, có lẽ con đường lịch sử của dân tộc Việt Nam đã khác, và Việt Nam hôm nay có thể đứng chung hàng với những quốc gia văn minh, dân chủ ở phương Tây.
Ngay từ năm 1919, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, ông gửi tới Hội nghị Hòa bình Paris bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” cùng một lá thư đến Ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing. Nội dung nhấn mạnh tinh thần tự quyết của dân tộc mà Tổng thống Woodrow Wilson từng nêu ra sau Thế chiến I.
Đây là lần đầu tiên Hồ Chí Minh chính thức gửi lời kêu gọi đến Hoa Kỳ, mong được nước Mỹ giúp. Cần phải nói đúng lịch sử là ông Hồ Chí Minh có tầm nhìn xa hiểu rộng. Lúc đó Hồ Chí Minh đã có tư tưởng dân quyền tiến bộ, sẵn sàng dẫn dắt vận mệnh Việt Nam đi tới con đường dân chủ, giàu mạnh. Tuy nhiên, lời kêu gọi của ông nhanh chóng rơi vào im lặng, khi các cường quốc phương Tây ưu tiên lợi ích thuộc địa hơn là quyền tự quyết của những dân tộc nhỏ bé.
Hai mươi bảy năm sau, cơ hội lại đến lần nữa. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Điều gây ngạc nhiên cho nhiều người là ông mở đầu bản tuyên ngôn bằng câu bất hủ của Tuyên ngôn Hoa Kỳ năm 1776:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Hồ Chí Minh dùng chính những lời mở đầu trong bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ để lập luận rằng, cũng như con người, các dân tộc đều có quyền bình đẳng và quyền sống độc lập. Ông chọn bản tuyên ngôn của Mỹ làm điểm tựa, cho thấy ông Hồ Chí Minh thật sự sự ngưỡng mộ và mong muốn Việt Nam đi cùng hướng với những giá trị dân chủ phương Tây.
Không chỉ dừng ở biểu tượng, Hồ Chí Minh còn tìm cách nối kết thực tế với Hoa Kỳ.
Ngày 28 tháng 2 năm 1946, ông gửi điện văn cho Tổng thống Harry Truman, tha thiết xin chính phủ Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam trước nguy cơ Pháp quay lại tái lập chế độ thuộc địa.
Trong thư, ông nêu rõ khát vọng xây dựng một nước Việt Nam tự do, hợp tác hữu nghị với các cường quốc dân chủ. Đây là thời điểm Việt Minh vẫn còn hy vọng rằng Washington sẽ gây áp lực buộc Pháp công nhận nền độc lập non trẻ nầy.
Thậm chí, các sĩ quan Mỹ của tổ chức OSS, tiền thân CIA cũng có mặt ở Hà Nội năm 1945. Thiếu tá Archimedes Patti, người từng gặp Hồ Chí Minh nhiều lần, kể rằng ông đã đọc bản thảo Tuyên ngôn Độc lập và thậm chí góp ý vài câu chữ.
Điều này cho thấy mối quan hệ ban đầu giữa ông Hồ và phía Mỹ không hề xa cách. Có những giai thoại truyền lại rằng khi Hồ đọc Tuyên ngôn, một chiếc máy bay Mỹ đã bay ngang trên bầu trời Hà Nội. Dù chi tiết này chưa được sử liệu chính thức xác nhận, nhưng sự hiện diện của các nhân viên OSS và phái đoàn Mỹ trong thời khắc lịch sử ấy đều có thật.
Thế nhưng, lịch sử không đi theo mong muốn của Hồ Chí Minh. Chính quyền Truman, bận đối phó với trật tự hậu chiến ở châu Âu và cần Pháp như một đồng minh trong Chiến tranh Lạnh đang manh nha, đã không đứng về phía Việt Nam.
Washington để mặc cho Paris trở lại Đông Dương, bất chấp những bức điện và lá thư từ Hà Nội. Khi cánh cửa từ Mỹ khép lại, Hồ Chí Minh buộc phải tìm đến những nguồn viện trợ khác, trước hết là Trung Quốc, rồi đến Liên Xô để có chỗ dựa trong cuộc chiến giành độc lập. Từ đó, Việt Nam dần bước vào quỹ đạo của khối cộng sản.
Nhiều nhà sử học gọi giai đoạn 1945–1946 là “cơ hội bị bỏ lỡ”. Nếu lúc ấy, Hoa Kỳ thực sự giúp Việt Nam độc lập, con đường phát triển có thể đã khác hẳn.
Với sự hỗ trợ kinh tế và thể chế chính trị dân chủ, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một quốc gia dân chủ tự do như Nhật Bản, Hàn Quốc hay thậm chí ngang hàng các nước Âu châu.
Tất nhiên, lịch sử không bao giờ đơn giản là “nếu thì”, bởi còn quá nhiều yếu tố khác về nội tình chính trị, sự phân cực quốc tế, tham vọng của Pháp...nhưng rõ ràng, lá thư cầu viện Mỹ của Hồ Chí Minh vẫn là một minh chứng sống động cho thấy ban đầu, ông không hề chọn con đường cộng sản một cách tuyệt đối. Con đường ấy phần nhiều xuất phát từ thế kẹt khi Mỹ quay lưng, buộc ông Hồ phải tìm đến Liên Xô và Trung Quốc.
Sự kiện Hồ Chí Minh cầu viện Mỹ là một trang sử ít người nhắc đến. Nó không chỉ phản ánh sự linh hoạt của một nhà lãnh đạo cách mạng, mà còn cho thấy số phận của một dân tộc nhỏ bé bị cuốn xoáy vào dòng chảy khắc nghiệt của chính trị quốc tế.
Nếu Hoa Kỳ năm xưa đáp lời, rất có thể bức tranh Việt Nam hôm nay đã rực rỡ trong một màu sắc hoàn toàn khác.
Kết của bài nầy, Thùy Trang xin kính cẩn và nể phục ông Hồ Chí Minh, một lãnh đạo xuất sắc, biết nhìn xa, trông rộng, thương yêu, lo lắng tới dân tộc nhỏ bé Việt Nam. Ông đã cố hết sức, tìm đủ mọi cách, mọi cơ hội mong đưa dân tộc Việt Nam vượt khó tiến tới nền văn minh nhân bản...Cái xui của dân tộc Việt mình là chính phủ Mỹ đã làm ngơ ...đưa tới hậu quả đau buồn khi đất nước bị cuốn trôi vào thế giới Cộng Sản không lối thoát...
*** Ghi chú: Để Thùy Trang bổ xung cho bài viết mình kính nể ông Hồ nào ...Hồ Chí Minh có rất nhiều người thế vai..Ông Hồ năm 1911 ra đi trên con tàu Pháp và bị tù ở Hongkong là người Hoa tên Hồ Quang, ông này có vợ là bà Tăng Tuyết Minh. Ông Hồ nầy đã mất năm 1930 thời gian mà nhiều sử gia nói "the lost years".
Sau một thời gian, ông Hồ khác xuất hiện. Ông thứ hai là người Việt Nam là người đã đọc tuyên ngôn 1945. Ông Hồ thứ hai mất vì bệnh năm 1959 và sau đó xuất hiện ông Hồ thứ 3 cho tới 1969. Ông Hồ mất năm 1969 được Liên Xô ướp thuốc, tuy nhiên khoảng năm 1983 thì xác bị phân hủy vì bacteria. Xác trong Ba Đình là xác bằng sáp, không phải người thật.
Những gì mình nói luôn sự thật mình biết qua gia đình gốc gác, tuy nhiên mình không có phim ảnh, DNA để xác thực.
Thuy Trang Nguyen
____________________
Hoang Nguyen gởi