MỸ VÀ IRAN KÝ THỎA THUẬN CHẤM DỨT XUNG ĐỘT VÀ RẤT NHIỀU CÂU HỎI CÒN ĐỂ NGỎ
*Vắn tắt về bản ghi nhớ MOU giữa Mỹ và Iran
Có lẽ không cần phải đi sâu vào nội dung 14 điểm trong bản thỏa thuận giữa Mỹ và Iran nhằm chấm dứt chiến tranh, được gọi là bản ghi nhớ (MOU) đã được Mỹ công bố và nhiều báo, đài đưa tin (1)
Nhưng nói một cách tóm tắt, trên bề mặt Iran nhận được những nhượng bộ kinh tế cực kỳ lớn từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều so với những gì Iran nhận được trong thỏa thuận hạt nhân Joint Comprehensive Plan of Action (JCPOA) năm 2015.
Iran được gì? 1. Chấm dứt cô lập kinh tế, 2. Thu hồi tài sản bị phong tỏa. Hàng chục tỷ USD tài sản bị đóng băng được giải phóng 3. Xuất khẩu dầu trở lại bình thường. 4. Gói tái thiết 300 tỷ USD. Đây là điều khoản gây chú ý nhất. Nếu hiểu theo nghĩa đen, nó không chỉ là gỡ trừng phạt mà còn là Mỹ và đồng minh hỗ trợ phục hồi kinh tế Iran, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cấp hạ tầng, hiện đại hóa ngành năng lượng.
Đây là điều mà ngay cả sau JCPOA 2015 Iran cũng chưa từng nhận được.
Trong khi đó, Iran chưa hề cam kết những nhượng bộ lớn về hạt nhân ở giai đoạn MOU. Các vấn đề đó được đẩy sang vòng đàm phán 60 ngày tiếp theo. Một số bản dự thảo được công bố thậm chí còn cho thấy chương trình tên lửa và các lực lượng ủy nhiệm của Iran bị loại khỏi chương trình nghị sự cuối cùng.
Thỏa thuận Joint Comprehensive Plan of Action năm 2015 có hàng trăm trang phụ lục kỹ thuật (2). Iran khi đó phải giới hạn mức làm giàu uranium, giảm số lượng máy ly tâm, giảm kho uranium làm giàu, chấp nhận cơ chế thanh sát chi tiết của IAEA, thực hiện theo các mốc thời gian cụ thể. Đổi lại mới được nới lỏng trừng phạt.
Ngược lại, MOU hiện nay chủ yếu là ngừng bắn, mở lại Hormuz, bắt đầu đàm phán, đưa ra khung kinh tế và chính trị cho một thỏa thuận sau này.
Nói cách khác, nếu chỉ nhìn vào văn bản MOU hiện tại Mỹ chưa đạt được những điều mà Obama đã đạt được năm 2015 về mặt kiểm soát hạt nhân.
Kết thúc 3 tháng rưỡi cuộc chiến, ai thua ai thắng?
Có thể trả lời một cách đơn giản:
Mỹ và Israel thắng về quân sự.
Iran sống sót về chính trị.
Không bên nào đạt được toàn bộ mục tiêu ban đầu của mình.
Đó là lý do hiện nay cả Washington lẫn Tehran đều tuyên bố chiến thắng.
Mỹ và Israel thắng ở điểm nào?
Về mặt quân sự, thiệt hại của Iran là rất lớn:
– Nhiều lãnh đạo cấp cao bị tiêu diệt.
– Năng lực tên lửa suy giảm đáng kể.
– Hải quân bị tổn thất nặng.
– Nhiều cơ sở quân sự và công nghiệp quốc phòng bị phá hủy.
– Chương trình hạt nhân bị thụt lùi thêm nhiều năm.
Nếu mục tiêu là làm suy yếu sức mạnh quân sự Iran, thì Mỹ và Israel đã đạt được phần lớn mục tiêu.
Iran thắng ở điểm nào?
Nhưng Mỹ ban đầu không chỉ muốn làm suy yếu Iran. Trong nhiều tuyên bố đầu chiến tranh, các mục tiêu được nhắc tới bao gồm:
– Chấm dứt hoàn toàn chương trình hạt nhân.
– Buộc Iran từ bỏ mạng lưới lực lượng ủy nhiệm.
– Mở hoàn toàn eo biển Hormuz.
– Thậm chí có những tiếng nói tới việc thay đổi chế độ.
Đến cuối cuộc chiến:
– Chế độ Iran vẫn tồn tại và chưa có điều gì trong các điều trên đạt được.
Nếu mục tiêu tối thiểu của Tehran là sống sót và không đầu hàng vô điều kiện, thì họ đã đạt được điều đó. Không những thế, họ đã bước vào bàn đàm phán và nhận được rất nhiều nhượng bộ từ phía Mỹ như vừa nêu, và Tehran vẫn giữ được vai trò địa chính trị quan trọng trong khu vực.
Có thể tóm tắt, Mỹ và Israel đạt được hầu hết các mục tiêu quân sự trước mắt, nhưng không đạt được những mục tiêu chính trị và chiến lược tham vọng nhất mà họ từng công khai đặt ra khi phát động cuộc chiến.
Iran rõ ràng chịu tổn thất lớn hơn rất nhiều lần so với Israel và Mỹ. Nhưng chiến tranh không chỉ là đếm số tên lửa hay máy bay bị phá hủy. Như Henry Kissinger đã nói vào năm 1969, thời điểm đỉnh điểm của Chiến tranh Việt Nam: “Du kích thắng nếu không thua. Quân đội chính quy sẽ thua nếu không giành chiến thắng.” (“The guerrilla wins if he does not lose. The conventional army loses if it does not win.”) (3) Câu này áp dụng cho mọi cuộc chiến tranh bất đối xứng.
Iran không cần đánh bại Mỹ. Iran chỉ cần tồn tại đủ lâu để buộc Mỹ chấp nhận một thỏa thuận thay vì một sự đầu hàng. Đó chính là chiến lược mà nhiều nhà phân tích cho rằng Tehran đã theo đuổi.
Nếu thỏa thuận hiện nay được duy trì và Iran không tái vũ trang nhanh chóng, các sử gia có thể viết rằng: Mỹ và Israel giành thắng lợi quân sự rõ rệt nhưng không đạt thắng lợi chính trị quyết định.
Ngược lại, nếu vài năm nữa Iran phục hồi năng lực tên lửa và hạt nhân, nhiều người sẽ coi đây là một cuộc chiến mà Mỹ thắng mọi trận đánh lớn nhưng không giải quyết được vấn đề Iran.
Chưa kể về kinh tế, tất cả đều thua vì chiến tranh làm gián đoạn năng lượng và thương mại toàn cầu.
Tương lai vùng vịnh liệu có ổn định hơn sau khi thỏa thuận được ký kết?
Đây là điều mà nhiều người hoài nghi. Lý do là vì thỏa thuận hiện nay dường như giải quyết được việc ngừng bắn, nhưng chưa giải quyết được các nguyên nhân dẫn tới chiến tranh.
1. Hezbollah vẫn còn:
Nếu Hezbollah bị giải giáp hoặc tan rã thì có thể nói cán cân quyền lực khu vực đã thay đổi tận gốc. Nhưng hiện nay Hezbollah vẫn tồn tại, chưa bị giải giáp. Các nguồn tin Reuters còn cho rằng việc Iran được tiếp cận lại nguồn tài chính có thể giúp Hezbollah phục hồi sau những tổn thất vừa qua (4)
Điều đó có nghĩa là một trong những mặt trận quan trọng nhất của xung đột Israel–Iran vẫn còn nguyên.
2. Houthi vẫn còn:
Tương tự với lực lượng Houthi ở Yemen. Các đánh giá chiến lược gần đây cho thấy Houthi vẫn giữ khả năng đe dọa tuyến hàng hải ở Biển Đỏ và eo Bab el-Mandeb. Nói cách khác, Hormuz chưa hoàn toàn an toàn, Bab el-Mandeb cũng chưa hoàn toàn an toàn.
Đây là hai huyết mạch hàng hải quan trọng nhất đối với năng lượng toàn cầu.
3. Chương trình hạt nhân chưa được giải quyết:
Đây có lẽ là vấn đề lớn nhất. Thỏa thuận hiện nay chủ yếu là một khuôn khổ ngừng bắn và mở lại hàng hải. Các vấn đề khó nhất: làm giàu uranium, thanh sát, tên lửa đạn đạo, năng lực răn đe dài hạn của Iran…đều bị đẩy sang giai đoạn đàm phán tiếp theo.
Nếu 60 ngày đàm phán thất bại, toàn bộ cuộc khủng hoảng có thể bùng phát trở lại.
4. Israel dường như chưa hài lòng:
Một số báo cáo cho thấy Israel không phải là bên định hình các điều khoản cuối cùng của thỏa thuận và vẫn lo ngại về các vấn đề Hezbollah, tên lửa và hạt nhân Iran.
Nếu Jerusalem cho rằng Iran đang phục hồi quá nhanh, khả năng xảy ra các chiến dịch quân sự đơn phương trong tương lai không thể loại trừ.
5. Hormuz là yếu tố thay đổi cuộc chơi:
Trước chiến tranh, nhiều người coi chương trình hạt nhân là lá bài lớn nhất của Iran, tên lửa là lá bài lớn thứ hai. Sau cuộc chiến, ngày càng nhiều chuyên gia cho rằng: Lá bài đáng sợ nhất của Iran thực ra là khả năng gây gián đoạn Hormuz. Tình báo Mỹ cảnh báo Iran có thể tiếp tục sử dụng eo biển Hormuz như một công cụ mặc cả mạnh mẽ trong tương lai. (5)
Nhiều đánh giá cho rằng Tehran sẽ tìm cách chuyển từ chiến lược “trục kháng chiến” sang chiến lược dựa nhiều hơn vào vị trí địa lý và Hormuz.
Tóm lại: Chiến tranh kết thúc nhưng trật tự cũ chưa được khôi phục. Vì vậy, thỏa thuận hiện nay giống một sự đình chiến lớn hơn là một nền hòa bình lâu dài. Đó là lý do nhiều nhà phân tích hiện nay mô tả tương lai khu vực không phải là “ổn định”, mà là một trạng thái cân bằng mong manh mới, trong đó tất cả các bên đều mệt mỏi vì chiến tranh nhưng chưa bên nào thực sự từ bỏ mục tiêu chiến lược của mình.
*Israel có lẽ là bên thất vọng nhất
Israel có lẽ là bên thất vọng nhất, mặc dù Israel thực sự đã đạt được nhiều thành công quân sự: Làm suy yếu đáng kể năng lực tên lửa và phòng không Iran, Gây tổn thất lớn cho bộ máy quân sự Iran, Giảm cường độ các cuộc tấn công trực tiếp từ Iran vào Israel.
Nhưng nếu nhìn vào các mục tiêu chiến lược dài hạn của Israel thì câu chuyện khác hẳn. Trong nhiều năm, giới an ninh Israel coi ba mối đe dọa chính là: 1. Chương trình hạt nhân Iran. 2. Trục lực lượng ủy nhiệm (Hezbollah, Hamas, Houthi…). 3. Khả năng Iran bao vây Israel từ nhiều mặt trận.
Những mục tiêu đó chưa biến mất. Các chỉ trích trong nội bộ Israel hiện nay tập trung vào việc thỏa thuận không giải quyết dứt điểm vấn đề hạt nhân, tên lửa đạn đạo và mạng lưới lực lượng ủy nhiệm của Iran là Hezbollah, Houthi.
Điều khiến giới chiến lược Israel lo ngại nhất, không phải là Iran hôm nay. Mà là Iran của 5 năm tới.
Nếu chế độ Iran vẫn tồn tại, nền kinh tế Iran phục hồi, Hezbollah phục hồi, chương trình hạt nhân không bị loại bỏ hoàn toàn, thì Israel có thể đối mặt lại với một phiên bản Iran mạnh hơn trong tương lai. Hay nói khác đi, sau ba tháng rưỡi chiến tranh, Israel an toàn hơn trong ngắn hạn nhưng chưa chắc an toàn hơn trong dài hạn.
*Mỹ – một cường quốc hàng đầu nhưng chưa bao giờ thực sự chiến thắng trong các cuộc chiến?
Nhìn lại các cuộc chiến lớn từ sau năm 1945 mà Mỹ tham gia, từ Việt Nam, Iraq, Afghanistan…cho tới Iran hôm nay, điểm chung dường như Mỹ thường thắng quân sự nhưng không thắng về chính trị.
– Việt Nam: Mỹ thắng phần lớn các trận đánh lớn nhưng không đạt mục tiêu giữ vững chính quyền Nam Việt Nam.
– Afghanistan: Mỹ nhanh chóng lật đổ Taliban năm 2001 nhưng không xây dựng được một nhà nước Afghanistan đủ vững để tồn tại sau khi Mỹ rút quân.
– Iraq: Mỹ lật đổ Saddam Hussein rất nhanh, nhưng Iraq hậu chiến không phát triển theo hình dung ban đầu của Washington và sau đó còn chứng kiến sự trỗi dậy của ISIL.
Nhiều học giả mô tả đây là hiện tượng: “Thắng chiến thuật, thất bại chiến lược.” (“A tactical victory, a strategic defeat.”)
Không phải bao giờ Mỹ cũng thất bại, Đức và Nhật sau Thế chiến II trở thành những đồng minh thân cận của Mỹ. Mỹ cũng đạt được nhiều thành công ở Balkan trong thập niên 1990.
Nhưng trong các cuộc chiến chống nổi dậy hoặc xây dựng quốc gia gần đây, điều nghịch lý thường xảy ra: Mỹ phá hủy được sức mạnh quân sự của đối phương, nhưng không xây dựng được một trật tự chính trị ổn định thay thế. Cuối cùng đối phương hoặc lực lượng kế thừa lại quay trở lại. Taliban là ví dụ rõ nhất.
Nếu áp dụng vào trường hợp Iran hiện tại, những người chỉ trích thỏa thuận hiện nay cho rằng Mỹ và Israel đã làm suy yếu quân đội Iran nhưng chưa loại bỏ được các nguồn sức mạnh chính trị của Iran.
Vấn đề của Mỹ trong nhiều cuộc chiến hiện đại không phải là không thể đánh bại đối phương trên chiến trường, mà là không thể chuyển thắng lợi quân sự thành một trật tự chính trị bền vững sau chiến tranh.
*“Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn của Mỹ thì rất khó”?
Đây là một nhận định nổi tiếng của cố Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Nếu nhìn từ phía Nam Việt Nam năm 1973–1975, Chính phủ Afghanistan năm 2021, người Kurd ở Iraq và Syria trong nhiều giai đoạn, thì rất nhiều người thực sự cảm thấy bị Mỹ bỏ rơi.
Còn từ phía Washington, lập luận thường là: Mỹ hỗ trợ đồng minh khi điều đó còn phục vụ lợi ích quốc gia Mỹ; khi chi phí vượt quá lợi ích, Mỹ sẽ điều chỉnh chính sách. Đó là logic của một siêu cường, không riêng Mỹ.
Điều quan trọng là Mỹ không coi việc bảo vệ đồng minh là mục tiêu tối thượng. Mỹ coi lợi ích của Mỹ là mục tiêu tối thượng. Khi hai thứ đó xung đột, Mỹ thường chọn lợi ích của Mỹ.
Đây là điều mà nhiều đồng minh của Mỹ từ South Vietnam đến Afghanistan đã trải nghiệm.
Chưa kể, trong các cuộc chiến, từ cuộc chiến VN, Afghanistan, cho tới Iran hiện nay, khi chiến tranh kéo dài hoặc trở nên tốn kém, Mỹ thường chuyển sang đàm phán trực tiếp với đối thủ chính, còn đồng minh địa phương bị giảm vai trò hoặc bị đặt trước một thỏa thuận mà họ không hoàn toàn kiểm soát.
Trường hợp Nam Việt Nam là ví dụ kinh điển nhất:
Các cuộc đàm phán bí mật giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ diễn ra trong nhiều năm. Chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần phản đối một số điều khoản nhưng cuối cùng vẫn chịu áp lực phải chấp nhận Hiệp định Paris.
Tuy nhiên, về mặt pháp lý, Việt Nam Cộng Hòa vẫn là một bên ký kết chính thức của Hiệp định Paris, chứ không hoàn toàn bị loại khỏi văn kiện cuối cùng.
Dẫu vậy, rất nhiều người miền Nam lúc đó cảm thấy rằng Washington đã quyết định ưu tiên việc rút quân và kết thúc chiến tranh hơn là bảo đảm sự sống còn lâu dài của Sài Gòn.
Afghanistan:
Trường hợp Afghanistan, thỏa thuận Doha năm 2020 được ký trực tiếp giữa Mỹ và Taliban. Chính phủ Afghanistan lúc đó không tham gia đàm phán chính thức giữa Mỹ và Taliban. Nhiều quan chức Afghanistan coi đây là sự làm suy yếu tính chính danh của họ. Sau thỏa thuận, tinh thần chiến đấu của quân đội Afghanistan suy giảm mạnh vì cảm giác Mỹ đã quyết định rút đi bất kể kết quả cuối cùng ra sao. Ngay cả nhiều học giả Mỹ cũng xem đây là một sai lầm chiến lược.
Iran và Israel:
Trường hợp hiện nay khác hai trường hợp trên ở một điểm quan trọng: Israel không phụ thuộc vào quân đội Mỹ để tồn tại như Nam Việt Nam hay chính phủ Afghanistan từng phụ thuộc. Tuy nhiên, các nguồn tin gần đây cho thấy Israel không được tham gia trực tiếp vào văn bản cuối cùng của thỏa thuận Mỹ–Iran và Benjamin Netanyahu đã công khai bày tỏ sự không hài lòng. Điều đó khiến nhiều người Israel có cảm giác quen thuộc: Mỹ chiến đấu cùng Israel, rồi Mỹ đàm phán trực tiếp với Iran, và Israel phải sống với kết quả của cuộc đàm phán đó.
Đó là cảm nhận đang tồn tại trong một bộ phận dư luận Israel hiện nay.
Nếu nhìn xuyên suốt từ Việt Nam, Afghanistan tới Iran, có một quy luật khá rõ: Mỹ thường bước vào chiến tranh với các mục tiêu rất tham vọng. Nhưng khi chi phí chiến tranh tăng lên, mục tiêu của Mỹ dần chuyển từ “chiến thắng hoàn toàn” sang “kết thúc chiến tranh với chi phí chấp nhận được”. Lúc đó Mỹ có xu hướng đàm phán trực tiếp với đối thủ chính, ngay cả khi điều đó khiến đồng minh địa phương thất vọng.
Không chỉ có thế, Emily Schrader – nhà báo, nhà phân tích và chuyên gia về Trung Đông – đã trò chuyện với Fraser Myers của Spiked về những nguy hiểm tiềm tàng của “bản ghi nhớ hợp tác” giữa Donald Trump và Iran, và thẳng thắn chỉ ra rằng “Thỏa thuận với Iran phản bội người dân Iran, người dân Israel và toàn bộ phương Tây” (Iran deal betrays Iranians, Israelis & the entire West) (6) khi trao cho Iran vị trí tốt hơn, khiến Iran tự tin hơn, cũng như sẽ tháo dỡ mọi cấm vận, cho phép Iran bán dầu, thậm chí còn có số tiền 300 tỷ kia. Bởi vì từng đồng tiền đó không chỉ giúp chế độ Iran sống sót mạnh mẽ để tiếp tục đàn áp, giết hại người dân Iran, mà còn chảy vào túi các lực lượng ủy nhiệm khủng bố để họ lại lên kế hoạch cho một vụ 7 tháng 10 khác với Israel cũng như tiếp tục tấn công khủng bố các nước phương Tây.
*Mỹ có khuynh hướng đánh giá thấp kẻ thù là những chế độ độc tài?
*
Có vẻ như các đời chính phủ Mỹ không thực sự hiểu kẻ thù – từ Việt Cộng, Taliban cho tới chế độ Hồi giáo thần quyền Iran, rằng với họ, sống sót là thắng và họ thường có khả năng chịu đựng bất chấp cái giá sinh mạng của con người.
Đôi khi Mỹ đánh giá thấp khả năng chịu đựng và ý chí chính trị của đối phương.
Việt Nam: Nhiều nhà hoạch định chính sách Mỹ trong thập niên 1960 tin rằng nếu thiệt hại quân sự đủ lớn, Hà Nội sẽ phải chấp nhận một thỏa hiệp có lợi cho Mỹ. Nhưng đối với lãnh đạo miền Bắc khi đó, mục tiêu không phải là thắng từng trận đánh. Mục tiêu là giành quyền lãnh đạo trên toàn đất nước Việt Nam.
Nếu mục tiêu đó quan trọng hơn mọi tổn thất vật chất thì cách tính toán chi phí-lợi ích của Washington trở nên rất khó áp dụng.
Taliban: Taliban là ví dụ còn rõ hơn. Năm 2001 họ mất chính quyền chỉ trong vài tuần. Theo logic quân sự thông thường, đó là thất bại nặng nề. Nhưng Taliban không coi việc mất Kabul là thất bại cuối cùng. Họ coi cuộc chiến là một cuộc đấu sức về thời gian: Người Mỹ sẽ mệt trước hay chúng ta sẽ mệt trước?
Hai mươi năm sau, Taliban vẫn tồn tại còn Mỹ rút quân. Theo cách nhìn của Taliban, chỉ riêng việc sống sót đủ lâu đã là chiến thắng.
Iran: Với Iran cũng có yếu tố tương tự. Nhiều nhà phân tích đã chỉ ra rằng giới lãnh đạo Iran thường định nghĩa chiến thắng theo cách khác với phương Tây.
Trong cuộc chiến vừa qua, chiến lược của Tehran không phải là đánh bại quân đội Mỹ hay Israel. Họ biết điều đó gần như không thể. Chiến lược là tồn tại; kéo dài cuộc chiến; tăng chi phí cho đối phương; gây áp lực kinh tế thông qua năng lượng và Hormuz; chờ đối thủ mất kiên nhẫn.
Cũng có thể Mỹ hiểu điều đó, nhưng rất khó xử lý.
Vấn đề là, một nền dân chủ như Mỹ phải chịu áp lực từ bầu cử, dư luận, ngân sách và truyền thông.
Trong khi đó, Việt Nam thời chiến, Taliban, chế độ Iran đều có thể chấp nhận mức tổn thất mà xã hội Mỹ khó chấp nhận trong thời gian dài.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý. Không phải mọi đối thủ của Mỹ đều “chịu đựng vô hạn”. Ví dụ: phát xít Đức cuối cùng sụp đổ, phát xít Nhật cuối cùng đầu hàng, Iraq năm 2003 cũng sụp đổ rất nhanh. Khả năng chịu đựng không phải là vô tận.
Điều quan trọng là liệu đối phương có tin rằng mục tiêu chính trị của họ đáng giá hơn những tổn thất phải chịu hay không.
Tóm lại, sai lầm lặp đi lặp lại của Mỹ không nhất thiết là đánh giá sai sức mạnh quân sự của đối thủ, mà là đánh giá sai cách đối thủ định nghĩa chiến thắng.
Đối với Washington, chiến thắng thường được đo bằng lãnh thổ kiểm soát, chính quyền được dựng lên hoặc năng lực quân sự bị phá hủy.
Đối với Việt Cộng, Taliban hay chế độ Iran, chiến thắng đôi khi chỉ đơn giản là tồn tại đủ lâu để đối phương từ bỏ mục tiêu ban đầu của mình.
Bên cạnh đó, Mỹ dường như không thực sự hiểu rõ các chế độ độc tài dù độc tài cộng sản hay độc tài Hồi giáo thần quyền, họ có học thuyết, hệ tư tưởng của họ, dù là hệ tư tưởng Cộng sản, Mác xít hay chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, và họ không dễ gì từ bỏ học thuyết, tư tưởng đó.
*Làm thế nào để đánh giá thắng thua trong một cuộc chiến hiện đại?
Trong các cuộc chiến cổ điển, câu trả lời khá đơn giản:
– Chiếm thủ đô.
– Lật đổ chính quyền.
– Buộc đối phương đầu hàng.
Nhưng từ Việt Nam, Afghanistan, Iraq cho tới Iran, câu hỏi trở nên phức tạp hơn nhiều:
– Nếu thắng mọi trận đánh nhưng không đạt mục tiêu chính trị thì có phải thắng không?
– Nếu bị tàn phá nặng nề nhưng vẫn tồn tại và buộc đối phương đàm phán thì có phải thua không?
– Nếu đồng minh của bạn cảm thấy kém an toàn hơn sau chiến tranh thì đó là thắng hay thua?
Đó là những câu hỏi mà các sử gia có thể còn tranh luận hàng chục năm nữa.
“Mỗi bên bước vào cuộc chiến với mục tiêu gì, và sau khi súng ngừng nổ, họ đạt được bao nhiêu phần trăm mục tiêu đó?”
Viễn Đông
…………………
Tham khảo:
(1) US-Iran memorandum of understanding in full, BBC
(2) The Joint Comprehensive Plan of Action nuclear deal with Iran, UK Parliament
(3) The Viet Nam Negotiations, Foreign Affairs.
(4) After war losses, Hezbollah seen gaining from Iran-US deal, Reuters
(5) Iran Holds Weapon “Stronger Than Nuclear,” US Intelligence Warns, Seoul Economic Daily
(6) ‘Iran deal betrays Iranians, Israelis & the entire West’ | Emily Schrader DESTROYS Trump’s bluster
________________
Tien Tran gởi
