Nguyễn Tri Phương
Nguyễn Tri Phương (1800–1873) không chỉ là một vị tướng, ông là biểu tượng của lòng trung quân ái quốc và là "linh hồn" của cuộc kháng chiến chống Pháp thế kỷ XIX. Cuộc đời ông là một bản anh hùng ca bi tráng, gắn liền với những thăng trầm của triều Nguyễn qua ba đời vua: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Xuất thân trong một gia đình làm nông và làm nghề mộc, đóng hòm tại Thừa Thiên Huế, Nguyễn Tri Phương (tên thật là Nguyễn Văn Chương) không đi lên bằng con đường khoa bảng. Nhờ năng lực thực tiễn xuất sắc, ông từ một thư lại ở huyện đã lọt vào "mắt xanh" của vua Minh Mạng và thăng tiến thần tốc.
Chính sử ghi nhận ông là người đa tài: vừa giỏi trị thủy, khai hoang ở Nam Kỳ, vừa là một nhà quân sự quyết đoán. Ông được phong hàm Khâm sai đại thần, là vị Tổng chỉ huy quân đội triều Nguyễn chống giặc Pháp xâm lược trên khắp ba miền đất Việt như ở mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Ở mặt trận nào ông cũng thể hiện vai trò chỉ huy mưu lược và dũng cảm trước kẻ thù xâm lược. Do đó, qua ba triều vua Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), ông được thăng nhiều chức vị quan trọng như: Năm Quý Mùi (1823), vua Minh Mạng đề bạt ông làm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện), năm sau thăng Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các. Hai năm sau thăng Thị độc, Thị giảng học sĩ; năm 1831 thăng Hồng Lô tự khanh.
“Bức tường thép" tại Đà Nẵng (1858–1860)
Khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng năm 1858, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức tin tưởng giao trọng trách thống lĩnh quân đội.
Thay vì xua quân đánh trực diện vào hỏa lực mạnh của phương Tây, ông đã thực hiện chiến lược "Vườn không nhà trống" và xây dựng hệ thống phòng tuyến liên hoàn kiên cố.
Quân Pháp bị cầm chân suốt nhiều tháng tại bán đảo Sơn Trà, sa lầy trong bệnh tật và thiếu thốn, buộc phải đổi chiến thuật rút quân vào Gia Định. Đây là thắng lợi chiến thuật lớn nhất của quân đội nhà Nguyễn trong giai đoạn đầu kháng Pháp.
Bi kịch tại Đại đồn Chí Hòa (1861)
Năm 1861, ông vào Nam chỉ huy trận tuyến Chí Hòa. Tại đây, ông đã cho xây dựng một đại đồn quy mô khổng lồ. Tuy nhiên, trước sức mạnh hỏa lực vượt trội của đại bác tầm xa phía Pháp, đại đồn thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương và phải rút quân về Biên Hòa.
Em ruột ông là Nguyễn Duy tử trận, ông bị cách chức xuống làm Tham tri. Sự kiện này là một bước ngoặt đau đớn. Năm 1862, triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất, mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào tay Pháp.
Giai đoạn bình định Bắc Kỳ (1863-1871)
Giai đoạn 1863–1871, Bắc Kỳ rơi vào tình trạng hỗn loạn bởi quân Lê Duy Phụng và các toán quân "Khách" (tàn quân Thái Bình Thiên Quốc) từ Trung Quốc tràn sang như Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng. Dù triều đình đã cử nhiều danh tướng như Phạm Chi Hương, Võ Trọng Bình, Đoàn Thọ, Hoàng Kế Viêm và Tôn Thất Thuyết ra ứng cứu, nhưng tình hình vẫn rất bi đát: tướng lĩnh tử trận hoặc bị bắt, giặc cướp vẫn hoành hành khắp các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Trước thế sự nguy nan, năm 1871, vua Tự Đức một lần nữa phải cậy nhờ Nguyễn Tri Phương. Ông được ban chức Tam tuyên quân thứ Khâm mạng Đại thần cùng ấn kiếm, cờ tiết và quyền "tiền trảm hậu tấu".
Thay vì đánh tiêu diệt toàn bộ, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Kế Viêm chủ trương thu phục quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc (lực lượng mạnh nhất).
Dùng giặc đánh giặc: Biến quân Cờ Đen thành lực lượng chính quy của triều đình để chế ngự và dẹp tan các nhóm Cờ Vàng, Cờ Trắng. Chính sách này đã giúp ổn định biên cảnh, biến quân Cờ Đen thành đồng minh quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp sau này. Ghi nhận công lao đó, vua Tự Đức đã khôi phục toàn bộ phẩm hàm cao quý cho ông.
Khúc tráng ca cuối cùng tại Thành Hà Nội (1873)
Năm 1873, ở tuổi 73, khi đang giữ chức Khâm mạng tuyên sát đổng đốc đại thần tại Hà Nội, ông phải đối mặt với cuộc tấn công của Francis Garnier.
Trong cuộc chiến giữ thành, con trai ông là Nguyễn Lâm hy sinh, bản thân ông bị trọng thương và bị quân Pháp bắt giữ.
Trong thành có một số lượng khá lớn binh lính, nhưng họ được trang bị rất thô sơ, đa phần chỉ là gươm, giáo, mác. Một số ít được trang bị súng hỏa mai, nhưng không được huấn luyện kỹ để sử dụng. Trên mặt thành có súng thần công nhưng cũng không phát huy được hỏa lực.
Garnier cho pháo thuyền luồn xuống hai cổng thành phía Nam, điều toán lính tinh nhuệ nhanh chóng vượt qua cầu để tiếp cận cổng thành. Khi quân của Nguyễn Tri Phương trên thành phát hiện ra bắn xuống thì đã quá muộn. Quân Pháp đã qua khỏi tầm bắn phòng thủ của quân ta.
Trong lúc binh lính Pháp chuẩn bị tiếp cận cổng thành, pháo thuyền Pháp nã đạn liên tiếp phá vỡ cổng thành phía Nam. Hỏa lực đạn pháo khiến thành lũy Hà Nội rung chuyển. Lúc đầu quân ta chiến đấu rất kiên cường. Nhưng khi các cửa thành đã bị phá thì các quan có trách nhiệm giữ thành như Tổng đốc Bùi Đức Kiên, án sát Tôn Thất Trác đều bỏ chạy. Quân sĩ hoang mang cũng bỏ chạy, con trai ông là Nguyễn Lâm hi sinh, Nguyễn Tri Phương bị một mảnh đại bác xuyên vào bụng, bị thương nặng.
Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị quân Pháp bắt ngày 20-11-1873. Quân Pháp tìm cách chạy chữa hòng mua chuộc ông vì nếu Nguyễn Tri Phương quy thuận, chúng sẽ dễ dàng đạt được mục đích chiếm lĩnh nước Nam hơn.
Nguyễn Tri Phương từ chối yêu cầu của chúng, ông quyết định tuyệt thực tuẫn tiết để khẳng định tinh thần bất khuất của người Việt Nam trước giặc ngoại xâm. Ông đã đáp trả đanh thép trước quân giặc "Bây giờ nếu ta chỉ lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa" (theo Đại Nam liệt truyện).
Sau gần một tháng tuyệt thực, ông qua đời vào ngày 20/12/1873, để lại sự tiếc thương vô hạn cho các quan, dân và sĩ phu cả nước.
Sử gia triều Nguyễn trong Đại Nam thực lục và Đại Nam liệt truyện luôn dành cho ông sự tôn trọng tuyệt đối về nhân cách. Mặc dù trong cuộc đời làm tướng xông pha trận mạc của ông có lúc thành, lúc bại nhưng ông vẫn luôn giữ vững ý chí, tinh thần của một vị tướng danh giá, đáng tin cậy của nhân dân và triều đình. Ông xứng đáng là một đại danh thần được đất Thăng Long - Hà Nội và cả nước Việt Nam đời đời tri ân, tưởng nhớ.
Di tích nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Tri Phương là cụm công trình kiến trúc thuộc địa phận làng Chí Long, xã Phong Chương, huyện Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm: Đền thờ Trung Hiếu và Khu lăng mộ Nguyễn Tri Phương. Đây là nơi thờ tự và là nơi yên nghỉ của "Tam công trung liệt" (Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm), có lăng mộ, tượng đồng lớn, kiến trúc nhà rường cổ và được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1990.
Tại Trấn Biên, Biên Hoà, Đồng Nai, nhân dân cũng lập đền thờ ông để tưởng nhớ công di dân lập ấp, mở mang khu vực phía Nam. Tên ông còn được đặt cho những con đường, bệnh viện, ngôi trường lớn nhất trên khắp Việt Nam như một sự tri ân đối với một "lão tướng" đã tận hiến đến hơi thở cuối cùng cho dân tộc.
_________________
Tien Tran gởi
