Những Cuộc Tỉ Thí Sặc Mùi Tiền Giữa Hắc Công Tử và Bạch Công Tử
Trong hơn ba trăm năm hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ, kể từ khi những lớp lưu dân miền Trung đầu tiên vào khai phá từ cuối thế kỷ 17, có lẽ hiếm ai để lại nhiều giai thoại ăn chơi đình đám như Hắc công tử Trần Trinh Huy và Bạch công tử Lê Công Phước. Cả hai đều sống vào cùng một thời kỳ, chủ yếu trong thập niên 1920 và 1930, đều sinh ra trong những gia đình giàu sang bậc nhất Nam Kỳ, đều từng sang Pháp du học, rồi cuối cùng đều nổi tiếng vì lối sống xa hoa, phóng túng và những màn so tài tiêu tiền đến mức người đời nhắc mãi về sau.
Điều khiến người ta chú ý là giữa họ có rất nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều thừa hưởng gia sản rất lớn từ cha mẹ, đều có quãng thời gian sang Tây học nhưng không mấy ai nhớ họ thành danh nhờ bằng cấp, trái lại chỉ nhớ đến chuyện ăn chơi. Họ cùng xuất hiện trong những câu chuyện liên quan đến cô Bảy Phùng Há, cô Ba Trà, cùng được xem là biểu tượng của giới công tử Nam Kỳ, và cùng góp phần tạo ra những giai thoại như đ.ố.t tiền làm đuốc, đ.ố.t tiền nấu chè đậu xanh. Những cuộc thi thố ấy, nếu quy đổi theo thời giá ngày nay, mỗi lần có thể ngốn số tiền tương đương hàng trăm triệu, thậm chí còn hơn.
Theo nhiều tư liệu được nhắc lại, Hắc công tử, tức công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy, sinh năm 1900. Còn Bạch công tử Lê Công Phước thường được nói là sinh năm 1901. Tuy nhiên, trường hợp của Bạch công tử lại khá đặc biệt, vì khi mất đi ông không để lại giấy tờ rõ ràng, nên năm sinh thật đến nay vẫn còn là điều gây tranh luận. Có ý kiến cho rằng con số 1901 chỉ là năm sinh do chính ông khai lại để làm cho tuổi mình trẻ hơn vài ba tuổi, nhất là để bớt chênh lệch với cô đào Phùng Há, người sinh năm 1913. Nếu giả thuyết đó đúng thì Bạch công tử có thể sinh vào khoảng 1897 hoặc 1898, tức lớn hơn Hắc công tử từ hai đến ba tuổi.
Chính vì vậy, nhiều người sau này đặt lại câu hỏi về một số giai thoại, chẳng hạn câu Hắc công tử từng nói sau khi thua cuộc thi đ.ố.t tiền nấu chè rằng: “Chú em nhỏ tuổi, háo thắng, nên qua nhường cho chú em thắng đó.” Câu nói ấy rất nổi tiếng, nhưng nếu xét theo giả thuyết tuổi tác vừa nêu thì lại không hoàn toàn khớp, cho thấy nhiều câu chuyện về hai công tử này có lẽ đã được dân gian thêm thắt ít nhiều theo thời gian.
Cả Hắc công tử lẫn Bạch công tử đều được gia đình cho sang Pháp du học vào cuối thập niên 1910, đầu thập niên 1920. Hắc công tử là con của Hội đồng Trần Trinh Trạch ở Bạc Liêu, một đại điền chủ và doanh nhân có thế lực rất lớn. Bạch công tử là con của Đốc phủ Lê Công Sủng ở Mỹ Tho, cũng thuộc hàng quyền quý, giàu có. Tại Paris, thay vì miệt mài đèn sách, hai người lại nổi tiếng theo một cách khác. Hắc công tử mê những cuộc vui ở vũ trường, nhảy đầm rất giỏi, còn Bạch công tử thì say mê sân khấu, thường lui tới các nhà hát và có thú tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn. Họ đều là khách quen của những nhà hàng sang trọng, những tụ điểm giải trí nổi tiếng, không chỉ người Việt du học ở Pháp biết đến, mà cả người Việt định cư lâu năm bên đó và cả người Pháp cũng nghe tên.
Đời sống tình cảm của họ ở Pháp cũng được kể lại rất nhiều. Có nguồn nói Hắc công tử từng chung sống như vợ chồng với một cô gái Pháp, thậm chí có tin họ có với nhau một người con. Còn Bạch công tử thì gắn bó với một phụ nữ Nga có dòng dõi quý tộc, tóc vàng, mắt xanh, rất xinh đẹp. Dù vậy, khi trở về nước, cả hai đều không tiếp tục giữ liên hệ với những mối tình nơi đất khách. Trong thời gian ở Pháp, họ có quen nhau vì đều là người Nam Kỳ xa xứ, nhưng chưa thật sự thân thiết và cũng chưa ganh đua gay gắt. Lý do cũng dễ hiểu, bởi khi ấy họ chỉ là những cậu công tử từ xứ thuộc địa sang châu Âu, tiền gia đình gửi qua dù nhiều vẫn là khoản chi cho việc “ăn học”, còn cách ăn chơi của giới quý tộc và đại phú gia chính quốc thì vẫn ở một tầm khác. Chính vì thế, cuộc cạnh tranh thật sự chỉ bùng lên khi cả hai trở về Nam Kỳ, nơi họ gần như không có đối thủ trong giới ăn chơi.
Sau khoảng năm, sáu năm ở Pháp, hai người lần lượt hồi hương trong sự chờ đón như những ông hoàng. Ở Bạc Liêu, Hội đồng Trần Trinh Trạch còn cho mua hẳn xe hơi mới nhập về để đón cậu Ba Huy từ sân bay Sài Gòn, rồi mở tiệc thật lớn mừng con trai “học thành tài” trở về. Khách mời có đủ các quan chức và nhà giàu khắp Nam Kỳ. Ở Mỹ Tho, Đốc phủ Lê Công Sủng đón con trai giản dị hơn, nhưng chuyện “cậu George Phước” vừa từ Pháp về vẫn trở thành đề tài xôn xao của cả vùng. Điều đáng chú ý là Hội đồng Trạch gần như không mấy bận tâm con mình thật sự học được gì, chỉ thấy cậu Ba Huy phong nhã, lịch lãm, biết lái xe, lái ca nô, thậm chí lái được máy bay, như vậy đã là đủ để ông tin tưởng giao cho con quản lý cả khối cơ nghiệp khổng lồ.
Gia sản của nhà Hội đồng Trần Trinh Trạch lớn đến mức rất khó hình dung bằng thước đo thông thường. Nhiều nguồn kể ông sở hữu khoảng một trăm ngàn hecta ruộng lúa, hơn một trăm ngàn hecta ruộng muối, là người chi phối rất mạnh việc sản xuất, tiêu thụ muối và xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kỳ. Trong khi đó, Đốc phủ Lê Công Sủng lại có cách nhìn khác hẳn. Là người có học và từng trải, ông sớm nhận ra con trai từ Pháp trở về không có ý chí làm việc, ngoài chuyện tiêu tiền và hưởng thụ. Vì vậy, ông không giao điều kiện nào để George Phước tiếp tục ăn chơi, thậm chí còn bắt con phải lao động chân tay, làm việc như người làm công khi xây cất nhà cửa, như một hình thức răn dạy vì tội không chịu học hành nơi đất khách.
Bởi thế, vào giữa thập niên 1920, khi Hắc công tử đã bắt đầu nổi tiếng khắp Bạc Liêu và Nam Kỳ bởi sự xa hoa, Bạch công tử vẫn chưa có nhiều cơ hội vươn lên thành đối thủ thực sự. Chỉ đến khi Đốc phủ Sủng mất năm 1927, lại thêm mẹ ông trước đó cũng qua đời vì bệnh, toàn bộ gia sản kếch sù mới về tay Bạch công tử. Từ đó, Nam Kỳ mới chứng kiến một cặp kỳ phùng địch thủ trên con đường ăn chơi, thay vì chỉ có một mình Hắc công tử “một chợ một sân” như trước.
Có trong tay cơ nghiệp hàng trăm ngàn hecta ruộng lúa, ruộng muối, với lợi tức mỗi năm không sao kể xiết, Hắc công tử quyết sống đúng chất công tử. Ông thuê hẳn một người Pháp giỏi giang sang quản lý toàn bộ tài sản cho mình, tiền công lên tới mười phần trăm lợi nhuận. Có người quản lý tài ba lo mọi việc, Hắc công tử gần như không phải bận tâm đến chuyện làm ăn nữa, ngoài những lúc hứng thú thì đi thăm điền thổ cho vui. Chơi xe hơi mãi cũng chán, ông sắm ca nô, trong khi ca nô thời ấy là phương tiện cực kỳ hiếm và xa xỉ. Chán ca nô, ông sắm luôn máy bay tư nhân để đi thăm ruộng và đi du ngoạn, trở thành một trong những người Việt đầu tiên sở hữu máy bay riêng. Chỉ riêng chi tiết ấy cũng đủ cho thấy mức độ giàu có và phóng tay của Hắc công tử lớn đến mức nào.
Trong khi đó, Bạch công tử không chọn cách chơi giống đối thủ, mà tìm cho mình một lối đi riêng. Ông không chỉ tiêu tiền cho thú vui cá nhân mà còn dồn rất nhiều vào sân khấu cải lương, lĩnh vực đang là hình thức giải trí phổ biến nhất ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Cải lương khi ấy gần như là món ăn tinh thần lớn của cả miền Tây, từ nông thôn đến thành thị. Nghệ sĩ được mến mộ, ông bầu gánh hát có địa vị và tiếng tăm. Nắm được điều đó, Bạch công tử mua hẳn một gánh hát, lấy tên là Huỳnh Kỳ, màu vàng tượng trưng cho vua chúa. Điều đáng nói là ông không tổ chức đoàn hát theo kiểu tạm bợ như nhiều gánh hát đương thời, mà biến nó thành một tập thể quy củ, sang trọng, ăn ở tươm tất, vận hành bài bản, thậm chí đầu tư cả trang thiết bị hiện đại mua từ Pháp.
Nếu Hắc công tử nổi danh vì máy bay, thì Bạch công tử lại tạo tiếng vang bằng du thuyền. Biết chơi du thuyền là thú tiêu khiển rất thời thượng của giới quý tộc châu Âu, ông nghĩ cách làm một phiên bản theo điều kiện trong nước. Không thể mua du thuyền thật từ phương Tây với chi phí quá khổng lồ, ông thuê cơ sở đóng ghe lớn nhất ở Mỹ Tho làm cho mình một chiếc ghe bầu cỡ lớn, cao hai tầng, rồi thiết kế nội thất, không gian bên trong theo phong cách du thuyền Âu châu. Sau đó ông đặt mua thêm thiết bị, đồ trang trí từ Pháp để lắp đặt, khiến chiếc ghe bầu nhìn không khác gì một du thuyền sang trọng. Không chỉ một chiếc cho riêng mình, ông còn cho đóng thêm ba chiếc khác nhỏ hơn, dành cho đào kép, thầy đờn và cả đội bóng đi theo đoàn hát.
Nhờ vậy, mỗi khi đoàn ghe bầu của Bạch công tử cập vào một bến chợ hay một thị trấn nào đó chuẩn bị biểu diễn, cả vùng đều xôn xao. Đó là một sự kiện thật sự, vừa vì gánh hát nổi tiếng, vừa vì sự lộng lẫy hiếm thấy của đoàn du thuyền ấy. Nếu chiếc máy bay của Hắc công tử khiến người ta ngước nhìn khi nó bay qua, nhưng không phải ai cũng biết ai ngồi trên đó, thì sự xuất hiện của đoàn hát Huỳnh Kỳ và những chiếc du thuyền của Bạch công tử lại tạo thành thứ hào nhoáng có thể nhìn thấy tận mắt, sờ tận tay, bàn tán ngay tại chỗ. Vì thế, danh tiếng của Bạch công tử ngày càng vang xa, khiến cuộc đua giữa hai người càng thêm gay cấn.
Người đời sau từng lấy chiếc du thuyền gỗ hai tầng đậu bên bờ sông Cái Răng ở Cần Thơ để hình dung phần nào mức độ sang trọng của những ghe bầu mà Bạch công tử từng sử dụng. Theo giá thời nay, một chiếc như vậy có thể ngốn năm, sáu tỷ đồng. Trong khi đó, ghe bầu của Bạch công tử theo mô tả còn lớn hơn, đẹp hơn, và ông có tới ba, bốn chiếc. Chỉ riêng khoản phương tiện đi lại, số tiền quy ra thời nay đã lên đến hàng chục tỷ đồng. Điều đó cho thấy cả Hắc công tử lẫn Bạch công tử đều không tiêu tiền theo lối thông thường, mà luôn muốn tạo ra những món ăn chơi riêng, độc, lạ và đủ sức khiến đối thủ phải “nóng mũi”.
Không chỉ đua nhau bằng xe cộ, máy bay hay gánh hát, họ còn lao vào những cuộc cạnh tranh liên quan đến các người đẹp nổi tiếng nhất Nam Kỳ lúc bấy giờ. Một trong số đó là cô Ba Trà, tên thật Trần Ngọc Trà, người phụ nữ được giới đương thời phong là “Hoa hậu Đông Dương”, dù thật ra khi ấy chưa từng có cuộc thi nào mang tên như vậy. Cô là con thứ ba, quê ở Trà Vinh nên được gọi là cô Ba Trà. Sắc đẹp của cô nổi đến mức trở thành một hiện tượng của Sài Gòn và Nam Kỳ trong thập niên 1920, 1930.
Thân thế của cô Ba Trà cũng đầy màu sắc. Thân phụ bà tên là Trần Ngọc Trí, một người đàn ông kén vợ. Sinh trong một gia đình điền chủ hạng trung, có vài chục mẫu ruộng thuộc tỉnh Chợ Lớn (Long An sau này) đã được coi là hạng khá giả. Sau nhiều lần coi vợ, ông ta mới chấm được mẹ bà, quê ở làng Phước Khánh, huyện Cần Giuộc.
Khi bà lên 5 tuổi, một biến cố xảy đến cũng vì mẹ bà là người có sắc đẹp. Chỉ nghe phong phanh rằng mẹ bà ngoại tình, cha bà tức giận thổ huyết mà mất. Bà nội bà từ Cần Đước lên tới nơi, do quá đau buồn, khóc oà rồi đột quỵ và mất luôn. Hai quan tài song song, không còn cảnh thương tâm nào bằng. Chôn cất xong, người bác trai là người đại diện cho gia đình bên nội, kêu mẹ bà đến rồi tự tay lột cái mũ mấn đội để tang xuống và nói rằng lúc lâm chung, cha bà có nói không nhìn nhận bà là con ruột của ông. Từ đó, bác đuổi mấy mẹ con ra khỏi nhà bên chồng trong lúc mẹ mang thai em bà. Mẹ bà gạt nước mắt chịu đựng, tay bồng con gái, tay ôm bọc quần áo đi bộ về nương náu bên nhà bà ngoại. Sau biến cố đó, cô Ba Trà lên Sài Gòn, và từ đây nhan sắc của cô nhanh chóng trở thành đề tài bàn tán khắp nơi. Học giả Vương Hồng Sển từng ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên của cô, cho rằng cô đẹp mộc mạc mà khó ai sánh kịp. Dân gian còn thêu dệt rằng hình cô từng được in trên tem thư, giấy bạc hay nhãn hiệu hàng hóa. Dù trong đó có những chi tiết cần kiểm chứng thêm, nhưng một điều không thể phủ nhận là cô Ba Trà thực sự là biểu tượng sắc đẹp nổi bật một thời.
Hắc công tử và Bạch công tử đều xem việc chinh phục cô Ba Trà như một thước đo danh dự và đẳng cấp. Nghe đối thủ tặng cô món gì quý, người kia lập tức tìm món đắt hơn để tặng lại. Quần áo hàng hiệu, nữ trang quý, dây chuyền, nhẫn hột xoàn, nhà cửa, xe cộ… cứ thế đổ dồn về phía cô Ba Trà. Nhưng cuối cùng, dù cả hai ném vào đây rất nhiều tiền của, không ai thật sự giữ được trái tim người đẹp lâu dài.
Ngoài cô Ba Trà, một người phụ nữ khác cũng khiến cả hai công tử theo đuổi là cô Bảy Phùng Há, ngôi sao cải lương nổi tiếng bậc nhất thời ấy. Khác với cuộc chạy đua vì cô Ba Trà, lần này Bạch công tử là người thắng thế. Lý do không hẳn vì tiền, mà còn bởi ông mê nghệ thuật, hiểu sân khấu, lại là đồng hương Mỹ Tho với cô Bảy. Cuối cùng, Phùng Há về làm vợ Bạch công tử trong bảy năm và sinh được hai người con.
Dù vậy, cuộc hôn nhân ấy cũng không trọn vẹn, bởi lối sống ăn chơi của chồng khiến bà chịu nhiều buồn tủi. Nhiều người sau này cho rằng, nếu Hắc công tử là người thắng cuộc thì cuộc đời cô Bảy có lẽ cũng chẳng nhẹ nhàng hơn, vì xét cho cùng, cả hai công tử đều có điểm chung là tiêu tiền vô độ và khó hợp với một người phụ nữ nặng lòng với nghệ thuật như bà.
Trong vô số giai thoại về Hắc công tử và Bạch công tử, nổi tiếng nhất vẫn là những lần họ đốt tiền để phân cao thấp. Lần đầu tiên, Bạch công tử thực ra không chủ động tham gia, mà rơi vào thế bị Hắc công tử chơi một đòn quá đau.
Chuyện xảy ra khi gánh hát Huỳnh Kỳ mới thành lập về hát ở Bạc Liêu, ngay tại nhà Hắc công tử. Hôm đó, cả hai cùng ngồi xem hát ở hàng ghế đầu, xung quanh là quan chức và giới giàu có trong tỉnh. Bạch công tử vô tình làm rơi tờ giấy bạc mệnh giá năm đồng Đông Dương xuống sàn. Trong không gian tối lờ mờ của rạp hát, ông cúi xuống tìm mà không thấy. Hắc công tử hỏi đang làm gì, Bạch công tử thật thà nói mình làm rơi tờ giấy bạc. Nghe xong, Hắc công tử không nói thêm lời nào, rút ngay tờ giấy bạc một trăm đồng Đông Dương ra châm lửa đốt làm đuốc soi cho Bạch công tử tìm tờ năm đồng bị rơi. Một tờ một trăm đồng thời ấy là món tiền cực lớn, nên hành động đó ngay lập tức trở thành giai thoại khắp nơi. Đó vừa là cú biểu diễn đẳng cấp, vừa là một đòn làm đối thủ mất mặt ngay trước đông người, lại còn trước mặt cô Bảy Phùng Há.
Bị “ăn một vố” quá đau, Bạch công tử quyết tìm cách gỡ thể diện. Rồi ông nghĩ ra cuộc so tài còn nổi tiếng hơn: mỗi người dùng giấy bạc để đốt lửa nấu một nồi chè đậu xanh một ký, ai làm sôi trước thì thắng. Địa điểm là trước sân nhà Hắc công tử, người chứng kiến và được xem như trọng tài là cô Ba Trà, cũng là người mà cả hai đang theo đuổi. Cuộc thi nghe qua đã thấy điên rồ, nhưng lại phản ánh rất rõ tính khí của hai công tử: không chỉ giàu mà còn muốn thể hiện bản lĩnh, muốn đối thủ phải tâm phục khẩu phục.
Vì giấy bạc làm bằng loại giấy khó cháy và tỏa nhiệt không quá lớn, nên cuộc thi kéo dài gần một giờ đồng hồ. Hàng trăm người đứng xem trong sự hồi hộp, còn hai công tử thì mồ hôi nhễ nhại, liên tục đốt tiền để giữ lửa cho nồi chè. Hắc công tử chọn đốt những tờ có mệnh giá lớn, từ năm mươi đến một trăm đồng Đông Dương, nghĩ rằng tờ lớn sẽ cháy mạnh, cho lửa to hơn. Nhưng Bạch công tử vốn là người chủ động thách đấu, đã nghiên cứu trước. Ông biết loại giấy bạc mười đồng tuy mệnh giá nhỏ hơn nhưng lại cháy nhanh, đều và cho nhiệt tốt hơn trong cuộc thi kiểu này. Vì thế, ông chuẩn bị toàn tờ mười đồng để đốt. Kết quả là sau gần một giờ, Bạch công tử giành chiến thắng. Hắc công tử thua mà không hiểu vì sao, chỉ còn biết chữa thẹn bằng câu nói nổi tiếng: “Chú em nhỏ tuổi nên háo thắng, qua nhường cho chú em thắng đó.”
Theo tính toán của người sau, để nấu sôi được nồi chè một ký đậu xanh trong gần một giờ như vậy, mỗi bên phải đốt gần một trăm tờ giấy bạc. Nếu Hắc công tử chủ yếu dùng tờ năm mươi đồng trở lên, thì riêng phần ông đã thiêu mất ít nhất năm ngàn đồng Đông Dương, số tiền khi ấy có thể mua được ba ngàn giạ lúa, nếu quy đổi ra thời nay có thể tương đương hàng trăm triệu đồng. Ấy vậy mà cuối cùng ông vẫn thua. Chính vì mức độ hoang phí khủng khiếp ấy mà giai thoại đốt tiền nấu chè trở thành câu chuyện nổi tiếng bậc nhất về hai đại công tử Nam Kỳ.
Người đời sau còn thắc mắc một điều: trên giấy bạc Đông Dương ngày ấy có in rõ dòng cảnh báo rằng ai hủy hoại giấy bạc có thể bị xử phạt, vậy tại sao hai công tử lại công khai đốt tiền mà không hề bị ai làm khó? Câu trả lời thường được đưa ra rất đơn giản: bởi họ là những đại công tử quyền thế, số tiền bị đốt chỉ là phần rất nhỏ trong gia sản khổng lồ của họ, và quan trọng hơn, với vị thế cùng các mối quan hệ lúc bấy giờ, những chuyện như thế hoàn toàn có thể được dàn xếp ổn thỏa.
Nhìn lại, Hắc công tử và Bạch công tử không chỉ là hai cá nhân mê tiêu tiền, mà còn là biểu tượng của cả một lớp công tử Nam Kỳ trong bối cảnh giao thời giữa truyền thống và hiện đại, giữa lối sống bản địa và ảnh hưởng phương Tây. Một người chọn máy bay, ca nô, những cuộc vui chớp nhoáng và sự phô trương cá nhân. Người kia chọn gánh hát, du thuyền, sân khấu và một kiểu ăn chơi gắn với nghệ thuật, đám đông và danh tiếng. Họ khác nhau ở cách thể hiện, nhưng giống nhau ở chỗ đều xem tiền bạc như công cụ để khẳng định bản thân. Và cũng vì thế, từ những cuộc đua xa hoa ấy, cả hai cuối cùng đều đi vào lịch sử như những cái tên gắn liền với sự phóng túng, hào nhoáng, nổi đình nổi đám, nhưng cũng là lời nhắc về cái giá của một đời tiêu sản giữa thời vàng son.
__________________
Tien Tran gởi
