NƯỚC MỸ ĐÁNG SỢ Ở CHỖ NÀO?
Thì tất nhiên, tiền của, con người, súng đạn, công nghệ - tất cả thể hiện hết qua chiến dịch chớp nhoáng trong ba tiếng đồng hồ chính xác gần như tuyệt đối để câu lưu một nguyên thủ quốc gia với tổn thất nhân mạng và sự tàn phá tối thiểu. Nhưng điều thực sự khiến nước Mỹ đáng sợ không phải là những chuyện đó. Điều khiến nước Mỹ đáng sợ là: vị nguyên thủ đó đã được đưa ra xét xử công khai, cho bàn dân thiên hạ nhìn thấy hết, giữa thanh thiên bạch nhật, và không chỉ có vậy.
Thật ra thì phiên ngày 5-1 chưa phải là xét xử, mà mới là “arraignment” – tức thủ tục thông báo tội trạng trước tòa. Ở đó, ông Nicolás Maduro được:
(1) Thông báo quyền lợi và cáo trạng chống lại ông. Đầu tiên nhất là công tác xác nhận danh tính, được báo chí Mỹ tường thuật hết sức sinh động. Ngay ở phần này, ông Maduro đã lập tức tuyên bố mình vô tội, bị bắt cóc, và là tù nhân chiến tranh. Khi ông định nói tiếp, thì thẩm phán Alvin K. Hellerstein ngắt lời ông: “Tôi chỉ cần biết một chuyện thôi. Ông có phải là Nicolás Maduro Moros không?” “Tôi đúng là Nicolás Maduro Moros”, bị cáo đáp. Sau đó là phần đọc cáo trạng, với bốn tội danh. Tiếp theo là thông báo quyền lợi, cụ thể là nhắc nhở bị cáo về các quyền hiến định, bao gồm quyền có luật sư bào chữa.
(2) Bị cáo đưa ra câu trả lời với cáo trạng. Đây là phần quan trọng nhất của phiên “arraignment”. Thường bên bị có ba lựa chọn phổ biến: Không có tội (Not Guilty), Có tội (Guilty), và Không tranh cãi (No Contest / Nolo Contendere, cụ thể, bị cáo không thừa nhận tội nhưng chấp nhận hình phạt giống như người nhận tội. Điểm khác biệt là lời khai này thường không được dùng để chống lại họ trong các vụ kiện dân sự sau này). Ở đây, ông Maduro đã khẳng định mình không có tội với cả bốn cáo buộc.
(3) Quyết định về việc tại ngoại. Bên bị trong vụ này không xin tại ngoại, cũng là dễ hiểu, khi thân chủ của họ được áp giải tới tòa bằng trực thăng và xe hộ tống quân sự.
(4) Ấn định các mốc thời gian tiếp theo. Tòa thông báo ngày cho các phiên tiếp theo, tức điều trần trước xét xử (Pre-trial hearing) hoặc ngày bắt đầu xét xử chính thức.
Tất cả tuân theo đúng trình tự một vụ án hình sự như mọi vụ hình sự khác ở Mỹ, bởi đây là “a court of law”, một tòa án của luật pháp, chứ không phải “the court of Trump”, phiên tòa hay triều đình của Trump. Từ ngữ là quan trọng. “Court” có từ nguyên tiếng Latin là cohors (hoặc cortem) nghĩa là “một khoảng sân có rào”, dần dần nó trở thành triều đình - “royal court”, và “court of law”, với nghĩa “tòa án”, là phái sinh mới hơn, vì các vụ án ngày xưa được mang ra xét xử với vị thẩm phán cuối cùng chính là nhà vua, người đứng đầu triều đình. (Điều này đúng với cả phương Đông, trong khái niệm “đình nghị” – “廷議”, mang ra triều đình bàn bạc và phán quyết, gồm cả từ nguyên, “đình” là một danh từ chỉ một nơi cụ thể, dần biến nghĩa thành “triều đình”). Nếu là ở “the court of X”, dù X có là ai, thì ông Maduro hết cửa. Nhưng vì đây là “a court of law”, nên chưa có gì là chắc chắn cả.
Ngay cả nếu phiên tòa ở Manhattan chỉ là một màn kịch (như nhiều người vẫn tưởng, dù có rất nhiều lý do để tin rằng không phải như vậy, sẽ nói dưới đây), thì màn kịch đó đã được đóng hoàn hảo.
Ở một tòa án của luật pháp, luật pháp ngự trị, tối cao và duy nhất, công lý là đích đến cuối cùng, tất cả những điều khác, bao gồm cả những gì (có thể là) từ thiêng liêng cao quý như lòng ái quốc hay các giá trị dân chủ đến những thứ tầm thường như dầu mỏ và tiền có được nhờ buôn ma túy, đều phải bị bỏ lại ngoài cửa trụ sở tòa án. Có thể so sánh nó với một căn phòng vô trùng để phẫu thuật trong một bệnh viện vốn nhung nhúc vi trùng. Nước Mỹ đáng sợ, và hấp dẫn với cả thế giới, chính là ở khả năng tạo ra được căn phòng (gần giống nhất) với tình trạng vô trùng này. Đối diện với thẩm phán Hellerstein, ông Maduro – với tất cả tiếng tăm của ông trong mắt nước Mỹ: nhà độc tài, kẻ buôn ma túy, tay đồ tể, kẻ thù của quốc gia, vân vân và vân vân – vẫn sẽ là một bị cáo được đảm bảo đối xử bình đẳng, như mọi bị cáo khác, trong một phiên tòa công khai, đúng trình tự tố tụng, và dựa trên luật pháp. Ông sẽ có đầy đủ mọi quyền lợi của một bị cáo mà ở chính nước ông, nhiều công dân khó lòng có được. Mọi cân nhắc khác ngoài tội trạng của bị cáo và luật pháp – thẩm phán sẽ không đoái hoài. Ông Maduro có hô ba lần “đả đảo đế quốc Mỹ”, hay có hát thuộc lòng bài “O say, can you see, by the dawn's early light”, thì tội trạng của ông vẫn sẽ phải dựa vào bằng chứng và luật pháp, và chỉ bằng chứng và luật pháp mà thôi. Còn có màn quảng bá nào cho giá trị Mỹ rực rỡ hơn thế?
Đáng sợ hơn nữa, màn quảng bá đó, trong khi đầy những khiếm khuyết về kịch bản và bố cục, đầy những trò đạo đức giả mà rất nhiều người sẽ vội vàng chỉ ra, vẫn chứa đựng không ít yếu tố chân thật. Cuộc tập kích vào dinh thự ông Maduro của Mỹ nói chung có thể được khen ngợi vì năng lực và được thông cảm vì quan điểm chính trị cá nhân, nhưng nói rằng nó là quang minh chính đại và phục vụ công lý thì khó mà thuyết phục. Nhưng ở tòa án Manhattan, nước Mỹ đang muốn chứng minh rằng họ không chỉ giỏi giang và giàu có, mà còn đúng đắn, còn quang minh chính đại, còn là đất nước của công lý và lương tri đích thực (kể cả trong thời Trump) nữa, thậm chí có thể bằng cả một phán quyết trả tự do cho ông Maduro – một lần nữa, điều này không ngạc nhiên như bạn tưởng: Còn gì có thể quảng bá cho giá trị Mỹ tốt hơn một phán quyết như vậy?
Điều đó có cơ sở không? Chính quyền Mỹ đã tiêu tốn tiền trăm triệu đô, đã lên một kế hoạch chân tơ kẽ tóc, đã huy động lực lượng, bao gồm nhiều tàu sân bay, suốt mấy năm trời để đưa được Maduro về Mỹ, chỉ để rồi thả ông ta ra sao?
Khả năng đó quả nhiên là rất thấp, nhưng nó vẫn tồn tại chừng nào phiên tòa xử ông Maduro vẫn còn là một “court of law”, mà đại diện sẽ là hai người.
Trước hết, hãy nói về thẩm phán Hellerstein. Alvin Hellerstein hiện đã 93 tuổi (ông sinh năm 1933), là nhân vật kỳ cựu tại Tòa án Quận Nam New York (SDNY) — nơi thường được gọi là “Tòa án Mẹ” vì tầm ảnh hưởng khác thường của nó trong lịch sử tư pháp Mỹ. Được Tổng thống Bill Clinton bổ nhiệm từ năm 1998, Hellerstein có gần 30 năm trên băng ghế dự thẩm và 70 năm làm việc trong ngành luật. (Ngay cả Trump — người từng bị ông bác bỏ nhiều yêu cầu pháp lý — cũng nhận xét rằng Hellerstein “rất được tôn trọng”). Nổi tiếng giữ vững độc lập tư pháp, không chịu áp lực từ các cơ quan hành pháp, ông từng ra lệnh buộc chính phủ Mỹ phải công bố hình ảnh bạo hành tù nhân tại Iraq và Afghanistan vào năm 2015. Ông cũng nổi tiếng là người điều hành tòa án một cách kỷ luật, tập trung thẳng vào vấn đề pháp lý và không chấp nhận các hành vi “diễn kịch” hay lảng tránh tại tòa. (Ông đã ngắt lời Maduro ngay khi bị cáo có dấu hiệu muốn diễn thuyết chính trị). Hết sức tỉ mỉ, Hellerstein có phương pháp làm việc khoa học, chú trọng cực kỳ chi tiết vào các bằng chứng và thủ tục tố tụng để đảm bảo hồ sơ vụ án chặt chẽ. Công tâm và thấu cảm, trong các vụ kiện liên quan đến vụ 11 tháng 9, ông đã ngồi lắng nghe suốt nhiều tiếng đồng hồ các nạn nhân kể lể đủ thứ chuyện, rồi bác bỏ các đề nghị bồi thường từ chính quyền Thành phố New York mà ông cho là quá thấp. Tóm lại, đó là một con người với uy tín cá nhân, kinh nghiệm, năng lực, và nhất là sự chính trực, đã được thử thách qua vô vàn biến cố, để có thể chắc chắn rằng ngay cả nhà nước Mỹ, với tất cả bộ máy và nguồn lực vô biên của nó, cũng không thể uy hiếp được ông. Nếu trên toàn nước Mỹ, có ai đủ liêm chính, kiến thức pháp lý, và năng lực giữ cho tòa án được công bình ngay cả trong những vụ án chính trị nặng nề và nhạy cảm nhất, thì Hellerstein chắc chắn phải ở trong tốp đầu danh sách (sẽ rất ngắn) này.
Nhân vật thứ hai, là luật sư của bên bị, Barry Pollack. Ông còn vô danh với nhiều người, nhưng để giới thiệu về ông thì chỉ cần nói một câu: Pollack là luật sư bào chữa đã giúp Julian Assange không phải ngồi tù một ngày nào ở Mỹ. Tháng 6-2024, sau 14 năm đối đầu pháp lý vì đã tung hê đủ thứ bí mật của ngoại giao và chính trị Mỹ lên mạng qua trang WikiLeaks (bảy năm tị nạn tại đại sứ quán Ecuador và hơn năm năm bị giam tại nhà tù Belmarsh ở Anh), ông Assange đạt được thỏa thuận với Bộ Tư pháp Mỹ, cùng luật sư của ông. Sự kiện này cũng đã phải cần đến những giàn xếp pháp lý hết sức phức tạp nhằm đảm bảo đúng yêu cầu “thượng tôn pháp luật”. Thay vì đến lục địa Mỹ, ông Assange hầu tòa tại đảo Saipan – vùng lãnh thổ của Mỹ ở Thái Bình Dương – và nhận một tội danh duy nhất là vi phạm Đạo luật Gián điệp. Thẩm phán tuyên ông 62 tháng tù, đúng bằng khoảng thời gian ông bị giam giữ tại Anh. Ông không phải ngồi tù thêm một ngày nào tại Mỹ và lên máy bay trở về quê hương Úc ngay sau phiên tòa.
Assange tất nhiên nhận hết mọi hào quang của vụ đó, và không mấy người biết tới cái tên Barry Pollack, cho tới nay. Sau khi Assange được trả tự do vào tháng 6-2024, Pollack đã phát biểu tại Saipan rằng ông coi việc Bộ Tư pháp Mỹ truy tố một nhà báo theo Đạo luật Gián điệp là “hình sự hóa báo chí”. Ông nhấn mạnh qua vụ này, chính phủ Mỹ đã tạo ra “hiệu ứng làm tê liệt” với báo chí toàn cầu theo nghĩa tự do của mọi nhà báo và những người hỗ trợ họ (bao gồm các luật sư như ông) bị đe dọa bởi tiền lệ pháp lý này. Pollack mô tả quá trình 14 năm theo đuổi vụ kiện với thân chủ Assange là vô cùng gian khổ. Đại diện cho Assange trước chính phủ quyền lực nhất thế giới, một thân chủ phải đối mặt nguy cơ bị kết án tới 175 năm tù và bị nhiều giới coi là kẻ thù của quốc gia, Pollack đã cực kỳ kiên định, và ngay cả khi đó, không một ai lại đi nghi ngờ lòng ái quốc của vị luật sư có vẻ ngoài bình dị, thậm chí tẻ nhạt và lặng lẽ này.
Còn bây giờ, ông sẽ đại diện cho ông Maduro, trong một phiên tòa chắc chắn còn khó khăn hơn nhiều so với vụ Assange. Trả lời báo chí trong buổi thông báo tội trạng, Pollack nói ông dự đoán sẽ nổ ra tranh cãi pháp lý sâu rộng về điều mà ông gọi là “vụ bắt cóc quân sự” với Maduro, dấu hiệu cho thấy bên bào chữa sẽ lập luận rằng chiến dịch của chính quyền Trump, với tất cả những kỳ công của nó, là bất hợp pháp. Pollack cũng có thể tuyên bố rằng Maduro được hưởng quyền miễn trừ với các cáo buộc hình sự với tư cách nguyên thủ quốc gia. “Hoa Kỳ có quan điểm bất thường về phạm vi quyền hạn toàn cầu của mình”, Pollack nói với trang web pháp lý Lawdragon trong một cuộc phỏng vấn năm ngoái về vụ án Assange.
Cả hai lập luận đều đối mặt với những rào cản pháp lý. Hoa Kỳ đã không công nhận Maduro là nhà lãnh đạo của Venezuela kể từ năm 2019, sau cuộc bầu cử mà Hoa Kỳ coi là gian lận. Các tòa án Hoa Kỳ cũng thường không bác bỏ các vụ truy tố dựa trên khiếu nại rằng bị cáo bị đưa đến Hoa Kỳ bất hợp pháp.
Những tranh cãi về pháp lý do đó sẽ rất gay go và phức tạp, nhưng sức mạnh Mỹ, ngoài tiền tài tính mạng, nằm ở chỗ – thậm chí có thể lập luận rằng đó là chỗ quan trọng nhất – những tranh cãi đó vẫn có thể diễn ra, một cách công khai, và ít nhiều sòng phẳng.
Một phiên tòa bỏ túi, một phiên xử kín, một tay thẩm phán cực hữu đã được chọn trước, một gã luật sư gà mờ mới ra trường – nước Mỹ đã tước bỏ của Maduro tất cả những điều đó. Phiên tòa, với chính quyền chuyên chính và khó đoán nhất trong lịch sử Mỹ hiện đại là bên nguyên đơn, đã được trao cho thẩm phán công tâm nhất với Maduro và vị luật sư với khả năng thắng kiện cao nhất cho vị tổng thống bị bắt cóc. Những con người cá nhân đấy, những người Mỹ 100%, chứ không phải Maduro, được giao phó cho trách nhiệm đối mặt với nhà nước Mỹ.
Tất nhiên, tất cả những chuyện này có thể đều sẽ vô nghĩa trên thực tế. Maduro, nếu có được thả ra, cũng có cơ sẽ phải mất nhiều năm nữa, và khó lòng trở lại làm tổng thống Venezuela. Đó có thể là tất cả những gì mà chính quyền Trump muốn, cùng với cơ hội mới cho các tập đoàn dầu mỏ Mỹ. Còn màn trình diễn ở tòa án, chỉ là để chứng tỏ nước Mỹ vẫn có lương tri – thứ đặc biệt xa xỉ ở thời đại này. Nhưng chính nhờ những người như Hellerstein và Pollack, chứ không phải Trump hay Obama, mà nước Mỹ vẫn có thể tự nhận là họ có lương tri, ngay cả khi họ có bắt cóc một tổng thống nước ngoài đang tại vị. Mà trong khi sức mạnh luôn có thể khuất phục người khác, chỉ lương tri mới có thể khiến họ đi theo mình.
Jan 2026
Hải Minh
______________
Tien Tran gởi
