SỰ BẤT ĐỘNG VĨ ĐẠI
Một lần, Đề Bà Đạt Đa cố ý chờ đến lúc Phật đi qua khe núi và lăn đá xuống để giết Phật, nhưng tảng đá chỉ làm trầy chân Phật. Các tỳ kheo đưa Phật về khu vườn xoài của ông Kỳ Bà (Jivaka) – một ngự y của vua A Xà Thế để nhờ ông chữa trị cho Phật. Y sĩ Kỳ Bà đắp cho Phật loại thuốc do chính tay ông bào chế và hẹn đến chiều sẽ trở lại thay băng vì ông phải vào thành chữa cho những người bệnh quá nặng. Đến khi ông chữa trị xong cho những người bệnh ở trong thành thì trời đã sụp tối và cửa thành đã đóng, không ai được phép ra vào. Thời đó, vua A Xà Thế vì giết cha nên trong tâm luôn lo sợ bị tạo phản đã ra lệnh giới nghiêm giờ giấc rất chặt chẽ. Ngự y Kỳ Bà đành day dứt quay về. Nơi tinh xá ngoài vườn xoài, Đức Phật biết đã đến giờ thay băng nên bảo ngài Ananda hãy thay băng. Lúc ngài Ananda tháo băng ra thì vết thương đã biến mất, không như vết thương của người thường phải đợi cả tháng mới lành.
Sáng hôm sau, ông Kỳ Bà đứng đợi từ rất sớm. Trời mới hửng sáng, gà vừa gáy, những người lính canh bắt đầu quan sát kỹ lưỡng xem có ai đáng ngờ không, thấy an toàn rồi họ mới cho phép mở cửa thành dần dần. Kẻng vừa gõ báo hiệu giờ mở cửa, ông Kỳ Bà chạy như bay ra ngoài về đến khu rừng xoài. Tới nơi ông mới hay rằng chiều hôm qua Phật đã bảo ngài Ananda tháo băng và vết thương đã khỏi, không còn dấu vết gì nữa. Theo bổn phận và lương tâm của người thầy thuốc, ông hỏi Phật:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có đau đớn không?”.
Đức Phật trả lời bằng một bài kệ rất thơ mộng.
Cứu cánh đã thành tựu
Phiền não đã tiêu tan
Buộc ràng đã chấm dứt
Khổ đau nào tồn tại.
Nghĩa là với một bậc đã đắc đạo thì không còn gì có thể mang lại phiền não nữa, kể cả những vết thương trên cơ thể.
Việc Đề Bà Đạt Đa lăn đá hại Phật là một sự kiện lịch sử lớn trong cuộc đời giáo hóa của Đức Phật, rất nhiều sử sách đã ghi lại, chúng ta cũng được nghe nhiều lần. Đề Bà Đạt Đa là em họ của Phật, cũng là em ruột của công nương Da Du Đà La, nhưng Đề Bà Đạt Đa luôn luôn muốn giết hại Phật để giành lấy vị trí của một bậc đạo sư, bậc giáo chủ.
Đầu tiên, ông cũng xuất gia tu hành, tâm linh có khai mở chút ít. Nhưng thẳm sâu trong tâm luôn tồn tại sự đố kỵ quái đản, lúc nào cũng muốn hơn Phật, muốn nắm quyền lực, muốn được tôn vinh. Thấy Phật được bao người kính lễ, ông bứt rứt không chịu nổi đứng ngồi không yên. Tâm lý quái lạ này chẳng biết đã theo ông từ kiếp nào. Bao nhiêu lời Phật dạy, bao nhiêu khuyên bảo của huynh đệ như nước đổ lá môn, như gió thoảng qua tai, không hề đi vào lòng ông dù chỉ một chút. Chỉ một ý niệm cứ âm ỷ, nung nấu, thét gào trong lòng ông là phải ghét Phật, phải hơn Phật và đoạt lấy mọi vinh quang xung quanh Người.
Thấy thế lực của Phật quá lớn, ông cũng tìm cách thiết lập thế lực cho mình. Ông biết rằng vua Bình Sa Vương (Bimbisāra) là đệ tử Phật và đã bảo trợ để Phật giáo hóa trong vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha). Sau này, vua bị con ruột của mình là A Xà Thế (Ajatashatru) giết chết.
Đề Bà Đạt Đa bắt đầu bày mưu tính kế và quyết định chọn A Xà Thế (Ajatashatru) - một thái tử của vua Bình Sa làm quân cờ cho mình. Ông kết thân với vua A Xà Thế, tìm cách đâm thọc và mong rằng A Xà Thế sẽ căm ghét Phật, tiếp đến ông sẽ mượn thế lực của A Xà Thế mà đuổi Phật ra khỏi biên giới. Ông cũng hy vọng sẽ được A Xà Thế tôn vinh, quy y với ông, đưa ông lên vị trí rất cao. Ông thường vào cung điện biểu diễn thần thông để A Xà Thế tin tưởng, tôn thờ. Sau đó ông xúi giục A Xà Thế giết cha bởi lúc đó A Xà Thế đang khát khao chờ đợi được lên ngôi vua. Sau khi giết cha để giành lấy vương quyền, A Xà Thế dành mọi sự ủng hộ cho Đề Bà Đạt Đa. Được sự hậu thuẫn của vua A Xà Thế, ông nắm trong tay quyền lực và bắt đầu tấn công Phật. Ông cho người đi công kích Phật khắp nơi, kể cả các quần thần cũng được lệnh phải dèm pha nói xấu Phật, ai không tin sẽ bị trừng phạt ngay lập tức. Ông bao vây, gây dư luận chống Phật khắp nơi, tìm đủ mọi cách phá hoại Đức Phật, phá hoại Tăng đoàn, thậm chí muốn giết Phật.
Với sự kiện lịch sử để xuất hiện bài Pháp Cú trên - Đề Bà Đạt Đa lăn đá giết Phật, là Phật biết nhưng Người lặng lẽ trả một cái nghiệp quá khứ. Người rất thanh thản, không oán giận vì Người biết đó là oan trái đời xưa. Sự bất động vĩ đại này chỉ có được nơi một bậc đã hoàn toàn giải thoát khỏi mọi buộc ràng. Thái độ của một bậc Thánh là vậy. Các vị nhận trả nghiệp, tuyệt đối bình an dù cơ thể bị tổn hại, danh dự bị xúc phạm mà sự bình an này là điều rất tự nhiên, không cần phải kiềm chế.
Cũng không cần phải đợi đến khi đắc đạo cao siêu như Phật, những ai tu thiền được kết quả bước đầu ở Chánh niệm hay ở Sơ thiền thì cũng phần nào được sự thanh thản như hư vô. Chúng ta có đứng trước mặt mắng chửi thậm tệ, các vị cũng không giận. Cái không giận này là điều rất nhẹ nhàng tự nhiên, không phải do kiềm chế.
Khác với một phàm phu, hễ nổi giận rồi là phải loay hoay kiềm chế để không bộc lộ thành cử chỉ, lời nói thô tháo. Một bậc đạt được thiền định thì không giận mà cũng không phải kiềm chế. Và Đức Phật thì còn siêu việt hơn cả vạn lần.
Tâm của Phật vô hình nhưng kỳ tuyệt
Các tầng trời đều tha thiết cúi đầu
Các tinh cầu đều xoay chuyển theo nhau
Quanh một đấng nhiệm mầu vô thượng giác.
Tâm của Phật là cả trời an lạc
Ngoài khổ đau, ngoài đen bạc đổi thay
Khỏi luân hồi, xa oan trái trả vay
Niềm giải thoát tung bay cùng vũ trụ...
ST
___________________
Hoang Nguyen gởi
