Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh


 
TÔN GIẢ A NHÃ KIỀU TRẦN NHƯ
ĐỆ NHẤT PHÁP LẠP

III. BẬC THÁNH TĂNG CHỨNG QUẢ VỊ A LA HÁN ĐẦU TIÊN

Ngài Kiều Trần Như cùng bốn huynh đệ đến cư trú tại một khu rừng gần bờ sông Hằng, cách thành phố Ba La Nại (Banares) của đất nước Ma Kiệt Đà (Magadha) không xa. Nơi đây ngát một màu xanh, những tàng cây um tùm che tán lá xanh thẫm phía trên, dưới chân là những thảm cỏ non màu xanh mơn mởn, rất nhiều đàn hươu nai tìm về sinh sống. Khung cảnh thật thanh bình, người ta gọi đó là vườn Lộc Uyển (Sarnath).

Sau khi rời bỏ Sa môn Gotama, Ngài Kiều Trần Như sống trong những ngày tháng ray rứt và khổ đau không ngớt. Mọi thứ dường như đều trở nên vô vị, cuộc sống chẳng còn ý nghĩa. Ngài cảm giác rằng hình ảnh Sa môn Gotama chói ngời đã in đậm trong tâm trí, cao quý hơn tất cả mọi điều trên đời. Trong những giấc mơ hằng đêm, Ngài thường ao ước: Giá như Sa môn Gotama đừng rời bỏ khổ hạnh hoặc giá như bây giờ Sa môn Gotama quay trở lại sống khắc khổ, Ngài sẽ lại được kính ngưỡng Người, được hầu hạ, được đến bên quỳ chắp tay hỏi han, chăm nom giấc ngủ của Người như xưa...

Trong khi đó, Sa môn Gotama đã tìm ra con đường Trung Đạo cao thượng, sau bốn mươi chín ngày đêm ngồi nhập định dưới cội cây Bồ Đề, Người đắc thành Chánh Đẳng Chánh Giác danh hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, viên mãn quả vị giác ngộ tột cùng, trở thành vị Thầy tôn quý nhất trong tam giới.

Một buổi sáng trong mát nơi vườn Nai, khi năm huynh đệ đang ngồi bên nhau thì Đức Phật hiện ra phía đằng xa, hào quang từ nơi Người tỏa ra dịu nhẹ. Các vị ngỡ ngàng, có quá nhiều cảm xúc lẫn lộn đan xen chợt dâng lên xâm chiếm tâm hồn. Cả năm vị đều ngây người không nói nên lời. Đức Phật vẫn đứng lặng im, Người quấn một chiếc y nâu vàng giản dị, tay ôm bình bát khất thực giống như ngày nào nhưng toàn thân Người toát ra vẻ siêu phàm bao trùm không gian. Những tàng cây, những bông hoa rừng dường như đang tỏa hương, hươu nai chim thú đều rung cảm trước vẻ đẹp sáng ngời ấy, cả những ngọn cỏ dưới chân Người cũng đang lấp lánh. Không thể kìm lòng được nữa, cả năm huynh đệ vội chạy ùa đến bên Đức Phật. Nghẹn ngào. Người đến cầm bát, người nắm tay, người vịn tấm y, người bật khóc thành tiếng, rồi năm vị nhanh chóng dọn một sàng tọa bằng cỏ tranh để Đức Phật ngồi. Sau khi bưng nước rửa chân cho Đức Phật, năm vị ngồi xung quanh như muốn nghe Người kể chuyện.

Này các Tỳ kheo, Như Lai đã là bậc A La Hán giác ngộ. Như Lai đã giải thoát, đã dập tắt mọi ái thủ, đã chiến thắng vô minh, đã dừng lại luân hồi.

Này các Tỳ kheo, khổ hạnh là lối sống ép xác cực đoan vô ích, sẽ không bao giờ đưa đến giác ngộ. Chẳng phải chính các ông đã từng nói rằng Như Lai đã thực hành khổ hạnh mà trước kia chưa bao giờ có một ai làm nổi. Và thật sự sau này cũng không ai có thể làm nổi. Như Lai đã đến ranh giới của cái chết vì khổ hạnh tột cùng mà sự giác ngộ vẫn không xuất hiện. Này các Tỳ kheo, có một con đường ở giữa tránh khỏi hai cực đoan sai lầm: một bên là hưởng thụ ngũ dục, một bên là cực đoan ép xác.

Khi nghe Đức Phật giảng như vậy, mọi suy nghĩ hỗn độn ray rứt trong lòng các vị trước giờ đều như tan biến lập tức, chỉ còn lại đó là một niềm thương kính vô cùng tuôn trào. Rồi Đức Phật tiếp tục giảng về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, luật Nhân Quả, Niết Bàn. Ngay khi Người vừa dừng lời thì Ngài Kiều Trần Như bừng ngộ, gương mặt rạng ngời, nội tâm khai mở. Ngài bỗng bật lên thành lời: “Phàm cái gì có sinh, ắt phải có diệt!”. Rồi liền quỳ xuống chắp tay:

Bạch Thế Tôn, hôm nay con đã thấy Pháp. Tâm con đã khai mở, con trọn niềm tin kính nơi Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, con trọn niềm tin kính nơi giáo Pháp của Thế Tôn là con đường thoát khổ cho chúng sinh, con trọn niềm tin kính nơi những ai làm đệ tử chân chính của Người sẽ được giác ngộ. Xin Thế Tôn chứng minh cho con, vì si mê nên đã hiểu lầm Người. Xin Thế Tôn chấp nhận con là đệ tử xuất gia của Người!
Ngài Kiều Trần Như quỳ lễ Đức Phật xong ba lễ thì râu tóc biến mất. Ngài đã chứng đắc Thánh quả Tu Đà Hoàn, quả vị đầu tiên trong tứ quả Thánh giác ngộ cao quý. Trên trời vang lên tiếng nhạc du dương, chư Thiên cất lời ca ngợi: “Đã lâu lắm rồi hôm nay loài người và chư Thiên mới được nghe diệu Pháp của chư Phật. Hạnh phúc thay loài người và chư Thiên. Diễm phúc thay cho Sarnath, khu rừng Nai xinh đẹp, nơi mà Thế Tôn lần đầu chuyển bánh xe chánh Pháp”.

Chỉ hai hôm sau, vào buổi chiều tà trong mát, sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng bài kinh Vô Ngã Tướng, Tôn giả chứng Tứ quả A La Hán. Bốn huynh đệ còn lại cũng lần lượt chứng quả sau đó. Vậy là từ đây, ngoài Đức Phật là bậc Đại Giác Ngộ, trên thế gian đã có thêm năm vị A La Hán. Vậy là từ đây, cuộc đời có thêm ngôi Tăng Bảo. Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng đã hoàn thiện, là nơi chốn để chúng sinh nương tựa và trọn đời quy ngưỡng.


IV. ĐỆ NHẤT PHÁP LẠP

Cách đây rất lâu xa, vào thời Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipassi) hiện thân giáo hóa, tiền kiếp của Tôn giả Kiều Trần Như là một vị gia chủ tên Mahakala. Một lần đi nghe Pháp về, Ngài đi ngang qua cánh đồng. Lúa bây giờ mới đang ngậm sữa, những bông lúa mơn mởn đã bắt đầu trĩu xuống nhưng vỏ còn mang màu xanh vàng non. Cả cánh đồng dậy lên mùi nhựa sống thoang thoảng, hòa cùng với mùi đất, mùi hương hoa cỏ đồng nội vừa ngọt ngào, vừa thanh khiết. Gia chủ Mahakala vô cùng hoan hỷ, liền phát tâm cúng dường Đức Phật và chư Tăng những bát cháo gạo sữa. Ngài chỉ có một mảnh ruộng nhỏ chung với em trai. Người em không đồng ý, nhưng vì niềm tin kính cứ thôi thúc nên vị gia chủ liền chia đôi ruộng rồi tự mình thu hoạch.

Lúa được gặt khi sương vẫn còn đọng trên lá, những hạt gạo xanh sau khi phơi nắng sớm sẽ được rang khô, rồi xay nghiền để cho ra những dòng sữa trắng ngần, thơm ngọt. Ngài vừa làm vừa cẩn thận để không mất đi hương vị của lúa non. Cuối cùng, bát cháo sữa được dâng lên vô cùng tuyệt hảo là kết tinh của biết bao nắng, gió, đất, sương đêm... và tấm lòng thành kính của vị gia chủ. Sau khi làm xong công đức ấy, gia chủ Mahakala đạt được nhiều phước báu.

Trong nhiều kiếp, Ngài cũng luôn cúng dường những thành quả đầu tiên, tinh túy nhất mà mình có được lên Tam Bảo. Trước đó hàng triệu năm, chính Ngài đã cúng dường bữa ăn đầu tiên cho Đức Phật Thắng Liên Hoa (Padumuttara) khi Người đắc thành đạo quả vô thượng. Khi nhân duyên trọn đủ, trong đời sống cuối cùng, Ngài được sinh ra trong thời kỳ của Đức Phật Thích Ca, trở thành vị Tỳ kheo đầu tiên và cũng là vị đầu tiên chứng đắc Thánh quả A La Hán trong Tăng đoàn của Người. Ngài được Đức Phật ngợi khen với danh hiệu: “Đệ nhất Pháp Lạp”.

Cuộc đời của Ngài là những bước chân âm thầm phía sau phụng sự Đức Bổn Sư. Ngài đã đặt trọn niềm tin kính, xuất gia theo Thế Tôn từ khi Người còn là một vị Sa môn vân du khắp nơi tầm cầu chân lý. Ngài trân quý đón nhận giáo Pháp của Thế Tôn và là vị đầu tiên thấu đạt tột cùng chân lý Tứ Diệu Đế. Những trọng trách mà Thế Tôn giao phó, Ngài hết lòng gánh vác, coi đó là một sứ mệnh thiêng liêng cao cả nhất. Ngài chăm nom Thánh tích vườn Lộc Uyển, biến nơi ấy thành nơi tu học cho đông đảo chúng Tỳ kheo. Ngài thay Thế Tôn thọ lễ xuất gia cho các cư sĩ, những vị đã phát tâm sống đời phạm hạnh. Trong các buổi thuyết giảng, Thế Tôn đằng trước uy nghi ngự trên pháp tòa, thì chỗ ngồi phía sau lưng, gần với Thế Tôn nhất luôn dành cho Tôn giả Kiều Trần Như. Dù cho tháng năm đổi dời, Ngài vẫn luôn ở bên Đức Bổn Sư như thế, hi sinh như thế, trung thành như thế.

Đối với tất cả chư Tăng, Ngài là bậc cao niên trưởng thượng khả kính. Uy đức sáng chói của Ngài sẽ song hành với Tăng đoàn hùng mạnh. Hình ảnh của Ngài là biểu tượng cho Tăng chúng noi theo. Một ngày, khi chánh Pháp của Đức Như Lai ngự trị trong cùng khắp Pháp giới, khi Tăng đoàn trở thành ngôi nhà chung của tất cả tinh cầu, thì chúng sinh sẽ mãi ngưỡng vọng về Ngài với tấm lòng thành kính nhất, vị Thánh Tăng “Đệ nhất Pháp Lạp”.

Trích Thánh Độ Mệnh TÔN GIẢ A NHÃ KIỀU TRẦN NHƯ 


_________________


Hoang Nguyen gởi