TÔN GIẢ NI ĐÀM MA ĐỀ NA ĐỆ NHẤT THUYẾT PHÁP NI ĐOÀN
II. XUẤT GIA
Một hôm, trưởng giả Visakha đến tinh xá Trúc Lâm nghe Pháp và chứng được Tam quả A Na Hàm. Khi trở về, phu nhân Đàm Ma Đề Na niềm nở ra đón. Thế nhưng, Ngài không đỡ lấy tay phu nhân như thường ngày, chỉ lặng lẽ bước lên lầu rồi tìm một nơi an tĩnh tọa thiền. Tới giờ cơm, Ngài cũng không nói một lời. Phu nhân lấy làm lạ, liền đến bên chồng ân cần thưa hỏi:
- Thưa phu quân, hôm nay Ngài không nói chuyện, phải chăng thiếp đã làm điều gì sai khiến Ngài phiền lòng?
Vị trưởng giả nhẹ nhàng đáp:
- Này Đàm Ma Đề Na, phu nhân là người phụ nữ đoan chính, đức hạnh, luôn chu đáo vẹn toàn mọi việc. Ta vẫn luôn thương mến và quý trọng phu nhân vì điều đó. Chẳng có gì ở phu nhân khiến ta phiền lòng cả. Nhưng này Đàm Ma Đề Na, có lẽ từ giờ chúng ta chỉ nên sống như hai người bạn.
Phu nhân Đàm Ma Đề Na ngạc nhiên vô cùng. Ngài nghẹn ngào không nói nên lời. Nhưng ngắm nhìn chồng, Ngài thấy gương mặt của phu quân vẫn bình thản điềm đạm, ánh mắt vẫn hiền hòa chỉ có điều không còn trìu mến như trước nữa.
- Thưa phu quân, phải chăng đã có chuyện gì… xin Ngài hãy bày tỏ ...
Ngài Visakha ôn tồn giải đáp:
- Này phu nhân, sáng nay khi được nghe Đức Thế Tôn giảng Pháp, ta đã thực sự bừng tỉnh. Ta trân trọng tình nghĩa vợ chồng bấy lâu, cũng xin cảm ơn phu nhân bao năm nay vẫn cùng ta chia sẻ. Nhưng giờ, ta xin phép phu nhân được kết thúc mối duyên này. Bởi giờ đây tâm ta chỉ còn lại sự thanh lương, trong sáng. Ta không còn lưu luyến tình cảm vợ chồng hay bất kỳ luyến ái thế gian nào nữa.
- Vậy . vậy… thiếp phải làm sao? – Phu nhân ấp úng, rơm rớm nước mắt.
- Này phu nhân, tài sản của gia đình mấy trăm triệu đồng vàng, ta để lại cho phu nhân tùy nghi sử dụng. Phu nhân có thể trở về nhà cha mẹ thân sinh của mình hoặc có thể đi đâu, làm gì mà phu nhân cho là thích hợp.
Trong lúc Ngài Visakha nói, Ngài Đàm Ma Đề Na chợt nhớ đến hình ảnh của Ni đoàn, trang nghiêm, từ ái, và thanh tịnh. Bỗng nhiên trong lòng Ngài dâng tràn niềm xúc động khôn tả. Duyên xưa đã đến, phu nhân thấy mình như có một sức mạnh kỳ lạ thúc giục. Ngài cất lời nhẹ nhàng nhưng dứt khoát:
- Thưa phu quân, thiếp cảm ơn Ngài đã nghĩ cho thiếp. Nhưng thiếp cũng xin không thừa hưởng gia tài ấy. Giờ đây, thiếp đã thấu hiểu lời dạy của Đức Thế Tôn. Thiếp xin được xuất gia. Xin Ngài hãy đồng ý.
Trưởng giả Visakha vô cùng bất ngờ, nhưng nhìn ánh mắt kiên định của phu nhân, Ngài mừng rỡ và lập tức đồng ý:
- Thật là phúc duyên may mắn khi cả hai chúng ta đều cùng chung chí hướng. Vậy ngày mai, phu nhân hãy lên đường tới xin được xuất gia vào giáo đoàn của Đức Thế Tôn như ý nguyện.
Sáng hôm sau, phu nhân Đàm Ma Đề Na bỏ lại hết trang sức quý giá, khoác lên mình chiếc y thô đơn màu giản dị. Đức vua Bình Sa, vốn có mối giao hảo thân thiết với gia đình, khi hay tin đã rất hoan hỷ và cùng thân tộc tới dự lễ xuất gia. Đức vua còn ra lệnh cho kiệu vàng tới đón phu nhân đến tinh xá. Buổi lễ diễn ra vô cùng trang trọng, Đức Thế Tôn uy nghi ngự trên pháp tòa, các vị Trưởng lão Tăng và bên Ni đã tề tựu đông đủ. Trước sự chứng minh của đại chúng, Ngài Đàm Ma Đề Na chính thức trở thành vị Tỳ kheo Ni trong Ni đoàn, sống cuộc đời thanh bai, phạm hạnh với ba y một bát.
IV. ĐỆ NHẤT THUYẾT PHÁP
Sau ba tháng hạ, Tôn giả Đàm Ma Đề Na trở lại tinh xá Ni. Ngài Visakha hay tin nên tới thăm hỏi. Vừa mới gặp lại, dung nghi thanh tịnh của Tôn giả Đàm Ma Đề Na đã làm Ngài Visakha bất ngờ. Ngài đoán rằng Tôn giả đã chứng đắc nên đặt những câu hỏi vô cùng thâm sâu trong giáo Pháp.
- Thưa Tôn giả, xin Tôn giả giải đáp cho con những thắc mắc sau ạ.
- Hiền giả Visakha, mời Ngài hỏi.
- Thưa Tôn giả, Thế Tôn gọi thế nào là “hiện thân”?
- Này Hiền giả Visakha, Thế Tôn gọi năm uẩn bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là “hiện thân” của ta.
- Lành thay, thưa Tôn giả. Vậy từ đâu mà có “hiện thân” này?
- Này Hiền giả Visakha, chính là bởi khát ái đưa đến tái sinh, khát ái lại đồng hành cùng sự ham thích và tham đắm, bởi vậy lúc nào cũng tìm cầu những cảm giác ưa thích. Này Hiền giả, khát ái đưa đến tái sinh chính là nguyên nhân của “hiện thân”.
- Lành thay, thật chính xác thưa Tôn giả. Vậy con đường nào có thể dừng lại sự tái sinh này, đạt được giải thoát giác ngộ?
- Này Hiền giả, con đường Bát Chánh Đạo đưa đến chấm dứt tái sinh, đạt được giải thoát giác ngộ. Đó là con đường gồm tám chi phần: chánh Kiến, chánh Tư Duy, chánh Ngữ, chánh Nghiệp, chánh Mạng, chánh Tinh Tấn, chánh Niệm, chánh Định.
- Lành thay, thật chính xác thưa Tôn giả. – Ngài Visakha vừa vui mừng vừa xúc động.
Đó đều là những câu hỏi sâu xa, chạm tới tận bản chất của “sự tồn tại”, “sự tái sinh”... Nhưng Tôn giả Đàm Ma Đề Na chỉ nghe qua một lượt rồi ngay lập tức trả lời chính xác, không thừa không thiếu một câu, vào đúng trọng tâm của vấn đề khiến Ngài Visakha vô cùng thán phục. Ngài Visakha tiếp tục hỏi thêm rất nhiều câu hỏi thâm sâu vi tế về Thân Kiến, sự đo lường được của Bát Chánh Đạo hay không, về các Định vi diệu, về sự khổ trong cảm thọ... Đó đều là những vấn đề mà chỉ trong tâm chứng vĩ đại của một vị Thánh mới thấy được chứ không thể dùng suy luận mà trả lời.
Tôn giả Đàm Ma Đề Na đã trả lời cực kỳ nhanh gọn và chính xác. Cuối cùng, Ngài Visakha đã hỏi đến tận những câu mà phải cảnh giới của Tứ Quả A La Hán mới biết được:
- Thưa Tôn giả, điều gì có thể tương xứng với Niết Bàn?
Tôn giả Đàm Ma Đề Na thấy ngay rằng câu hỏi đó đã vượt ra khỏi tâm chứng của một vị Tam Quả A Na Hàm như Ngài Visakha, vì thế Tôn giả không trả lời, chỉ mỉm cười bảo Ngài Visakha hãy đến bạch với Đức Thế Tôn về vấn đề này.
Sau khi nghe Ngài Visakha tường thuật lại cuộc đàm luận, Đức Thế Tôn tán thán rằng:
- Này Visakha, Tỳ kheo Ni Đàm Ma Đề Na là bậc hiền tri, là bậc đại tuệ. Với những câu hỏi này thì Như Lai cũng sẽ trả lời như vậy mà thôi. Đây đều là những câu trả lời tương ứng chính xác cho những câu hỏi đó. Các con hãy ghi nhớ.
Rồi Thế Tôn đọc lên bài kệ xác chứng và tán thán về sự chứng đắc của Tôn giả Đàm Ma Đề Na:
Ai quả hiện vị lai
Không sở hữu điều gì
Không nắm giữ, chấp thủ
Ta gọi bậc Hiền Trí.
Sau buổi tham vấn hôm đó, bởi các câu trả lời quá xuất sắc, rõ ràng, rất nhiều thính chúng có mặt đã chứng đắc được các Thánh quả từ thấp đến cao.
Đây là một trong rất nhiều câu chuyện kể về công hạnh của Tôn giả Đàm Ma Đề Na. Trong Ni đoàn, Tôn giả nổi tiếng với những buổi thuyết Pháp siêu việt, giáo hóa cho nhiều vị chứng đạt đạo quả.
Nhờ thành tựu năng lực Tứ Vô Ngại Giải, Tôn giả tinh thông tất cả kiến thức của thế gian, nắm bắt hết mọi vấn đề trong các cõi giới từ trời, người, quỷ thần... lại vừa thâm hiểu nghĩa lý của giáo Pháp đến sâu xa tột cùng. Vì vậy, Ngài có thể tuyên thuyết nên những bài Pháp vi diệu nhưng cũng cực kỳ thiết thực, gần gũi, phù hợp với mọi căn cơ của thính chúng. Có lần, Đức Thế Tôn đã xác chứng: “Tỳ kheo Ni Đàm Ma Đề Na phân biệt được nghĩa lý trong giáo Pháp một cách rõ ràng cặn kẽ, lại có thể tuyên giảng, triển khai rộng từng điểm, từng ý rất chi tiết và phong phú.”
Không chỉ vậy, chỉ cần Ngài bước lên pháp tòa là thính chúng đã vô cùng cảm phục và kính ngưỡng. Điều đó xuất phát từ công đức tu hành tinh nghiêm, giữ gìn tam nghiệp thân, khẩu, ý vô cùng thanh tịnh của Ngài trong nhiều kiếp. Thời Đức Phật Ca Diếp (Kassapa Buddha) thị hiện giáo hóa, Ngài chính là công chúa Sudhamma, ái nữ của Đức vua Kinki tại kinh thành Baranasi. Công chúa rất thuần thành, tín đạo. Tuy không thể xuất gia, nhưng Ngài đã làm vô số thiện nghiệp dâng lên Tam Bảo và giữ gìn phạm hạnh trong suốt 20.000 năm. Bởi vậy, đến kiếp này, sau khi chứng đắc đạo quả, uy đức của Ngài chói sáng, mỗi lời nói ra đều lay động mạnh mẽ tâm hồn thính chúng.
Một lần, trước hội chúng Tăng Ni, Đức Thế Tôn đã tán thán rằng:
- Này đại chúng, trong các vị đệ tử Ni ưu tú của Như Lai về khả năng thuyết Pháp, Tỳ kheo Ni Đàm Ma Đề Na là tối thẳng.
Trích Thánh Độ Mạng TÔN GIẢ NI ĐÀM MA ĐỀ NA (DHAMMADINNA)
___________________
Hoang Nguyen gởi
