TÔN GIẢ SIVALI - VỊ THẦN TÀI ĐÍCH THỰC CỦA PHẬT GIÁO
(Bài viết nhân ngày Vía Thần Tài mùng 10 Âm lịch)
1) THEO KINH TẠNG NYKAYA
Cha của Tôn giả Sīvali tên là Mahāli người xứ Licchavī. Mẹ của Tôn giả tên là Suppavāsā, công chúa nước Koliya có truyền thống tín phụng Tam bảo, thường cúng dường Đức Phật và chư Tăng.
Do nghiệp cũ oan khiên, nên nàng phải mang thai Tôn giả Sīvali đến bảy năm và chịu cơn đau chuyển dạ đến bảy ngày. Tưởng mình sắp chết, nàng nói với chồng rằng: Trước khi mạng căn chấm dứt, tôi sẽ bố thí trọng thể (pure maraṇā jīvamānāva dānaṃ dassāmī).
Sau khi phát tâm cúng dường Đức Phật và Thánh Tăng, nhờ lòng chí thành của nàng và sự chú nguyện của Tam bảo, Suppavāsā đã hạ sanh một đứa con trai kháu khỉnh, đặt tên là Sīvali.
Chuyện tiền thân Asātarūpa (Jataka 100) đã bổ sung:
Thiếu niên Sīvali, vào năm thứ bảy, hiến thân mình cho đạo, và xuất gia. Khi tuổi được đầy đủ, vị ấy thọ Đại giới, làm các công đức, đạt được lợi đắc cao nhất trên cõi đất, tức là quả A-la-hán, và khiến quả đất vang lên tiếng động hoan nghênh.
Và kể từ khi chứng Thánh quả A-la-hán, Tôn giả Sīvali có một phước báo to lớn, thường được nhân loại hay chư Thiên ở khắp mọi nơi cúng dường, dù đó là chốn hoang vu hay nơi làng mạc, khi ở sông nước, hoặc trú tại đất liền (vane gāme jale thale).
Một lần, trong chuyến du hóa đến trụ xứ của Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Đức Phật đã dẫn 500 vị Tỳ-kheo dự kiến phải băng qua một vùng hoang vu dài khoảng 30 dặm và khó khăn về vật thực. Trước lúc khởi hành, Đức Phật đã hỏi Tôn giả A-nan:
- Này, A-nan! Có Sīvali đi với chúng ta không?
- Dạ có, bạch Thế Tôn!
(Sīvali, pana, ānanda, amhehi saddhiṃ āgato ti? Āma, bhante ti).
Với Đức Phật, chỉ cần có Tôn giả Sīvali hiện diện trong đoàn thì dù con đường có hoang vu ít người qua lại, nhưng do phước báo của riêng Tôn giả mà các vị thiện thần (devatā) sẽ tùy duyên hóa hiện thành người phàm, để cúng dường vật dụng cần thiết cho đấng Chí Tôn và toàn thể chúng Tăng.
Sở dĩ có được phước báo to lớn đó là do NHIỀU THIỆN NHÂN DUYÊN mà Tôn giả đã GÂY DỰNG TRONG NHIỀU KIẾP, NHIỀU ĐỜI. Theo Chuyện tiền thân Asātarūpa (Jataka 100), Thánh nhân ký sự (Apadāna), Chú giải kinh Tăng chi bộ, Chú giải kinh Pháp cú, Chú giải trưởng lão Tăng kệ; thì tiền thân của Tôn giả Sīvali đã cúng dường lên Đức Phật Padumuttara và được Ngài thọ ký sẽ là người đầy đủ phúc lộc ở đời vị lai. Sau đó, trong một kiếp khác, tiền thân Tôn giả đã HIẾN CÚNG hai phẩm vật, được xem như hai vị thuốc quý ở thời xưa, đó chính là bơ tươi vo thành viên (guḷadadhiñca) và mật ong (madhuñca) lên Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassī) VỚI TÂM TÍN THÀNH VÀ LÒNG KIÊN ĐỊNH SÂU SẮC. Theo tư liệu, lễ phẩm tuy giản đơn nhưng do diễn ra trong một bối cảnh bức thiết nên trở thành đắt giá (sahassaṃ), mặc dù vậy tiền thân của Tôn giả Sīvali chỉ kính nguyện dâng lên Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassī) và chúng Tăng.
Như vậy, do dư nghiệp bất thiện ở quá khứ nên quá trình thác thai của Tôn giả Sīvali gặp nhiều bất hạnh, khổ đau. Tuy nhiên, do phước nghiệp tự tay mình (sahattheneva) cúng dường hai phẩm vật gồm bơ tươi và mật lên Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassī) với lòng kiên định, sùng kính, thế nên hiện đời phúc báo của Tôn giả luôn đầy tràn, không những lan tỏa đến chư vị Thánh Tăng mà còn được Đức Phật Thích Ca tán thán: Trong các vị đệ tử... nhận được đồ cúng dường, này các Tỳ-kheo, tối thắng là Sīvali.
2) THEO TƯ LIỆU HÁN TẠNG
Xét về nguồn cội, Tôn giả Thi-bà-la (尸婆羅) vốn dòng dõi hoàng tộc Sư-tử- giáp (師子頰: Sīhahanu), mẹ ngài tên là Cam-lộ-vị (甘露味: Amitā; được phiên âm thành 阿彌多質多𡆗, có khi cũng gọi là 不死女), cùng huyết thống với Đức Phật Thích Ca.
Theo kinh Tăng-nhất A-hàm và bản chú giải kinh này ở Hán tạng, khi mới sinh ra, Thi-bà-la đã có những dấu hiệu đặc dị phi phàm. Kinh văn ghi nhận rằng, khi vừa sinh ra, hai tay Tôn giả đã cầm viên minh châu vô giá cùng nhiều biểu hiện kỳ đặc. Lo ngại nên cha mẹ của Tôn giả đã cầu thỉnh các vị đạo sĩ giải đáp nhưng vẫn không thỏa lòng. Nghe tin Đức Phật Thích Ca là bậc quán thông, nên đã đưa Tôn giả đến thỉnh an.
Phật dạy:
Đứa trẻ này cực kỳ đại phúc. Đến tuổi trưởng thành sẽ dẫn năm trăm đồ chúng cầu học với Ta. Sau khi xuất gia tu đạo sẽ chứng quả A-la-hán. Trong hàng thanh văn đệ tử của Ta là vị có phước đức lớn nhất, không ai sánh bằng.
Như lời thọ ký của Đức Phật, vào lúc hai mươi tuổi, Tôn giả Thi-bà-la đã cùng năm trăm người bạn xuất gia. Chỉ sau một thời gian ngắn Tôn giả đắc quả A-la-hán.
Sau khi chứng đạt thánh quả, Tôn giả cùng năm trăm vị đồng học du hóa trong nhân gian, khi đi đến đâu Tôn giả cũng được cúng dường tứ sự đầy đủ, dù ở thị thành náo nhiệt hay nơi hẻo lánh hoang vu. Vì lẽ, mỗi khi Tôn giả đi đâu thì chư thiên đã mặc báo cho dân làng biết để tùy nghi cúng dường. Đôi khi, Tôn giả vừa khởi ý thì vua trời Thích-đề-hoàn-nhơn (釋提桓因, có lúc phiên âm là 摩伽婆: Maghavā), và ngay cả Tỳ-sa-môn Thiên vương (毘沙門王: Vessavaṇa) cũng tùy tâm của Tôn giả mà liệu biện các thứ. Thậm chí trong một trường hợp đặc biệt, Đức Phật đã cho phép Tôn giả tiếp nhận một trăm ngàn lượng vàng (百千兩金) để tùy nghi phân bổ CÚNG DƯỜNG VẬT DỤNG CHO MƯỜI PHƯƠNG CHÚNG TĂNG.
Với phước báo to lớn như vậy là do nhiều nhân duyên mà Tôn giả đã gây tạo ở nhiều kiếp xưa kia.
Trước hết, vào chín mươi mốt kiếp xưa, khi Đức Phật Tỳ-bà-thi (毘婆尸 = Vipassī) ra đời và giáo hóa nhân dân tại nước Bàn-đầu (槃頭 = Bandhumatī), có một trưởng giả tên là Da-nhã-đạt (耶若達) muốn cúng dường Đức Phật Tỳ-bà-thi nhưng còn thiếu sữa đông (酪=Dadhi). Khi ấy, tiền thân Tôn giả làm một người chăn bò và hiện có sữa đông, định dùng để tế tự các vị Trời. Khi ấy, dù được trưởng giả Da-nhã-đạt trả giá cao, nhưng khi được nghe mục đích cúng dường nên tiền thân Tôn giả Thi-bà-la đã phát nguyện rằng:
Hôm nay tôi đích thân đem sữa đông đến cúng dường Như Lai.
Thứ hai, vào ba mươi mốt kiếp về trước, có Đức Phật Thi-khí (Sikhī46. Nguyên tác: Thức-cật: 式詰) xuất hiện ở đời. Khi ấy, tiền thân Thi-bà-la là một nhà buôn lớn với tên gọi Thiện Tài (善財) đã đảnh lễ cúng dường nhiều kim ngọc trên thân Như Lai với lời nguyện rằng:
Nguyện nhờ công đức này, nơi nào con sinh ra, tiền tài luôn đầy đủ, bảo vật luôn sum vầy, không vật gì thiếu thốn, trong tay con lúc nào, cũng đong đầy tiền của, cho đến trong thai mẹ, cũng nắm giữ tiền tài.
Thứ ba, ở thời Trung kiếp (Antara-kappa), khi Đức Như Lai Tỳ-xá-la-bà (毘舍羅婆, cũng gọi là Tỳ-xá-phù: Vessabhū ) xuất hiện, tiền thân Thi-ba-la tên là cư sĩ Thiện Giác (善覺) lắm tiền nhiều của, đã tự tay mình (躬自辦: Sahattha) thiết trai hiến cúng Đức Phật và Thánh chúng với lời phát nguyện:
Con nguyện nhờ công đức, nơi nào con sinh ra, thường được gặp Tam bảo, không vật gì thiếu thốn, có nhiều người phò trợ, ở trong đời tương lai, cũng gặp được Đức Phật, như đã gặp ngày nay48.
Thứ tư, trong hiền kiếp hiện tại (Bhadda-kappa), khi Đức Phật Câu-lâu-tôn (拘屢孫:Kakusandha) xuất hiện ở thế gian, tiền thân Thi-bà-la tên là Đa Tài (多財) đã phát tâm hiến cúng Đức Phật và thánh chúng suốt bảy ngày với đầy đủ tứ sự cùng lời phát nguyện:
Nguyện nơi con thác sanh, tiền tài luôn đầy đủ, bảo vật luôn sum vầy, không sinh nhà bần tiện; khiến nơi con sinh ra, thường cúng dường tứ sự; khiến bốn chúng, quốc vương, và nhân dân tôn kính; khiến trời rồng quỷ thần, nhân loại hay phi nhân, đều hân hoan đón tiếp.
Do những nhân duyên công đức mà Tôn giả Thi-bà-la đã gây tạo và phát nguyện trong nhiều kiếp quá khứ, thế nên kiếp này Tôn giả Thi-bà-la xứng danh là bậc phúc lộc đệ nhất trong chúng đệ tử của Đức Phật Thích Ca.
Chúc Phú
_______________
Hoang Nguyen gởi
