Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh


 
Văn minh Miền Nam là thứ không ai có thể xoá bỏ đặng

 
Không phải tự dưng cờ vàng từng bay phất phới giữa trời Sài Gòn  và Hà Nôi? Không phải tự dưng Sài Gòn có đường Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà?
 
Không phải tự dưng Sài Gòn có Dinh Độc Lập? Niềm tự hào khi Sài Gòn có Dinh Tổng Thống.
 
Thành phố này có lịch sử riêng, văn hóa riêng và chánh trị riêng, từng có dinh Tổng Thống, có dinh Thủ Tướng  và các đại sứ quán.
 
Lịch sử cái nào ra cái đó, đã ghi, đã bày ra rồi thì nó vẫn là nó.
 
Còn nhớ trong cuốn Những quy luật chính trị trong sử Việt, Vũ Tài Lục ghi dòng này mà giờ chép lại vẫn hay:
 
"Không đọc sử không đủ tư cách nói chuyện chính trị."
 
Lịch sử Việt Nam văn minh đầu tiên ở phía Bắc, chánh trị ở phia Bắc, lần hồi quá trình tiến bộ thì lãnh tổ Việt Nam kéo vô Nam thì văn minh và chánh trị cũng vô Miền Nam.
 
Vũ trụ là một dòng sông dài, cả một quá trình lịch sử cũng dài, con người qua bao khúc nhoi, thăng trầm có đủ hết, Nam Kỳ và Bắc Kỳ cũng vậy!
 
"Đường về trong mơ đêm đêm phố lớn thênh thang
Ánh sáng kinh kỳ tràn lan."
 
Trong Kinh Dịch ghi rõ, Phương Nam là văn minh, Phương Nam Sài Gòn là đỉnh cao sáng chói cùa cái văn minh đó.
 
Sức mạnh chánh trị, văn minh Việt tộc đã dời vô Huế, rồi vô tới bến tự do, bến Sài Gòn. Trong lịch sử Việt Nam sự ra đòi của Sài Gòn trẻ măng nhưng lại là một sự kiện đặc biệt, nó khẳng định kết quả tốt lành của vùng đất Phương Nam, không những tạo ra cương vực mới mà còn tạo ra một thế lực mới trong bàn cờ chánh trị xứ Việt làm lu mờ địa vị cố hữu của Thăng Long và của Huế.
 
Xin lật lịch sử vào những năm 1558-1600. 
 
Chúng ta nghe giai thoại rằng chúa Nguyễn Hoàng vì "nghe lời" Trạng Trình" Hoành Sơn nhứt đái, vạn đại dung thân nên xuôi về Nam.
 
Tôi thì đọc giai thoại cho vui thôi, cái đám sĩ phu Bắc Hà rất thích múa miệng chém gió đặt giai thoại, thiệt ra là tầm nhìn chánh trị của chính chúa Nguyễn Hoàng mà thôi!
 
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng nhìn xa ra cái hướng mà vừa dung thân vừa có thể phát triển lâu dài, phát triển khi anh rể Trịnh Kiểm đã nuốt hết cơ nghiệp nhà vợ rồi giết anh trai Nguyễn Uông, sẽ giết tới Nguyễn Hoàng.
 
Đi vô vùng Ô châu ác địa, Biên viễn xa xôi là một cuộc thử thách thực sự chứ không phải đi du lịch chơi chơi như thời nay. Cái duyên này là Trời định, là Thiên Mệnh, để Việt tộc phát triển dài ra cương thổ.
 
Năm 1558 Nguyễn Hoàng ôm theo nhiều anh em, bà con, tùy tùng quê ở Tống Sơn vô Nam.
 
Ta phải kể ra ba ông lớn có tiếng trong đời Nguyễn Hoàng mà lịch sử ghi là: Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị và Mạc Cảnh Huống.
 
Con cháu Nguyễn Ư Dĩ sau này đổi sang họ Nguyễn Khoa, với Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Nguyễn Khoa Nam.
 
Dòng thứ hai là họ Tống của ông Tống Phước Trị. Tống Phước Trị là người mang họ Tống của chính quí huyện Tống Sơn. Khi Nguyễn Hoàng vào Nam thì ông đã có danh phận chức tước ngang hàng với chúa Nguyễn Hoàng, tước Luân Quận Công, làm Trấn thủ Thuận Hóa trước cả Nguyễn Hoàng.
 
Dòng Tống Phước Trị là đệ nhị công thần của chúa Nguyễn Hoàng. 
 
Ông Tống Phước Trị là tổ của hai ông Tiền Hiền Tống Phước Hiệp, Tống Phước Hòa, là bậc danh tướng, có công gìn giữ Vĩnh Long và Sa Đéc.
 
Đất Trung Kỳ là đất của Chàm. Người Việt kêu người Champa là người Cham, Chăm, Chàm, Chiêm, Thổ, Mọi, Hời.
 
Cham Pa gồm 5 tiểu quốc là:
 
- Indrapura (vùng Quảng Bình, Quảng Trị - tương đương với lãnh thổ Lâm Ấp) 
- Amaravati (vùng Quảng Nam, Thừa Thiên) 
- Vijaya (Bình Ðịnh) 
- Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa)
- Panduranga (Phan Rang, Phan Rí).
 
Vua Chàm Chế Bồng Nga đánh Đại Việt 12 lần. Từ 1371 đến 1383, quân Chiêm Thành 4 lần chiếm đóng Thăng Long và năm 1390, lúc đang tiến vào Thăng Long lần thứ tư, thì Chế Bồng Nga bị tử trận. Cái chết vô cùng lãng nhách, thằng đầy tớ phản chủ qua bên Việt chỉ chiếc thuyền Chế Bồng Nga có một vết sơn xanh nhỏ và Trần Khắc Chân chỉ tập trung hỏa lực bắn vô thuyền nầy là Chế Bồng Nga tử trận.
 
Người Chàm rất xui khi lập quốc cạnh người Việt vì nằm ngán đường của người Việt. 
 
Bắc là Tàu, tây là dãy Trường Sơn cao ngút, đông là biển, chỉ còn hướng Nam là con đường sanh tồn của Việt tộc. Nên Chàm bị vong quốc.
 
"Tây phương không đường tới
Bắc phương khó nẻo qua
Có một phương chẳng gần chẳng xa."
 
Nhưng Chàm vẫn còn đâu đây trong huyết quản người Miền Trung.
 
Khi ông Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống VNCH nhiều người già nói sấm ám chỉ có một ngày, một người có máu Chàm làm vua người Việt.
 
Người Việt đã  khuất phục luôn dân tộc Chàm.
 
Nói về đồng hóa bằng hôn nhân thì dân Tàu cũng quỳ lạy dân Việt chúng ta. Người Việt không nề hà, đụng đâu lấy đó, Chàm quất tuốt, Miên không tha, Tàu lấy sạch.
 
Người Trung mang nhiều máu Chàm trong người. Người Miền Trung có da ngăm đen vai ngang mặt vuông, tóc dợn sóng, mắt sâu, má cao, mắt một mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Rồi cái âm Trung lơ lớ với mô, tê, răng, rứa, hè...ảnh hưởng rõ rệt người Chàm.
 
Một nhúm Chàm ở Phan Rang, Phan Thiết do co cụm, sống tách biệt nên vẫn còn bản sắc.
 
Thế hệ đầu tiên ngoài Bắc vô Trung của Nguyễn Hoàng thành dân Trung Kỳ đã phai lợt từ từ gốc gác, tới những thế hệ sau thì họ đã là người Đàng Trong, khác hoàn toàn tâm tánh, ăn ở, văn hóa Đàng Ngoài.
 
Chưa kể lại đối nghịch nhau về chánh trị. Nam và Bắc từ từ khác và đối nghịch nhau. Đất sanh ra người mà!
 
Lịch sử Việt Nam ta có cuộc Trịnh, Nguyễn phân tranh rất nhiều giai thoại thú vị.
 
Khi họ Nguyễn tạo ra xứ Đàng Trong ly khai vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài thì hiểu rằng người ở phía Nam đã muốn độc lập, cắt đứt với người phía Bắc.
 
Trịnh Nguyễn đánh nhau từ 1627 tới 1672 với 7 lần đánh nhau với đại quân. Trong bảy lần đó quân Trịnh với thói quen cố hữu lấy thịt đè người chủ động tấn công đánh quân Nguyễn tới sáu lần, quân Nguyễn chỉ chủ dộng tấn công quân Trịnh trong lần giao tranh thứ năm (1655-1660).
 
Họ Trịnh dựa vua Lê, người Bắc rất lơ láo, họ chuyên lấy vua Lê ra làm bình phong cho sự chính danh tàn bạo của họ khiến quân Đàng Trong rất ghét.
 
Tương truyền trong một trận đánh, hai bên dàn trận rồi mà Đàng Ngoài còn chơi trò lấy lông gà làm lịnh tiễn “vua Lê”. Một ông quan Bắc chạy xe ngựa có cờ lộng uy nghi ra giữa trận tay giơ cao tờ chiếu la lớn ”Chiếu chỉ vua Lê tới đây, quân họ Nguyễn nghênh đón!” 
 
Thoáng ngỡ ngàng, quan bên Nguyễn thấy rằng hai bên đang đánh nhau thì mang chiếu chỉ vua Lê ra làm chi, Đàng Trong đã thực tế là đất của chúa Nguyễn. Quan Bắc vẫn gân cổ, là thần tử vua Lê thì phải nhận chiếu.
 
Rốt cuộc súng của quân Nguyễn chỉa thẳng vô ông quan cầm chiếu vua Lê ngay giữa trận.
 
Cái đùng là đơn giản nhứt với thứ treo miệng bán Trời không mời Thiên Lôi.
 
Nhớ tới Quốc Phụ xứ Đàng Trong Đào Duy Từ nửa đêm ôm bè chuối vượt sông giới tuyến vô Nam giúp chúa Nguyễn giữ đất Đàng Trong độc lập. Đào Duy Từ hay Nguyễn Hoàng là bỏ xứ ra đi rồi, bỏ luôn rồi, kiểu "Người ra đi đầu không ngoảnh lại".
 
Thuận Quảng là đất chó ăn đá gà ăn muối lúc bấy giờ. Kinh tế thấp kém, đất đai rộng nhưng hoang vu, lam sơn chướng khí, lại bị người Chàm đánh miết để đòi lại, vô đó chỉ có nước chết mà Nguyễn Hoàng tồn tại được là cái không ai ngờ.
 
Bản thân Nguyễn Hoàng từ năm 1600 đã từng đốt quán trọ, hạ nhục sứ họ Trịnh là Lê Nghĩa Trạch để phản kháng. Sự bất mãn, phân ly và phản kháng đã từ từ phát diện.
 
Rốt cuộc, Phú Xuân (Huế) từ năm 1687 thành kinh đô của Đàng Trong và là kinh đô Việt Nam thống nhứt từ 1802 vua Gia Long.
 
Chúa Trịnh vua Lê ở Đàng Ngoài. Đàng Ngoài năm nào cũng có đói, thời chúa Trinh các năm 1557, 1559, 1570, 1571, 1572, 1577 hàng loạt trận đói xảy ra.
 
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các vị sau đó còn làm bộ nhún nhường thần tử, song tới đời Võ vương Nguyễn Phước Khoát (1714-1765 ) mở ra một thời kỳ mới.
 
Năm 1744 lên ngôi vương xưng là Võ Vương cho đúc ấn Quốc Vương với cương vực từ sông Gianh tới Cà Mau, vạch rõ san hà Nam-Bắc khác nhau. Ta nhớ tới bài thơ của Đào Duy Từ viết thay chúa Nguyễn trả lời cho chúa Trịnh.
 
Năm 1762 chúa Trịnh bắt họ Nguyễn Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương Nguyễn Phước Nguyên và đòi Sãi Vương phải cho con về Thăng Long chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh.
 
Sãi Vương không chịu nhận chiếu chỉ, không thuận theo điều gì hết, Đào Duy Từ viết bài thơ trả lời:
 
Mâu nhi vô dịch,
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch.
 
Phùng Khắc Khoan phải ra tay dịch ra bốn chữ: Dư bất thụ sắc (ta không nhận sắc phong).
 
Họ Nguyễn không chịu thần phục triều đình, không nhận sắc vua Lê cho nên làm ra bốn câu thơ đó.
 
Đào Duy Từ là người Đàng Ngoài, giỏi nhưng bị chà đạp, nửa đêm ôm bè chuối vượt sông Gianh vô Nam làm Lộc Khuê Hầu giúp chúa Nguyễn độc lập, cắt đứt Đàng Ngoài.
 
Họ Trịnh biết, tiếc nên cho người ôm vàng bạc vô Nam dụ họ Đào về Bắc, chúa Trịnh viết thư ưỡm ờ:
 
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay!”
 
Đào Duy Từ trả lời rằng: 
 
“Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
 
Tháng 1 năm 1775 khi Tây Sơn nổi dậy đánh chúa Nguyễn, quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc cầm quân đã tiến vô nam đánh chiếm Phú Xuân.
 
Quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân trong 11 năm với 3 vạn quân, cai trị mạnh tay, dân Thuận Hóa ná thở, oán khí ngập trời.
 
Nếu coi nhau là đồng bào thì đã không có sự cai trị kinh khủng như vậy.
 
Năm 1786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ tiến ra đánh bật quân Trịnh giải phóng Phú Xuân. Tây Sơn xua quân g-iết quân Trịnh, tàn s-át gần hết, một số chạy thoát ra khỏi thành thì bị dân Huế bản địa căm thù ra tay gi-ết.
 
Trong một ngày khắp Phú Xuân xuất hiện ăn mày nhưng toàn là á khẩu, câm để giấu cái giọng Bắc, tìm đường chạy ra Bắc thoát thân.
 
Lịch Triều Tạp Kỷ của Ngô Cao Lãng ghi rằng:
 
"Các lính thủ chạy đi các xóm làng để xin trú ngụ đều bị thổ dân giết sạch, giết hại tất cả đến vài vạn người, chỉ còn vài trăm người là qua được sông Gianh trở về Bắc Hà thôi."
 
Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngô Thời Nhiệm, Đặng Trần Thường đều đã về Nam tìm gió mới, Nguyễn Du cũng từng đi nhưng không thành công.
 
Đặng Trần Thường một nho sanh Bắc Hà xuất sắc cũng đã vượt đường cái quan, qua sông núi biển xa vạn dặm vào đến Gia Định.
 
Đất Bắc với nạn nhân mãn, anh cả, nhà thờ họ, lũy tre làng, những con đê khổng lồ chặn hết phù sa, những ông lý như tiểu vương đã là nỗi ám ảnh của nhiều người Việt lúc đó.
 
Xuôi Nam là con đường mà họ chọn để theo nước đẩy thuyền.
 
"Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo hòn Cù Mông"
 
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long kể từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông và Tân Bình kể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Cỏ Đông.
 
Người Miền Nam là con cháu Nam Kỳ, vốn là xứ của lưu dân Ngũ Quảng hiệp cùng người Minh Hương, Chàm, Khmer và bổn địa như Stieng tạo ra.
 
Cái máu Bắc trong người Miền Nam khai hoang không có bao nhiêu.
 
Ông bà ta nói đất sanh ra người, người là hoa của đất, là tinh túy của xứ sở, đất tạo ra tâm tánh người dân.
 
Chúa Nguyễn áp dụng những chánh sách cai trị rất khôn khéo, trước khuyến khích tạo điều kiện cho dân vào Nam khai hoang lập ấp, nói chung làm ăn ổn định cuộc sống trước đã. Sau khi cuộc sống của dân cư đi vào ổn định, Chúa Nguyễn bắt đầu áp dụng chính sách thuế trên đất Miền Nam.
 
Người Nam Kỳ là dân khai hoang tứ xứ, vì kinh hoàng với xứ Bắc nên họ tạo ra văn hóa Nam Kỳ khác văn hóa Bắc rất nhiều, thí dụ chuyện dòng tộc, lũy tre làng, gia phả  là không có ở xứ Nam Kỳ.
 
Miền Nam không có Thị Mầu, không có Chị Dậu, không có Chí Phèo, không có cảnh người dân ngụ cư, làng này đánh làng khác.
 
Người Miền Nam không lập gia phả, không có chế định nhà thờ họ.
 
Nam Kỳ thời chỉ thờ cúng trực hệ tổ tiên trong 4 đời. Nam Kỳ bỏ "cả", chỉ công nhận "hai", cũng không lấy cái đình làng làm nơi dọa nạt ra uy khủng bố người dân.
 
Lịch sử lưu dân Nam Kỳ quá trẻ quá gần, không có nhiều quá khứ nhưng quá khứ huy hoàng tột đỉnh.
 
Bản chất dân Nam Kỳ đôn hậu mộc mạc. Tánh Nam Kỳ lửa rơm dễ nóng dễ cháy. Sông rạch và đất nước bao la vì vậy đã tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn.
 
“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mượn chén ăn cơm
Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi.” 
 
Đất Nam Kỳ không dễ dàng mà có, ông bà cũng nẻ chưn tét da, rướm máu, mẻ xương, mất mạng mà giành nó giữ nó và xây dựng phát triển nó.
 
Qúa trình dài và đầy máu ,nước mắt, ai đọc sử cũng sẽ biết quá trình này.
 
Một hột giống gieo xuống đất, đất đó phải xới, phải vun bồi, tưới tẩm, phải dẫn nước, xẻ mương, mưa thuận gió hòa qua sự điều hòa của trời đất thì hột mới nẩy mầm cho ra cái cây, sanh bông kết trái.
 
Miền Nam có những mùa hạn khô queo không còn một miếng nước cực khổ thấu trời. Có những vùng nước tù đọng muỗi mòng rắn rít, những vùng phèn vàng khè cháy da cháy tóc.
 
Ông bà Miền Nam phải đổ xương máu ra khai phá, đào kinh, xẻ mương, lên liếp.
 
Nói gọn lại là đất Nam Kỳ không phải tự dưng trên trời rớt xuống cái chủm cho người Việt, người Miền Nam phải trầy vi tróc da giữ nó, khai phá nó mới có cơm gạo.
 
Prei NoKor, Thài Ngòn, Phiên Trấn, Gia Định, Phan An, Sài Gòn đã thành một đô thị an vui, no ấm,thạnh vượng của Nam Kỳ Lục Tỉnh, là đô thành của Lục Tỉnh.
 
"Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn
Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi.
Lạc thổ nhóm bốn dân: sĩ nông công thương ngư tiều canh độc."
 
Đất Nam Kỳ từ khi lưu dân cắm đất khai phá và Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược thì cha ông chúng ta luôn hướng tới tự do, dân chủ, tôn trọng và muôn đời là như vậy.
 
Sài Gòn là sản phẩm của người yêu chuộng tự do, của tinh hoa Nam Kỳ Lục Tỉnh.
 
"Sài Gòn dễ ở khó về
Trai đi có vợ, gái về có con."
 
Sài Gòn là cái đỉnh cao của văn minh kiểu Lục Tỉnh, cách chơi Lục Tỉnh, tâm hồn Lục Tỉnh. Sài Gòn phồn thạnh tự tạo ra luật chơi chứ không tuân theo luật chơi của kẻ khác. 
 
Tây Sơn tràn vào, không phải tự dưng mà có "Thảm sát cù lao Phố", "Thảm sát Chợ Lớn", "Hủy diệt Mỹ Tho đại phố". Mục đích là kiếm một mớ của rồi nhân tiện tiêu thổ luôn.
 
Những ngày đầu từ Phú Xuân vô Nam thì chúa Nguyễn Ánh cũng không là cái gì, chẳng có danh gì ngoài cái danh cháu Chúa Nguyễn.
 
Lúc này Nam Kỳ đã có quân đội, dân và hào phú Ba Giồng vì chống sự cướp bóc, giữ an xóm làng đã hùn tiền của, góp con cháu lập ra đạo quân Đông Sơn 3.000 người do Đỗ Thanh Nhơn chỉ huy.
 
Miền Nam có khả năng tự võ trang và nuôi dưỡng sức mạnh.
 
Khi Tân Chánh Vương lẫn Thái Thượng Vương bị Tây Sơn bắt giết ở Sài Gòn thì chúa Nguyễn Ánh nổi lên như người kế thừa khôi phục sự nghiệp của họ Nguyễn.
 
Năm 1777 Đỗ Thanh Nhơn đưa Nguyễn Phước Ánh lên làm tôn chủ cho chánh danh. Năm 1780 chúa  Nguyễn Ánh xưng vương.
 
Và chúa Nguyễn Ánh lập mưu giết Đỗ Thành Nhơn đặng đoạt binh quyền.
 
Chúa Nguyễn Ánh đụng ngay sự phản kháng và bất hợp tác của thuộc hạ ông Nhơn là Võ Nhàn, Đỗ Bảng là những phó tướng, đầu lãnh của ông Nhơn. Phe Miền Nam dẫn quân đi gần hết, cát cứ vùng khác.
 
Một thời gian dân Nam Kỳ tẩy chay chúa Nguyễn Ánh. Tây Sơn nghe tin Đỗ Thành Nhơn đã bị giết mừng húm hành quân vào, chúa Nguyễn Ánh đánh không thắng được trận nào, chỉ biết chạy lòng vòng.
 
Võ Tánh là em Võ Nhàn, Võ Nhàn chống lại Nguyễn Ánh và cũng bị giết chết, vì vậy Võ Tánh phải bỏ đi chổ khác, sau cùng dẫn binh về cát cứ ở Gò Tre Gò Công.
 
Từ năm 1784, quân đội Võ Tánh với đạo quân "Khổng Tước nguyên võ" là lực lượng duy nhứt dám dàn trận công khai đánh chận Tây Sơn ở Gia Định. Chúa Nguyễn Ánh nhiều lần chiêu dụ Võ Tánh nhưng ông làm ngơ, không thèm nhìn vì thù anh, ông tự mình đánh Tây Sơn.
 
Năm 1788 Võ Tánh nghe theo lời các tướng thân cận như Mạc Văn Tô, Nguyễn Văn Hiếu mới đồng ý theo Nguyễn Ánh vì hai chữ “chính danh”.
 
Tức là Võ Tánh bỏ qua tình riêng. Nhà Nguyễn được thành lập là nhờ dân Miền Nam.
 
Chúng ta hiểu rằng với dân Nam Kỳ, họ Nguyễn Phước là họ tượng trưng nhưng không phải là số một.
 
Tỷ dụ vua Gia Long biết Tả Quân Lê Văn Duyệt là người ít học nhưng thẳng thắn và làm kinh tế giỏi nên đối với ông Duyệt có sự biệt đãi, 
 
Tả Quân Lê Văn Duyệt trung thành nhưng lại có cái cách “thinh thang” kiểu Nam Kỳ khi Nam Kỳ cho tự do tôn giáo, mua bán, thông thương, dân an vui no đủ.
 
Người Miền Nam làm kinh tế giỏi, đố dân Miền Bắc hay Miền Trung nào có cái tánh thương người được như người Miền Nam? 
 
Vua Minh Mạng tìm cách phá bỏ ảnh hưởng của phe Nam Kỳ trong Gia Định sau cái chết của Tả Quân Lê Văn Duyệt.
 
Vua đã đưa vào đất Nam người của mình, đám này chủ yếu có quê gốc ở Trung và Bắc để thực hiện những đường lối chánh sách mới, kiểm soát và nắm kinh tế, bỏ những ảnh hưởng của phái Gia Định và xóa bỏ mọi uy tín của vị Tả Quân trong dân chúng.
 
Dân Nam Kỳ đã trả lời Huế bằng cuộc binh biến vang dội của Lê Văn Khôi.
 
Bộ sậu Lê Văn Khôi có con cháu Nguyễn Văn Tồn, Nguyễn Văn Thoại, Mạc Cửu, điền chủ, hết thảy những vị khai quốc công thần xưa.
 
Mắc cười thay! Lê Văn Khôi là người gốc Bắc. Điều này chứng tỏ rằng người Miền Nam không bao giờ câu nệ xuất thân, gốc gác, máu mủ. Cứ cùng chung suy nghĩ, cùng bảo vệ quyền lợi, tuân luật chơi Nam Kỳ thì cứ mặc sức mà thể hiện.
 
Sưc phản kháng của Nam Kỳ kinh động! Tại Huế vua Minh Mạng ăn không ngon ngủ không yên, vàng bạc lo đem chôn giấu kín. Vua sợ quân Gia Định sẽ đánh rốc ra Huế nay mai.
 
Cuộc binh biến này không có phương hướng rõ, do dự, chần chừ và bị vài phần tử phản bội do “hèn” sau lưng nên rốt cuộc không thành công.
 
Dù trấn áp được cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi thành công, nhưng từ thời Minh Mạng triều đình Huế đã không còn “uy tín” như thời  vua Gia Long, trở về sau nhà  Nguyễn suy yếu từ từ tới ngày cáo chung.
 
Miền Nam thời Việt Nam Cộng Hoà vẫn sáng rực, anh dũng, hiên ngang. 
 
Văn minh Miền Nam là điều không ai dám che đậy! Văn Thánh  Miếu Trấn Biên, Văn Thánh Miếu Gia Định, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long vẫn còn ngời ngời đó!
 
Văn Thánh Miếu Sài Gòn Gia Định xây thời vua Minh Mạng, nhưng đất Sài Gòn đã tổ chức thi hương rất nhiều đợt từ thời chúa Nguyễn.
 
Đất Nam thời đó, có hai trường tư dạy học nổi tiếng liên quan hai đại trí thức Miền Nam, một ở làng Hòa Hưng xứ Gia Định của Sùng Đức Tiên Sinh Võ Trường Toản, hai là ở Gò Công của Kiến Hòa Tiên Sinh Phạm Đăng Long.
 
Danh sĩ Võ Trường Toản được tôn xưng là tổ sư nho giáo Nam Kỳ,  là thầy của các bậc danh sĩ Miền Nam sau này như: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh (Ba ông này gọi là Gia Định tam kiệt), Ngô Tùng Châu và hằng hà người sau này tự nhận là học trò Võ Trường Toản như: Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị, Hồ Huấn Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa, Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Học Lạc, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh...
 
Lúc này Tây Sơn hoành hành ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh đánh nhau với Tây Sơn và nhiều phen tẩu quốc phải chạy dài khắp nơi.
 
Năm 1788 chúa Nguyễn Ánh được Võ Tánh đem đạo quân Kiến Hòa từ Gò Công về giúp nên thế lực ngày vững thêm, đã có thể đánh thắng Tây Sơn trong chiến trận.
 
Tới năm 1790, chúa Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, vị thế ổn định mới xây thành Bát Quái làm nơi đóng Kinh Đô  của mình, đó là Gia Định kinh.
 
Chúa Nguyễn Ánh bắt đầu nghĩ tới tổ chức thi cử, tổ chức đơn giản vì thời chiến, chủ yếu kiếm hiền tài biết chữ nghĩa phục vụ cho bộ máy chúa Nguyễn.
 
Chúa Nguyễn Ánh đã tổ chức hai khoa thi năm Tân Hợi 1791 và Bính Thìn 1796 tại Gia Định lấy hiền tài.
 
Năm đầu tiên Tân Hợi 1791 đậu hạng ưu có Ngô Tòng Châu và Nguyễn Hoài Quỳnh đều là dân Gò Công.
 
Ngô Tòng Châu dân gốc Bình Định nhưng 12 tuổi đã ở Gò Công, là học trò Võ Trường Toản.  
 
Ngô Tòng Châu năm 1788 theo  quân Kiến Hòa của Võ Tánh theo phục vụ chúa Nguyễn Ánh, ông có chức Chế cáo Viện Hàn lâm năm 1788, Điền tuấn sứ năm 1789.
 
Năm 1791, ông thi đậu thủ khoa khoa thi năm Tân Hợi, sau đó ông  thăng làm Tham tri bộ Lễ kiêm Phụ đạo Đông cung, là thầy dạy học hoàng tử Cảnh.
 
Còn Nguyễn Hoài Quỳnh là học trò của Phạm Đăng Long ở Gò Công.
 
Khoa thi Bính Thìn 1796 đậu thủ khoa là  một người Gò Công nữa là ông Phạm Đăng Hưng, ông Hưng chính là con trai Phạm Đăng Long ở giồng Sơn Qui.
 
Sau khi thi đậu ông Phạm Đăng Hưng làm Lễ sanh nội phủ rồi từ từ lên cao. Lễ Bộ Thương Thơ-Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng rạng danh là nhờ con gái là bà Từ Dũ là mẹ vua Tự Đức, họ Phạm Đăng vang danh là nhờ làm bên ngoại vua Tự Đức sau này.
 
Còn một nhân vật nữa ta phải nhắc:
 
Tổng đốc Trương Minh Giảng là con trai của Lễ bộ Thượng thư Trương Minh Thành, người huyện Bình Dương, trấn Gia Định. Ông Trương Minh Thành thi đậu đồng thủ khoa khoa thi năm Tân Hợi 1791 ở Gia Định.
 
Danh sĩ đất Tân An Nguyễn Thông đậu cử nhơn kỳ thi Hương năm 1849 ở trường thi Gia Định, đồng khoa với Phan Văn Trị. Năm 1851 không đậu thi Hội, nhà nghèo không thể tiếp tục học, Nguyễn Thông nhận chức huấn đạo do triều đình bổ tại Phú Phong, tỉnh An Giang.
 
Thủ Khoa Huân dân làng Tịnh Hà Chợ Gạo, là con của ông hương cả Nguyễn Hữu Lý tục gọi ông Cả Cầm.
 
Kỳ thi hương năm 1852 Nguyễn Hữu Huân thi đậu thủ khoa tại kỳ thi hương Gia Định. Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (1830-1875) một anh hùng vị quốc vong thân thời Pháp người Định Tường, đã tham gia khởi nghĩa ba lần.
 
Ngày 15 tháng 4 (âm lịch) năm Ất Hợi, tức ngày 19 tháng 5 năm 1875, Pháp cho ghe chở Thủ Khoa Huân từ khám Mỹ Tho theo kinh Bảo Định về quê nhà, tới ngã  tư Giáp Nước (xã Mỹ Tịnh An,  Chợ Gạo) Pháp đã xử trảm ông.
 
Người Sài Gòn, Gia Định và Miền Nam xưa cũng coi trọng cái học lắm!
 
“Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ 
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu 
Anh về học lấy chữ Nho
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.”
 
Đất Lục Tỉnh ta là cái nôi xuất hiện đầu tiên của chữ Quốc Ngữ, của các thể loại thơ, tiểu thuyết, văn chương và báo chí Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam.
 
Chúng ta tự hào có Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh.
 
Học giả Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) là ông tổ truyền bá chữ Quốc Ngữ, là thầy dạy chữ Quốc Ngữ đầu tiên, viết sách đầu tiên, dịch Kiều ra quốc ngữ đầu tiên, được coi là ông tổ nghề báo Việt Nam.
 
Gia Định báo ấn bản đầu tiên vào ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn là tờ báo đầu tiên của VN.Trương Vĩnh Ký làm tổng tài, tờ báo có thêm mục biên khảo, thơ văn, lịch sử…Gia Định báo góp phần cổ võ việc học chữ Quốc Ngữ, bày ra các loại văn xuôi.
 
“Miền Nam vốn có một một địa vị về văn nghệ và có ảnh hưởng sâu rộng trong quảng đại quần chúng lan tràn đến cả miền Trung lẫn miền Bắc. Miền Nam đã gây phong trào tiền phong về mọi phương diện văn nghệ: báo, tạp chí, truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, đặc biệt là tiểu thuyết Trung Hoa, truyện phóng tác tiểu thuyết Tây, phong trào xuất bản rộng lớn các loại thơ bình dân và rất phồn thịnh…" (Khi lưu dân trở lại, tác giả Nguyễn Văn Xuân).
 
Dần dà trong lịch sử văn chương Việt Nam có sự ăn hỗn và đánh tráo  khi sau này người ta lấy văn chương kiểu Bắc của Nam Phong tạp chí làm chuẩn để nói văn chương Bắc là số 1.
 
Người ta dám gạt bỏ việc Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên để nhét một ông Bắc Kỳ khác vô.
 
Học giả Nguyễn Văn Xuân viết vầy:
 
" ...không gì mỉa mai hơn là học Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, cả Hoàng Ngọc Phách nữa, những nhà văn mà chính phê bình gia có tiếng là Vũ Ngọc Phan nhìn nhận là kém hơn Hồ Biểu Chánh.”
 
Dân Nam Kỳ đậu bằng Thành Chung (Diplôme) nhiều vô kể, xứ sở của những ông Đốc Phủ Sứ, của những ông bác sĩ, bác vật, kỹ sư Pháp về.
 
Tà tà như Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam cũng có bằng kỹ sư du học Pháp mà!
 
Người Nam Kỳ làm chánh trị, có quân đội riêng đối đầu với VM trỗi dậy vào những năm 1945, rồi làm nền tạo ra Việt Nam Cộng Hòa.
 
Các bạn biết, những người Tây học thời đó nói tiếng Pháp sành sỏi nhưng trình độ Nho học của họ cũng rất đáng nể. Họ xử sự “nhơn lễ nghĩa trí tín”, sống có tư cách, thẳng thướm vô cùng.
 
Người Bắc 54 vô Nam ngạc nhiên khi có cảnh người đạp xe xích lô ở Sài Gòn, buôn gánh bán bưng vào buổi trưa tìm chỗ mát nghỉ ngơi, ngồi gác chân đọc nhựt trình, cảnh không thể có ở ngoài Bắc.
 
Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì Miền Nam có truyền thống đọc sách báo của người bình dân mà ở ngoài Bắc không có, bởi Miền Nam đã là vùng đất của quốc ngữ và báo chí, tiểu thuyết, ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khiến nền văn chương bình dân phát triển mạnh ở trong Nam, trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học trung lưu.
 
Nhớ hồi năm 2009  dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng muốn hiến tặng tượng cha A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) cho Hà Nội.
 
Linh Mục Alexandre de Rhodes (1591 - 1666) là người có công lớn nhứt với chữ “Quốc Ngữ” Việt Nam ta.
 
Tuy nhiên sau đó ông Phạm Văn Hạng đã bị một số người lên án thất kinh. Trong khi Sài Gòn đã có đường Alexandre de Rhodes từ xưa rồi!
 
Ôi cái xứ thất kinh! Ôi những thứ hẹp lòng luôn mang bụng dạ mình suy xét bụng dạ người! Nó sống vậy thì tồn tại lâu hay sao?
 
Hà Nội không thể chấp nhận một con đường mang tên Alexandre de Rhodes nhưng lại có đường Mạc Đăng Dung thì cũng đã thể hiện suy nghĩ Nam Bắc khác nhau rồi!
 
Đi sau Miền Nam nhưng vẫn thích ta đây là anh cả, vẫn thích bố đời.
 
Đi là đi sau nhưng rất khoái dạy đời, sửa chữ. Sửa sạch sẽ, từ nhựt thành nhật, bịnh thành bệnh, bổn thành bản, lộ thành đường, nhứt” thành nhất, dòng thành giòng.
 
Cái gì mà tàu bay, tàu hỏa? Bịnh kêu ốm, sao không kêu "ốm viện"?
 
Bạn nhìn quá khứ, cảm nhận hiện tại, hiểu hiện tại và hình dung ra tương lai, hết thảy nó đi theo một quy luật nhứt quán.
 
Lịch sử chánh trị Việt Nam xưa nay là lịch sử của biến động, chánh trị của binh đao, máu và nước mắt.
 
Nhứt là khi xuất hiện xứ Đàng Trong, xứ Nam Kỳ thì người Bắc hết còn vai trò “độc quyền” trong chánh trị nữa, sĩ phu Bắc Hà không thể khua môi múa mép nữa.
 
Nam, Bắc, ta có nhiều điều vui và buồn từ ngày đó.
 
Sài Gòn là đô thành, đẹp tuyệt vời, đẹp từ những cái tên đường, từ cách sống của người dân, từ cách cư xử. 
 
Người Miền Nam không bao giờ nhìn họ hàng xa, cũng không bao giờ lấy số đông dòng họ ra "đè" người ta, không cho đồng loại ăn cá rô cây trên tivi hàng đêm.
 
"Cùng nhau đi tới Saigon
Cùng nhau đi tới Saigon
Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do."
 
Xin ghi nhớ  Trần Đại Định, Võ Tánh, Tả Quân Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy, Cha Cả Bá Đa Lộc, Lê Quang Định,Trịnh Hoài Đức, Tôn Thọ Tường, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hui Bon Hoa, Quách Đàm....đã ghi dấu ấn ở đất này!
 
Đất Miền Nam là đất dân chủ, tự do, biết vị nhân tâm, hễ ai theo luật chơi thì cứ ở lại.
 
Ai cũng thương Sài Gòn!
 
Người Miền Mam, người Sài Gòn vẫn giữ giá trị của mình với lòng kiêu hãnh tột cùng. Ba trăm năm trước kiêu hãnh sao giờ vẫn kiêu hãnh y chang như vậy! Ba trăm năm trước có tư thế thinh thang sao thời giờ cũng không thay đổi.
 
Sài Gòn của chúng ta!
 
Lịch sử có lúc này lúc khác, mạnh được yếu thua, có khúc trầm lúc bổng, phước họa, họa phước, ngẫm cũng bình thường.
 
Nhưng khẳng định với mọi người, lịch sử này đã vạch định rặc ròi.
 
Sài Gòn, Nam Kỳ là mảnh đất mở, đất tự do từ khi lập xứ. Thành ra Sài Gòn vẫn mãi mãi là của người  Sài Gòn, người Miền Nam.
 
Chúng ta không bao giờ ngụ cư trên mảnh đất mà chúng ta đã sanh ra, lớn lên và mồ mả ông bà chúng ta vẫn còn đó.
 
Sài Gòn chẳng đi đâu xa, nó còn quanh quẩn đâu đó trong từng ngôi nhà từng xóm làng, trong lòng, trong câu nói chơn chất, trong máu của của từng người dân thương yêu nó.
 
FB Nguyễn Gia Việt

___________________


Đỗ Hứng gởi