VU KHỐNG
Một thời, Thế Tôn đang trú tại thành Sāvatthi, trong vườn Jetavana, khu vườn do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng. Lúc bấy giờ, Thế Tôn được mọi người hết lòng cung kính, tôn trọng, đảnh lễ và cúng dường các vật dụng như y áo, thức ăn, giường nằm và thuốc men trị bệnh. Chư Tỳ-kheo – các đệ tử của Thế Tôn – cũng nhận được sự cung kính và cúng dường như vậy.
Trái lại, các du sĩ ngoại đạo không được ai cung kính, không ai cúng dường cho họ các nhu yếu phẩm như y áo, thức ăn, giường nằm hay thuốc men. Không chịu nổi sự thua thiệt này, họ sinh lòng ganh ghét và tìm cách hãm hại Thế Tôn cùng chư Tăng.
Họ tìm đến một nữ du sĩ tên là Sundarī và nói:
– Này chị, chị có thể làm điều lợi ích cho chúng tôi được chăng?
– Các Tôn giả, con có thể làm gì đây? Nhưng nếu cần hy sinh cả cuộc đời mình vì lợi ích của quý vị, con xin vâng.
– Vậy thì từ nay, chị hãy thường xuyên đi đến Jetavana.
– Vâng, thưa các Tôn giả.
Từ hôm đó, nữ du sĩ Sundarī thường đi đến Jetavana, làm như có chuyện cần thiết. Khi việc này đã được nhiều người biết đến, các du sĩ ngoại đạo sát hại nàng, chôn xác nàng xuống một cái hố gần các mương nước trong khuôn viên Jetavana.
Sau đó, họ đến gặp vua Pasenadi của nước Kosala và tâu rằng:
– Thưa Đại vương, nữ du sĩ Sundarī không còn được thấy nữa.
– Các vị nghi ngờ nàng mất tích ở đâu?
– Tại Jetavana, thưa Đại vương.
– Vậy hãy đến Jetavana mà tìm.
Họ vâng lời, quay lại Jetavana, đào đúng chỗ đã chôn nàng, lấy thi thể đặt lên giường, rồi đi khắp kinh thành Sāvatthi, từ đường lớn đến ngã ba ngã tư, kêu gọi dân chúng phẫn nộ:
– Hãy nhìn xem hành động của các Thích tử kia! Những Sa-môn Thích tử vô liêm sỉ này sống theo tà hạnh, hành xử bất chánh, nói dối, không có phạm hạnh, mà lại tự xưng là chân chánh, sống thanh tịnh, giữ giới, nói lời chân thật! Làm sao họ có thể là Sa-môn hay Bà-la-môn được? Sau khi làm việc xấu xa với nữ nhân kia, họ còn nhẫn tâm giết nàng để che giấu tội lỗi.
Dân chúng trong thành, nghe theo lời xúi giục ấy, khi gặp các Tỳ-kheo thì dùng những lời lẽ ác độc, xúc phạm, mắng nhiếc và vu khống rằng: "Những kẻ vô liêm sỉ! Chính các ông đã giết nữ du sĩ kia!"
Một buổi sáng, sau khi đi khất thực về, một số đông Tỳ-kheo đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ rồi bạch rằng:
– Bạch Thế Tôn, hiện nay dân chúng trong thành Sāvatthi đang sỉ nhục chúng con bằng những lời cay nghiệt. Họ nói rằng chính chúng con là kẻ đã sát hại nữ du sĩ Sundarī.
Thế Tôn ôn tồn dạy:
– Này các Tỳ-kheo, lời đồn ấy sẽ không tồn tại lâu đâu, chỉ kéo dài trong vòng một tuần thôi, rồi sẽ biến mất.
Các thầy nên học thuộc bài kệ này, nếu có ai nói lời vu khống, hãy dùng bài kệ này để đáp lại:
> “Ai nói lời không thật,
Sẽ đọa vào địa ngục.
Ai làm rồi chối bỏ,
Cũng chịu cùng số phận.
Cả hai sau khi chết,
Đồng đọa vào một chỗ.
Đó là hạng người xấu,
Sống theo hạnh đê tiện.”
Các Tỳ-kheo ghi nhớ lời Phật dạy, học thuộc bài kệ. Từ đó, nếu có ai vu khống hay mắng nhiếc, các vị bình tĩnh đáp lại bằng bài kệ ấy. Nghe vậy, nhiều người suy nghĩ lại:
– Thật ra, các Sa-môn Thích tử không làm việc ấy. Họ đã thề nguyền như vậy, lời nói của họ chắc chắn là sự thật.
Và quả đúng như lời Phật, chỉ trong vòng một tuần, lời đồn ác ý ấy đã hoàn toàn biến mất.
Khi ấy, các Tỳ-kheo lại đến đảnh lễ Thế Tôn và hoan hỷ bạch rằng:
– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Lời dạy của Thế Tôn đã hoàn toàn ứng nghiệm. Tiếng đồn ác ấy quả thật đã tan biến trong một tuần, đúng như Thế Tôn đã nói!
Ngay khi ấy, Thế Tôn thốt lên một bài kệ cảm hứng:
> “Người không biết chế ngự,
Buông lời làm tổn thương,
Như voi bị đâm mạnh,
Giữa cuộc chiến dữ dằn.
Khi nghe lời thô ác,
Tỳ-kheo hãy nhẫn nhịn,
Giữ tâm không oán giận,
Không đáp trả bằng lời.”
___________
KINH PHẬT TỰ THUYẾT
Câu chuyện về vụ vu khống nữ du sĩ Sundarī là một minh chứng sâu sắc cho công hạnh và sự chân thật tuyệt đối của Đức Phật. Trước một tai tiếng nặng nề, dù không có bằng chứng gì để tự bào chữa, Ngài vẫn điềm tĩnh, không sân hận, không phản ứng theo cảm xúc – mà chỉ dạy các Tỳ-kheo đối trị bằng chính pháp, bằng trí tuệ và từ tâm.
Sự thấu triệt chân lý và cái nhìn thấu suốt nhân quả của Đức Phật khiến Ngài biết rõ: "Tiếng đồn ấy chỉ tồn tại một tuần, rồi sẽ tan biến." Đó không phải là lời an ủi, mà là sự thật được thấy rõ bởi trí tuệ giác ngộ.
Trong cơn sóng dữ của gièm pha, Đức Phật không đánh mất lòng từ, không cần chứng minh, không cần trả đũa. Ngài giữ vững đạo hạnh và dạy chư Tăng cũng làm như vậy – lấy nhẫn nhục và chân thật làm áo giáp, lấy giới đức làm ngọn đèn soi sáng giữa u minh.
Chính vì vậy, ngàn đời sau, chúng ta vẫn cúi đầu đảnh lễ Ngài – không chỉ vì Ngài là bậc toàn giác, mà còn vì trong những thời khắc đen tối nhất, Ngài vẫn không rời ánh sáng của Chánh pháp. Đức Phật là hiện thân sống động của chân thật, từ bi, trí tuệ và bất động trước thị phi – là điểm tựa không thể lay chuyển cho muôn loài đang trôi lăn giữa biển đời nhiều dối trá.
_________________
Hoang Nguyen goi
