Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh

 
Vua Thiệu Trị

Vua Thiệu Trị (1807 – 1847) tên huý là Nguyễn Phúc Dung, sau khi vua Minh Mạng lập ra bài Đế hệ thi thì ông được đổi tên thành Miên Tông, khi lên ngôi lại đổi thành Nguyễn Phúc Tuyền, là vị hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn nước Đại Nam trong lịch sử Việt Nam. Ông kế vị vua cha là Minh Mạng, trị vì từ năm 1841 đến khi qua đời, tổng cộng gần 7 năm. Khác với sự quyết liệt của vua cha Minh Mạng, Thiệu Trị hiện lên trong sử sách là một bậc quân vương ôn hòa, cần mẫn và yêu chuộng thi ca. Tuy nhiên, triều đại của ông lại nằm ở điểm giao giữa thời kỳ cực thịnh và những dấu hiệu suy tàn đầu tiên của chế độ phong kiến trước áp lực phương Tây.

Phần nhiều sử sách nhận định vua Thiệu Trị là một người hiền hòa, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi định chế pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địa và binh bị đều được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị chỉ áp dụng theo các định lệ của vua cha, và những cuộc chiến tranh, nổi dậy thời Thiệu Trị cũng đa phần là do hậu quả từ thời vua Minh Mạng để lại.

Vua Thiệu Trị là người sống tiết kiệm, không thích xây dựng cung điện lộng lẫy để tránh tốn kém sức dân. Ông cũng nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là 2 bài thơ chữ Hán có tên là Vũ Trung Sơn Thủy (Cảnh trong mưa) và Phước Viên Văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên). Cả hai bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có một số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một "trận đồ bát quái", vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ trong đó. Hiện nay các nhà ngôn ngữ, học giả đã tìm ra được 128 cách đọc.

Dù có xu hướng bảo thủ, tiếp nối chính sách "bế quan tỏa cảng" của tiền nhân, nhưng ông cũng có những nỗ lực cải tổ bộ máy hành chính, giảm thuế và đặc biệt là sự quan tâm đến việc đê điều, nông nghiệp.

Dưới thời Thiệu Trị, bản đồ Đại Nam chứng kiến sự thay đổi quan trọng, đặc biệt là ở phía Tây. Nếu thời Minh Mạng là giai đoạn bành trướng mạnh mẽ, thì thời Thiệu Trị lại là sự rút lui chủ động.

• Tại Chân Lạp (Campuchia): Sau nhiều năm can thiệp quân sự tốn kém nhưng không mang lại ổn định, vua Thiệu Trị đã quyết định rút quân, bãi bỏ Trấn Tây Thành. Ông chọn cách thiết lập mối quan hệ bảo hộ mềm mỏng hơn thay vì cai trị trực tiếp, nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách và binh đao.
• Tại vùng biên giới: Lãnh thổ Đại Nam lúc này về cơ bản vẫn giữ được sự toàn vẹn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, nhưng bắt đầu xuất hiện những bất ổn tại các vùng xa xôi do sự xâm nhập của các giáo sĩ phương Tây và sự quấy rối của hải tặc.

Sự kiện đáng chú ý nhất về mặt ngoại giao và quân sự chính là trận Đà Nẵng năm 1847. Tàu chiến Pháp đã nã pháo tiêu diệt hạm đội của triều đình ngay tại cảng Đà Nẵng. Đây là hồi chuông cảnh báo cho sự lạc hậu về kỹ thuật quân sự của Đại Nam trước sức mạnh hỏa lực phương Tây – điều mà vua Thiệu Trị dù nhận thức được nhưng chưa kịp có giải pháp thay đổi triệt để trước khi băng hà.

Theo Đại Nam thực lục: Đinh Mùi, Thiệu Trị năm thứ 7 [1847], mùa xuân, tháng 2 (âm lịch), có 2 chiếc quân thuyền của nước Phật Lan Tây [Pháp] đậu ở cửa biển Đà Nẵng, cầm đầu bởi Lạp Biệt Nhĩ [Đại tá Augustin de Lapierre] và Charles Rigault de Genouilly. Tham tri bộ Lễ là Lý Văn Phức không chịu nhận thư thương nghị, về Huế xin chỉ dụ. Có 5 chiếc thuyền đồng của quân Nguyễn bị kẹt lại trong cửa biển. Triều đình Thiệu Trị sai quân và 4 chiếc thuyền đồng đến làm kế đánh phá. Tháng 3 (âm lịch), quân Phật Lan Tây phát hiện âm mưu, liền ra tay đánh trước, làm chìm 5 thuyền đồng của quân Nguyễn, giết 40 người, làm bị thương hơn 90 người và 104 người bị mất tích. Thuyền Phật Lan Tây hôm sau bỏ đi, không bị truy đuổi. Đáng lưu ý, triều đình nhà Nguyễn không biết nước Phật Lan Tây là nước nào. Nước Pháp từ trước đến giờ chỉ được hiểu là nước Phú Lãng Sa. Do đó, bên cạnh việc ra lệnh tiếp tục cấm đạo Thiên chúa, triều đình cũng cấm tàu của nước Phật Lan Tây cập cảng (các nước Tây dương khác, kể cả Phú Lãng Sa, không bị ảnh hưởng). Ngoài ra, không có chỉ dụ nào về việc xử tử tất cả người theo đạo Thiên chúa đang bị giam giữ để trả đũa…

Một vài tháng sau vua Thiệu Trị lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi, tức 4 tháng 11 năm 1847, hưởng thọ 41.
Vua Thiệu Trị có tất cả 64 người con, gồm 29 hoàng tử và 35 công chúa.

Triều đại Thiệu Trị là một nốt lặng đầy suy tư của lịch sử. Lãnh thổ tuy ổn định nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Ông qua đời năm 1847, để lại cho người con là vua Tự Đức một cơ đồ vẹn toàn nhưng đang đứng trước cơn bão táp của chủ nghĩa thực dân phương Tây sắp ập đến.


_________________


Tien Tran gơi