Danh sách tư liệu
TÌM KIẾM
Giới thiệu kinh




 
XẾ CHIỀU 
 

Trong căn phòng trọ ọp ẹp, bóng chiều chếch phía Tây, sau lều, tia nắng xuyên qua hàng cau, đủ độ sáng để Tuấn nhướng mắt sau cặp kính lão, tỉ mỉ thầm đọc từng chữ trên bì thư “thiệp cưới”.

Vu Lan, lại là mùa Vu Lan, thuở bé thoát ly gia đình lưu lạc vào Nam cũng mùa Vu Lan. Xe nghỉ tại bến Nha Trang để sáng mai tiếp tục lăn bánh vào Nam. Thời chiến, xe chạy đường dài từ miền Trung vào Sài gòn cũng phải dừng chân đâu đó, không xe nào được chạy đêm. Tuấn say mê lạ lẫm nhìn chư Tăng và Phật tử chắp tay niệm Phật đi vòng quanh chính điện, bên ngoài cổng biểu ngữ với bốn chữ - "KÍNH MỪNG VU LAN”, của ngôi chùa gần bến xe.

Bỡ ngỡ trước cuộc sống nhộn nhịp của người dân đô thị, đèn sáng choang, xe cộ tấp nập. Tuấn hồi tưởng lại quê nhà, lưa thưa vài cổ xe hơi cũ kỹ, xe đạp là phương tiện đi lại; thỉnh thoảng vài chiếc xe mobilet của con nhà khá giả phe phẩy tà áo dài trắng đến trường. Các bà buôn thúng bán bưng từ tốn trong chiếc áo dài truyền thống, cũ kỷ, thong dong ngồi nhóp nhép miếng trầu, vệt nước đỏ chảy dài theo nếp nhăn hai bên mép. Sinh hoạt quê nghèo như thiếu sức sống, lờ đờ như giòng sông trong veo thấy tận đáy.

***

Thiệp gì mà giấy thơm ghê, sang trọng quá, chả lẽ hai đứa nhỏ tự động tổ chức mà không cho mình biết; tiền đâu chúng nó làm? Nó sợ mình tốn kém nên không thông báo – Thầm nghĩ, Tuấn mân mê tấm thiệp như sợ rơi rớt từng con chữ.

Ông trời trớ trêu, đẩy hai cha con vào cảnh khốn cùng trước đây, để rồi giờ này... Tuấn nhớ lại ngày vào Nam – những ngày tháng, Tuấn nhặt nhạnh đồ thừa nơi đống rác của một căn cứ lính Mỹ, đôi khi được những mẩu bánh của dân thị thành vứt bỏ bên gốc cây. Tắm giặt nơi vòi nước công cộng, tối ngã lưng dưới gầm cầu Công Lý.

Năm 1975, chiến dịch thu gom người ăn xin, kẻ lang thang đường phố, Tuấn bị đưa vào trại tập trung. Khi xã hội được ổn định, Tuấn ra trại với tấm giấy buộc về kinh tế mới. Trên vùng đất xa lạ, Tuấn gặp phải một thiếu phụ, từ thành phố bị cưỡng bức lên rừng khai phá; đồng cảnh ngộ, họ đến với nhau bằng con tim đơn độc.

Không lâu sau, người vợ bị sốt rét cấp tính, qua đời, để lại cho Tuấn cháu bé lên ba. Hai cha con bỏ rừng rẫy về lại phố thị. Cơm thừa canh cặn nơi thị thành đã nuôi hai cha con. Con lớn như thổi, biết phụ cha nhặt nhạnh ve chai, phế liệu. Con vào trường trong hoàn cảnh túng quẩn mọi bề, cha già vay mượn chủ vựa cho con ăn học. Không bao lâu, Tuấn học lóm được nghề sửa khóa thủ công.

- Ba, con vừa tốt nghiệp cấp ba, biết gia cảnh mình nghèo lắm, nhưng xin ba cho con tiếp tục học, con sẽ kiếm việc làm để đóng tiền học.

Nghe con nói, vừa mừng vừa lo, thằng bé hiếu học, mình đã dốt, chả lẽ để con tiếp nối cuộc sống lây lất bữa đói bữa no như mình, Tuấn quyết định – Con cứ học, bằng mọi cách ba sẽ lo cho con thành đạt.

Tuấn bấm bụng bán căn nhà nhỏ vừa tậu được vài năm trước để cha con đụt mưa tránh nắng, giờ tiếp tục làm kẻ không nhà, để lo cho con có con chữ như người ta.

- Ba bán nhà rồi mình ở đâu, chả lẽ lại ngủ gầm cầu?
- Mình sẽ thuê phòng trọ, con cứ việc học, mọi sự để ba lo.

Tuấn kiếm thêm mối chở sách cho cửa hàng, vài khách hàng quen ra chợ, đón mấy cô vũ nữ về khuya.

***

Hai năm sau, Tuấn nhận tin báo của con có được học bổng của Học viện Công nghệ Massachusetts, chuyên ngành lập trình phần mềm tin học. Tuấn rơm rớm nước mắt, vừa mừng vừa tủi cho con sanh nhằm kiếp nghèo.

Hơn 20 năm đội nắng dầm mưa, thoáng mà con chuẩn bị bước vào đời; Tuấn nhận thư của con vài tháng một lần.

- Ba, đây là bạn gái con quen cùng trường, ba xem được không, tính tình thuần hậu nhưng đôi khi bướng.
- Con muốn thì ba chiều, hãy xét nét cho kỹ, chuyện vợ chồng không phải ngày một ngày hai đâu con. Hãy đợi ra trường hẳn tính việc vợ con, nhà mình nghèo lấy đâu ra tiền làm cưới?

Một lần, con gửi về tấm ảnh hai trẻ chụp chung, Tuấn nhìn mãi không chán, con lớn thấy rõ, bé gái cũng xinh, xứng với con lắm. Tuấn mừng thầm hãnh diện, đem ảnh khoe với bạn.

- Sao ba đưa ảnh tụi con lên face mà không hỏi ý kiến tụi con? Bạn gái con phiền lắm, yêu cầu ba gỡ xuống.
- Ba có biết face là gì, đưa ông bạn ba xem, ông ta thấy hai đứa dễ thương, đưa lên cho vui thôi.

Tuấn thầm nghĩ, bọn trẻ bây giờ quyền hành hơn cha mẹ, trách móc cha mẹ. Tại sao phải xin phép ý kiến chúng nó mới được đưa lên face! Xứ người văn hóa ứng xử có khác. Nỗi buồn thầm lén xuyên vào tâm mà lâu nay Tuấn luôn dành mọi tình cảm cho con. Chưa bao giờ con dám có lời trách móc ba, xã hội phương Tây giáo dục là thế? Trên 18 tuổi là đủ mọi quyền công dân?

- Ba khỏi phải lo chi phí cưới hỏi, nhà bạn con sung túc lắm.
- Con nói thế chứ chả lẽ mình không đóng góp gì sao!

Lo, mừng, buồn, vui lẫn lộn. Ngồi trên xe chở hàng về ngoại ô mà người cảm thấy bay bổng giữa mênh mông đất trời. Về đến phòng trọ, Tuấn nhận tấm thiệp từ chủ nhà, màu hồng dịu thơm mùi phấn hoa; lẩm nhẩm đọc từng giòng chữ trên tấm thiếp. “Quý Nam và Ái Nữ – Ui chao, cái từ nghe lạ quá, từ thuở cha sanh mẹ đẻ đến nay chưa từng nghe ai sử dụng từ đẹp như thế. Quý nam phải chăng chỉ cho con trai độc nhất, ái nữ cũng vậy sao! Bà ở nơi chín suối có chứng giám cho con trai mình nay đã trưởng thành, bà độ trì cho hai đứa nhỏ an lành hạnh phúc. Bà ra đi để lại gánh nặng cho cha con tôi, giờ đây nó đã trưởng thành, ra trường đời, tuy tôi nhẹ gánh phần nào, nhưng con mình còn đối diện bao khó khăn trong cuộc sống.

- Ba, chuẩn bị qua nước ngoài dự lễ cưới của con, ba phải đi khám sức khỏe; bệnh đau nhức của ba do tai nạn nghề nghiệp và dầm mưa giải nắng quá lâu, phải chữa, đừng để qua đây làm khổ tụi con…

Đọc đến những lời này, khóe mắt Tuấn thấy cay xót. "Đừng để qua đây làm khổ tụi con”. Chao ôi, tao có muốn đến xứ lạ đâu, chưa chi mầy đã có lời lẽ như vậy, cả đời cha mầy vất vả vì mầy chưa hề than thở, mà mầy đã sợ làm khổ chúng mầy là sao? Tụi nhỏ ảnh hưởng nếp sống thực dụng, ăn nói thẳng thừng không phải như dân quê mình ý tứ xét nét từng lời trước khi nói. Tâm chúng nó không có ý xấu hay xem thường mình đâu, có lẽ con bị nhiều áp lực trong cuộc sống xứ người, Tuấn thầm tự an ủi.

- Tụi con cứ việc tổ chức lễ thành hôn, ba không đủ điều kiện để đi, vả lại tiếng Tây tiếng U ba không rành, đến xứ lạ có khi phải lạc. Con cứ xem như không có ba cũng như ba xuất thân vô gia cư vậy.

Những mẩu chuyện Tuấn đọc trên báo, thầm buồn tuổi già trên đất khách, không vào dưỡng lão cũng bị dâu con hất hủi; không hất hủi cũng khó chịu. Người già trong nhà trở thành vướng víu cho bọn trẻ. Bà Bảy ở Maryland, từ ngày vượt biên, làm một ngày mấy jobs, nuôi con ăn học. Sau khi con ra trường, có công ăn việc làm, dựng vợ gả chồng, 5 đứa thành đạt, không đứa nào ngó ngàng tời mẹ già. Tiền trợ cấp chính phủ tuy đủ sống nhưng tình cảm gia đình không như còn ở quê nhà. Vài năm sau bà trở lại quê hương.

- Con, bao năm khó nhọc, ba lo cho con thành tài, con hãy sống với vợ con, để ba an phận, xem như bổn phận của ba đối với con theo lời trăn trối của mẹ, ba đã hoàn thành.
- Sao ba nói vậy, bây giờ con có bổn phận phải lo lại cho ba hết tuổi già.

- Con nói là do lòng hiếu thảo của con, cuộc sống thực dụng nơi xứ người không như quê mình. Tụi con đi làm cả ngày, ba trở thành osin, quản gia cho chúng mày. Già không đủ sức tự lo, con phải đưa ba vào trại dưỡng lão. Hàng ngày giam mình trong bốn bức tường lặng câm, chán rồi nhìn những bạn già móm mém xa lạ. Chi bằng để ba ở lại quê nhà, tuy không có bà con ruột thịt cũng còn hàng xóm quen thân. Tập quán, nếp sống mọi thứ đều xa lạ. Tất cả đều không thích hợp với tuổi già như ba, cuộc sống xứ người khác nào là lối tra tấn đối với kẻ quê mùa dốt nát...
 
***
 
Tiếng chuông chùa báo hiệu thời công phu chiều, người người tấp nập đến chùa tụng kinh Vu Lan nhân mùa báo hiếu. Tuấn gấp thiệp cưới để dưới gối, một ngày lao động vất vả, nhắm mắt đưa hồn vào cõi mông lung.
 
MINH MẪN
04/7/2018